Lý thuyết trò chơi - kinh nghiệm và giải pháp cho các doanh nghiệp Việt Nam trong quá trình hội nhập kinh tế quốc tế - Pdf 11


TRƯỜNG
ĐẠI
HỌC
NGOẠI
THƯƠNG
KHOA KINH TÊ NGOẠI THƯƠNG
FOREIGN
TRÍ!DE
UNIVERSITT
KHOA
LUẬN TỐT NGHIỆP
Đề tài
Lý THUVỂT TRÒ CHƠI - KINH NGHlệm VÀ GIẢI PHIÍP
CHO CÁC DOANH NGHIỆP Vlậ NAM TRONG Quá TRÌNH
HỘI NHỘP KINH Tễ ọuốc Tễ'
Sinh
viên
thực
hiện
:

THANH
LUYẾN
Lớp : NHẬT 3 - F- KHOA 40 - HÀ NỘI
Giáo viên hướng dẫn : THS. NGUYỄN THỊ TƯỜNG ANH
THU" VI •:• N Ị
Ì (UÒ»G
C I
1
-OI.

4
2. Vai trò của lý thuyết trò
chơi
trong kinh tẽ
4
3.
Bài toán
kinh
điển:
"Thếnan
giải
của
những
người
bị
giam
giữ"
7
4.
Chiến
lược
trội
ngặt
hay
chiến
lược
có ảnh
hưởng
chi
phối

1.1 Tác
động tích
cục của
cạnh tranh
đối với các
doanh nghiệp 16
1.2 Tác
động
phi
tích
cực của
cạnh tranh
với
doanh nghiệp
17
2.
Hợp
tác
18
2.1 Tác
động
tích
cực của hợp tác đối
với doanh nghiệp
19
2.2 Tác
động
phi
tích
cực của họp tác đối với

quyền
nhóm và
việc
áp
dụng
lý thuyết trò
chơi
23
4.1
Khái niệm
về độc
quyền
nhóm
23
4.1.1
Khái niệm
23
4.1.2
Nguồn
gốc của độc
quyền
nhóm
23
4.2
Đặc
điểm
của độc
quyền
nhóm
24

29
2.1.1 Giới thiệu chung về
OPEC
29
2.1.2
OPEC
- người lãnh
đạo
giá
cả 29
2.1.3 Sức
mạnh
của hợp tác
32
2.2
Mạng
lưới cung cấp dịch vụ di động tại thị trường Việt
Nam
37
2.2.1 Tình huống
37
2.2.2
Phân
tích các chiến lược
38
2.2.3 Kết quả thực tế.
40
3.
Bài học rút
ra

hữu lý của điều vô lý
47
2.2.1 Tiếp cận thị trường
47
2.2.2
Sự
hữu lý của điều vô lý
48
2.2.3 Kết quả
52
3.
Bài học rút
ra
52
ra.
LựI
THẾ
CỦA
NGƯỜI HÀNH
ĐỘNG
TRƯỚC
53
1.
Lợi
thế
trong
trò chơi
lựa
chọn
một

2.1.1
Sử
dụng
một
công nghệ bảo vệ
tính
bảo mật
cho
sản
phẩm
55
2.1.2
Đăng

thương hiệu
55
2.2
Biện pháp
duy
trì
lợi
thế khi
việc
bắt
chước
đã
xảy ra
56
3.
Omo

Mặc
cả
trong
trò chơi không
họp
tác
61
2.
Mặc
cả
trong
trò chơi
hợp
tác
63
2.1
Tình huống
63
2.2
Các
biện
pháp
chiến lược
64
2.2.1
Thông qua
ngưứi
thứ
ba
65

GIẢI PHÁP
CHO DOANH
NGHIỆP
VỆT
NAM
TRONG
QUÁ
TRÌNH
HỘI
NHẬP
KINH TÊ QUỐC
TẾ
69
ì.
NẾN KINH TẾ
VIỆT
NAM
VỚI HỘI
NHẬP
KINH
TẾ
QUỐC
TẾ 69
1.
Xu
thê
hội
nhập
kinh
tê quức tê ngày

tế
70
3.1
Cữ
hội
của
Việt
Nam
khi tham
gia
hội nhập
70
3.2
Những thách thức cho
Việt
Nam
trong
tiến
trình
hội nhập
71
4.
Doanh
nghiệp
Việt
Nam
với
quá
trình
hội

NGHIỆP
VIỆT
NAM
TRONG
QUÁ TRÌNH HỘI
NHẬP
KINH
TẾ
QUỐC
TẾ
74
1.
Đối
với
các
doanh
nghiệp
lớn
75
1.1
Đối
với
các doanh nghiệp độc quyền
75
1.2
Đối
VỚI
các doanh nghiệp
lớn
khác

2.3 Giãi
pháp
cho
người
đi
sau
81
2.3.1 Lợi
thế
giá thấp
82
2.3.2
Tạo
ra hoặc tăng thêm giá trị gia tăng của sản
phẩm
82
2.3.3
Phân
đoạn thị trưởng sản
phẩm
83
2.3.4
Các
dịch vụ khuyến mãi đi
kèm
83
2.3.5
Đi
trước mt bước
84

87
3.2.5 Xay dựng chiến lược hi nhập
88
KỂTLHậH
90

Thanh Luyến - Nhật
3-K40F-KTNT
Khoa luận
tốt
nghiệp
LỜI
RỐI Báa
l.Tính cấp thiết của đề tài
Hội
nhập
kinh tế
quốc tế -
xu
thế
chung
của
thời
dại
- đòi
hỏi
các
quốc
gia phải
không

Việt
Nam vẫn
tiếp
tục
đẩy
mạnh
hợp
tác, tham gia
các tổ
chức
trong
khu
vực,
trải
qua các vòng đàm phán để
tiến
tới
gia nhập
tổ
chức
thương mại
thế
giới.
Cùng
với nhụng
nỗ
lực
của nhà
nước,
các

nhụng
hiểu
biết
chung
về
thị
trường
thế
giới
cũng
như
tiếp
cận
dần
với
nhụng
hình
thức
kinh
doanh mới.

thuyết
trò
chơi

một phương pháp phân tích tình
huống
và đưa
ra
các

hết
các
lĩnh
vực xã
hội,
từ quân
sự,
an
ninh,
chính
trị,
luât,

trong kinh
tế,

thuyết
trò chơi đã
thu
hút sự
tham
gia
nghiên cứu tìm tòi của
nhiều
nhà học
giả,
nhà
kinh tế.
Thế
giới

nhận
giải
thưởng
cao
quý
đó.
Và một
diều
đáng
mừng
đã
xảy
ra
sau
khi
em
chọn
đề tài
là:
một sự
kiện
gây xôn xao
trong
giới
kinh tế khi
giải
Nobel
2005
lại tiếp
tục

nghiệp
xoay
quanh xung
đột
và hợp
tác,
đặc
biệt

tranh
chấp
giá cả và
chiến tranh
thương
mại.
Ngay các vị giám
khảo
của
Viện
Hàn lâm Hoàng
gia
Thúy
Điển cũng nhận
định:

thuyết
trò
chơi
sau
khi

tối
cần
thiết
để có được
nhẻng
chiến
lược
kinh
doanh
tối
ưu.
Với
mong muốn tìm
hiểu
rõ hơn lý
thuyết
trò chơi là gì? Nó được
ứng dụng ra
sao mà các
doanh
nghiệp
lại
đề cao
vai
trò
trong
định
hướng
chiến
lược như

nghiệp
Việt
Nam
trong
quá
trình
hội nhập kinh tế quốc

"
cho khoa
luận
tốt
nghiệp
của
mình.
2. Mục đích của khoa
luận

thuyết
trò
chơi ngày càng có
vai
trò
quan
trọng trong kinh
tế.
Qua
khoa
luận
này,

trường
trang bị,
mạnh
dạn đưa
ra
một số
giải
pháp cho các
doanh
nghiệp
trong
thực
tiễn
kinh
doanh

chuẩn
bị cho quá trình
hội
nhập
kinh tế với
khu
vực

thế
giới.
3. Phương pháp nghiên cứu
Để
thực
hiện

và ngoài
nước.
Khoa
luận
cũng
vận
dụng
các
quan
điểm,
đường
lối,
chính sách về phát
triển
kinh tế

hội
nhập
của
Đảng
và Nhà nước để làm cơ sở
vẻng chắc
cho
việc
phân tích và đề
ra
các
giải
pháp.
Lý Thanh Luyến

thuyết
trò
chơi
Chương
li:
Một số ứng dụng

thuyết
trò
chơi trong
kinh

Chương IU: Kinh nghiệm và
giải
pháp cho các doanh nghiệp
Việt
Nam
trong
quá
trình
hội nhập kinh tế quốc tế
Trong
quá trình
thực
hiện,
em đã cố
gắng
tìm
hiểu
tài

cô và các bạn
sinh
viên
quan
tâm, thông cảm và góp ý để
khoa
luận
của
em hoàn
thiện
hơn.
Qua
đây,
em
xin
cảm ơn nhà trường và
khoa
kinh tế
ngoại
thương đã
gợi
ý cho em đề
tài
hay
cũng
như
tạo
điều
kiện
cho em

bảo và
dộng
viên của cô là
nguồn
động
lực lớn lao
giúp em hoàn thành
khoa
luận
này.
Em
xin
chân thành cám ơn!
Hà Nội, tháng 11 năm 2005.

Thanh Luyến - Nhật 3-K40F-KTNT
3
Khoa
luận
tốt
nghiệp
CHƯƠNG
1.
KHÁI QUÁT VỀ LÝ
THUYẾT
TRÒ CHƠI
L LÝ THUYẾT TRÒ CHƠI
1.
Lược sử về lý
thuyết

biết
như
lý thuyết trò
chơi,
người
Anh đã có
thể
bắn trúng
nhiều
tàu ngầm của
đễch
hơn. Như
vậy,
chính nhu cẩu
thực
tiễn
đã cho
ra dời

thuyết
trò
chơi.
Tiếp đó,

thuyết
trò chơi
lại tiếp
tục
dược
áp

vi kinh tế".
Cuốn
sách đã đề cập đến "Thế nan
giải
của
hai
nguôi tù" và
lần
đầu tiên
"bài toán
trò
chơi
với
n
người"
được trình bày một cách rõ ràng về mật toán
học.
Cuốn sách
ngay
từ khi
mới
ra đời
đã được xem như một công trình
khoa
học
xuất sắc,
một thành
tựu
khoa
học vĩ đại của thế

nhất:
Phải
nói
rằng

thuyết
trò chơi
cung
cấp
cơ sở toán học,
phương pháp phân tích để nghiên cứu sự tương tác
giữa
con nguôi
trong đời
sống
kinh
tế,
chính
trễ-xã hội từ
quan
điểm
những
tiềm
năng
chiến
lược của
cá nhân và các nhóm.

ràng,
"trò

mô hình toán
học.
Việc
xây
dựng
mô hình toán học
cho
các quá trình
kinh tế
không chỉ có ý
nghĩa
về mặt lý
thuyết,
mà lý
thuyết trò
chơi còn được áp
dụng
thực
hành
nhiều
trong
cả
sản
xuất
lẫn kinh
doanh
và dem
lại
nhiều
hiệu

mô hình toán
trong

thuyết
trò chơi để đề cập một cách tường
minh
tới
quá trình thương lượng
hoặc
tác động qua
lại
giữa
con
người
với
con
người
trong
cuộc
sống.
- Thứ
hai:

thuyết trò
chơi
tập trung
vào
vấn
đề gây
nhiều

thể
đưa
ra
những
quyết
định
đúng.
Rồi
cũng

nhiều
cuốn
sách giá
trị
hướng dẫn làm
thế
nào để xây
dựng
các
tổ
chức
một cách
hiệu
quả nhờm
thực
hiện
các
quyết
định đã đưa
ra.

gì trên
quan
điểm
về
chiến
lược.
Như chúng
ta
biết,
trong
quá trình
tiến
hành làm
kinh
tế,
các
doanh
nghiệp
luôn
phải
phân tích
các yếu
tố
về môi trường
cũng
như
đối thủ
cạnh
tranh
để đưa ra

trường này và
cạnh
tranh với
nhau
một
cách gay
gắt
trên
những
thị
trường khác? Một
số
hãng
xoay
sở như
thế
nào để ngăn
chặn
những
đối thủ
cạnh
tranh tiềm
tàng của họ đi vào
trong
doanh
trường? Các hãng
phải
tiến
hành định giá
ra

những
câu
hỏi
này,
doanh
nghiệp
phải
thu
thập
thông
tin,
đánh giá phân tích tình hình. Và lý
thuyết
trò chơi là một
trong
số
ít
các phương pháp hữu
hiệu
giúp
doanh
nghiệp
đưa
ra
các
chiến
lược

lựa
chọn

xuyên tác động
tới
hoạt
động
của
doanh
nghiệp,
trong
đó không
ít
yếu
tố
khó đoán
biết
trước
được.
Thậm
chí
ngay
cả
trong
trường hợp có
nhiều
yếu
tố
liên hệ tương tác qua
lại
lẫn
nhau
và cả

Giữa
sự
phức
tạp
của
các yếu
tố
như
vậy,

thuyết
trò chơi có khả năng bóc tách vấn đề thành
các
phần
chủ
yếu,
giúp
ta thấy

điều
gì đang xảy
ra

cần
hành động như
thế
nào.
Hơn
nữa,
khi

thuyết
trò chơi sẽ đảm bảo sự
nhất
trí
giữa
các bên để
đạt
tới
kết
quả có
lợi
nhất
cho các bên mà
trong

thuyết
trò
chơi
gọi
đó

cùng
thắng
hay
"win-win".
- Thứ
tư:
Trong
thời
đại

tin
chiến
lược
phản
hồi.
Việc
ra
quyết
định
cũng
trở
nên
phức
tạp

phân tán hơn. Do đó,
việc chia
sẻ suy
nghĩ
chiến
lược cần
phải

trong
hoạt
động
kinh
doanh
ở mọi
nơi.

các
điều
kiện
xung quanh
thay đổi.
Tức là lý
thuyết
trò chơi chính là cách

Thanh Luyến - Nhật 3-K40F-KTNT
6
Khoa
luận
tốt
nghiệp
suy
nghĩ

thể tồn
tại trong
các môi trường
kinh
doanh
đang
biến
đổi
không
ngừng.
3.
Bài toán

tác.
Trò chơi sẽ là hợp tác
khi
những người
chơi có
thể
thương
lượng
những
hợp đồng ràng
buộc
khiến
họ có
thể
hoạch
định
những
chiến
lược
chung.

dụ,
việc
mặc cả giá của một sản phậm nào đó
giữa
người
mua và
người
bán. Nếu
tổng chi

mua và
lợi
nhuận
cho
người
bán. Kết quả là cả
hai
đều có một
khoản
dư dôi
ra
so
với
dự tính.
Trò chơi sẽ

không hợp tác nếu
việc
thương
lượng

thực hiện
một
hợp
đồng ràng
buộc là
không
thể
có.


nhau
cơ bản
giữa
trò
chơi hợp tác và trò chơi không hợp tác

việc giữa hai
bên có hợp đồng ràng
buộc
hay không.
Trong
khuôn khổ cho phép,
luận
văn này sẽ
tập
trung
chủ yếu vào
phần
các trò chơi không hợp tác và
chỉ
dề cập
tới
một ứng
dụng
khá phổ
biến
của trò
chơi hợp tác
trong kinh tế kinh
doanh.

thuyết
trò
chơi đều
nghĩ
tới
dầu
tiên.
Đúng như tên
gọi,
bài toán
dặt ra
một tình
thế
khó xử
giữa hai
người tù: Hai người
bị
bắt
vì bị cho là dính líu vào một
tội

Thanh Luyến
-
Nhật
3-K40F-KTNT
7
Khoa
luận
tốt
nghiệp

người

ngoan
cố
kia
sẽ
phải ngồi
tù 10 năm. Nếu cả
hai
cùng thú
tội,
thì
cả
hai
sẽ được
hưởng
một
sự
khoan
hồng
nhất
định là mới
người
sẽ
nhận
5 năm
tù.
Cuối
cùng, nếu không
ai

sự
lựa
chọn

thú
tội
hoặc
không thú
tội,
do đó sẽ
có bốn
chiến
lược có
thể
xảy
ra
là:
- Tù nhân Ì thú
tội,
tù nhân 2 thú
tội
-> tù nhân
Ì:
5 năm tù
;
tù nhân
2:
5 năm

- Tù nhân Ì thú

Để
thấy
rõ hơn các
chiến
lược,
ta biểu diễn
theo
như ma
trận
sau:
Tù nhân 2
Tù nhân 1
Thú
tội
Không thú
tội
Tù nhân 1 Thú
tội
-5
;
-5
-1;
-lũ
Tù nhân 1
Không thú
tội
-10;
-1
-2
;

kết
quả mang dấu âm.
Trên
thực
tế,
kết
quả
nhận
dược

cả
hai
đều thú
tội,
tức là
chiến
lược
(thú
tội;
thú
tội)
dược
lựa
chọn.
Và về mặt lý
thuyết
cũng

thể thấy
(thú

hai
đều không thú
tội

kết
quả
tốt
nhất
cho
cả
hai
người.
Nhưng
chuyỏn
gì sẽ xảy
ra
khi
chỉ
có một
người
thú
tội?

ràng
khi
đó một
người
sẽ được
lợi
chỉ bị

Vì lý do đó mà bài toán
"thế
nan
giải
của
những
người
bị
giam
giữ"
được xem là
thí
dụ mẫu
của
hành
vi
có lý
trí,

lợi
nhưng không
dẫn
tới
một
kết
quả
tối
ưu xã
hội.
4. Chiến

kể
người
kia
làm
gì.

trong

thuyết
trò chơi
người ta gọi
đó là
chiến
lược
trội
ngặt
hay
một
số
giáo trình
gọi
đó

chiến
lược có ảnh hưởng
chi
phối.
Vậy
chiến
lược

Một số
chiến
lược có
thể
thành công nếu
đối thủ
cạnh
tranh

những
sự
lựa
chọn
nào
dó,
nhưng sẽ
thất
bại
nếu họ có
những
sự
lựa
chọn
khác.
Tuy
nhiên,
nhiều chiến
lược
lại


chơi
bất
kể
đối
phương làm gì.
Lý Thanh Luyến
-
Nhật 3-K40F-KTNT
9
Khoa luận
tốt
nghiệp
Để hiểu
rõ hơn khái
niệm
này, ta
cùng xem
thí
dụ
sau:
Hai
hãng A và B đang bán
những
sản phẩm có sức
cạnh
tranh với
nhau
và đang xem xét có nên
tiến
hành các

Hãng A Quảng cáo
10;
5
15
;0
Không
quảng
cáo 6; 8
10;
2
Trong
mỗi ô
chiến
lược,
số đứng trước là
lợi
nhuấn
thu
được của
hãng A;
số
đứng
sau là
lợi
nhuấn
thu
được
của
hãng B.
Trong

nhuấn
thu
được nhờ
quảng
cáo
vẫn lớn
hơn
lợi
nhuấn
khi
không
quảng
cáo
(lo
>
6);
nếu hãng B
không
quảng
cáo
thì
hãng A
sẽ thu
được
tới
15 nếu nó
quảng
cáo và
chỉ thu
được

tất
cả
người
chơi đều
phải

kiến
thức
chung,
tức là
mọi
người
chơi đều có lý
trí

biết
rằng
đối thủ
khác
cũng
có lý
trí.
Lý Thanh Luyến
-
Nhật 3-K40F-KTNT
10
Khoa luận
tốt
nghiệp
+ Không

hãng cùng không
quảng
cáo
thì
hãng A sẽ có
lợi
nhuận

20,
còn hãng
B có
lợi
nhuận

2.
Do vậy ma
trận
sẽ
trở
thành:
HãngB
Hãng A
Quảng cáo
Không
quảng
cáo
Hãng A
Quảng cáo
10;
5

hãng A làm
việc
tốt
nhất
cho mình là
quảng
cáo,
nhưng nếu
hãng B không
quảng
cáo thì
việc tốt nhất
hãng A nên làm
cũng
là không
quảng
cáo.
Nếu
hai
hãng cùng
phải ra quyết
định đồng
thời,
vấn đề
đặt ra

hãng A
sẽ quyết
định như
thế

ta phải
xác định
kết
quả
hẳn

cằa trò
chơi
đó.
Muốn
vậy, ta phải đi
tìm
những
chiến
lược kiên định
hay
còn
gọi là chiến
lược
tự
tuân
thằ (chiến
lược kiên định
là chiến
lược mà
người
chơi không
muốn
chệch
khỏi

li
Khoa
luận
tốt
nghiệp
trò chơi nào
cũng

chiến
lược có ảnh hưỏng
chi phối.
Vì vậy để đi
tới
kết
quả
của trò chơi
ta
cần một
lời
giải
chặt chẽ hơn.
Năm
1951,
nhà
khoa
học
Min
Nash đã đưa
ra lòi
giải

Nash

một
tập
hợp các
chiến
lược
(hay
hành
vi)
khiến
cho mỗi
người
chơi
nghĩ
(một
cách đúng
địn)
rằng
mình đang làm
việc
tốt
nhất

thể
làm
khi
đã
biết
các hành

kết
cục (thú
tội
;
thú
tội)
chính là một cân
bằng
Nash.
Nếu tù nhân Ì
chọn
chiến
lược
tốt
nhất
là thú
tội
thì chiến
lược
tốt
nhất
cho tù nhân 2 là thú
tội.
Ngược
lại,
tù nhân 2
chọn
chiến
lược
tốt

bài toán về
quảng
cáo,
cân
bằng
Nash là cặp
chiến
lược
cả
hai
hãng đều
quảng
cáo.

quảng
cáo là
chiến
lược có ảnh hưởng
chi
phối đối với
cả
hai
hãng A và B, nên đó là
những
chiến
lược kiên định.

khi
đã
biết

đều có
chiến
lược có
ảnh
hưởng
chi phối.
Thế cân
bằng
trong chiến
lược có ảnh hưởng
chi phối
chỉ là
một trường hợp đặc
biệt
của
cân
bằng
Nash.
Xét cân
bằng
Nash
trong
trường
hợp
trò
chơi không có
chiến
lược có ảnh hưởng
chi phối. Trở
lại

-
Nhật
3-K40F-KTNT
12
Khoa
luận
tốt
nghiệp
trận
ta
thấy,
hãng A không hề có
chiến
lược có ảnh
hưởng
chi
phối,

quyết
định
tối
ưu của họ
lại
tuy thuộc
vào
việc
hãng B
quyết
định như
thế

phối.
Đó

chiến
lược
quảng
cáo, bất
kể hãng A làm
gì.(Nếu
hãng A
quảng
cáo,
hãng B sẽ
thu
được 5 nhờ
quảng
cáo và 0 nếu không
quảng
cáo.
Nếu
hãng A không
quảng
cáo, hãng B sẽ
thu
được 8 nếu
quảng
cáo và 2 nếu
không
quảng
cáo).

(quảng
cáo ;
quảng
cáo).
Đây
là kết
quả logíc
của trò
chơi và hãng A làm
việc
tốt
nhất

thể
làm
khi

biết
quyết
định của hãng B, và hãng B làm
việc tốt
nhất

thể
làm
khi
đã
biết
quyết
định

làm
bất
kể anh làm gì.
Anh
đang làm cái
việc
tốt
nhất
anh có
thể
làm
bất
kể
tôi
làm
gì.
- Thế cân
bằng
Nash:
Tôi đang làm cái
việc tốt
nhất tôi

thể
làm
sau khi
đã
biết
anh đang
làm

người
muốn
tìm
hiểu
nhất.
Câu
hỏi đặt ra là:
"Cân
bằng
Nash
có luôn
tồn
tại
không? Và có là duy
nhất
cho mỗi trò chơi hay

Thanh Luyến - Nhật 3-K40F-KTNT
13
Khoa
luận
tốt
nghiệp
không?"
Khi
đưa
ra
khái
niệm
về cân

Nash
luôn
tồn
tại
nhưng không
nhất
thiết

chỉ
có một
thế
cân
bằng
Nash duy
nhất,
mà có
thẩ

nhiều
hơn.
Xét thí dụ
sau:
Một nhà
nhập khẩu
nước ngoài muốn mua cà phê của
hai
doanh
nghiệp xuất
khẩu
trong

Nếu
hai
doanh
nghiệp
bán cho nhà
nhập khẩu
cùng
loại
cà phê
thì
ông
ta
sẽ ép giá và
chỉ
trả
75% giá đã
thoa thuận.
Nếu
hai
doanh
nghiệp
trong
nước
cung cấp
hai
loại
cà phê khác
nhau thì
ông
ta

75%;75%
Giả
sử cả
hai
doanh
nghiệp
đều
biết
việc
trả
giá này, và
bằng
một
cách nào đó
doanh
nghiệp
A
biết
rằng
doanh
nghiệp
B đã
thu
mua đủ
loại
cà phê chè và đang sẵn sàng
cung
cấp cho nhà
nhập
khẩu.

dộng

doanh
nghiệp
dự đoán là
doanh
nghiệp kia
sẽ làm thì
doanh
nghiệp
này
tốt
nhất
là nên hợp
tác.
Bởi nếu

Thanh Luyến
-
Nhật
3-K40F-KTNT
14
Khoa luận
tốt
nghiệp
không hợp
tấc thì
cả
hai sẽ phải
nhận

cân
bằng
Nash
:
đó
là cặp
chiến
lược (cà phê chè
;
cà phê
vối)
và (cà phê
vối;
cà phê
chè).
Tọi đây, ta thấy
rằng
một
thế
cân
bằng
Nash dựa
nhiều
vào tính duy

của

nhân.
Nhưng
sự lựa

nhất
cho mỗi
doanh
nghiệp.
Nhưng
trong
các trưởng
hợp
trưọc
đó,
cân
bằng
Nash là
lựa
chọn
tốt
nhất
nhưng không
phải
tối
un.
Bởi vậy,
người
ta
còn
gọi
cân
bằng
Nash


chọn.
Trong
thực tế, kinh
doanh
là một
chuỗi
các
hoạt
động liên
tục
nên
việc ra
quyết
định là thường
xuyên,
lặp
đi
lặp
lại.
Cứ
mỗi
lần lặp
lại
là một
thế
khó xử của
những
người
bị
giam

người
chơi khác
hoặc
không
đạt
được
lợi
ích
tối
ưu
cho
cả đôi bên

lẽ ra

thể

được.
Nói cách
khác,
đó là
những
trò chơi
mang
tính ích
kỷ,
thiếu
sự hợp
tác.
Thực

toàn
bộ

thuyết
này được
đặt
vào
trong thực
tiễn
và lý
giải
sự tương tác
lẫn
nhau
giữa
cạnh
tranh
và hợp tác.
1.
Cạnh
tranh
Cạnh
tranh
được đề
cập
đến
nhiều trong kinh tế kinh
doanh
vọi nhiều
định

các thành viên
của
một
thị
trường hàng
hoa, sản
phẩm cụ
thể
nhằm mục đích
lôi
kéo về phía mình ngày càng
nhiều
khách
hàng,
thị
phần

thị
trường.
Như
vậy,
về phương
diện kinh
tế,
cạnh
tranh
được hình thành
trên cơ
sấ
có sự

chỉ
xuất
hiện
dưới
những
tiền
đề
kinh tế
và pháp lý cụ
thể.
Trong
điểu
kiện
kinh tế thị
trường,
cạnh
tranh
đã
xuất
hiện

tổn
tại,
không
những
thế
còn
tồn
tại
như một động

chế
thị
trường.
1.1 Tác
động tích
cực của
cạnh tranh
đối với các
doanh nghiệp
Trong
khuôn khổ của
kinh tế thị
trường,
ý
nghĩa
kinh
tế
của
cạnh
tranh là:
một mặt
tạo ra
động
lực
của
sự phát
triển
kinh
tế,
mặt khác

tranh,
một bộ
phận nguồn
lực
của nền
kinh tế
sẽ không được huy động vào sản
xuất
và gây
ra
sự lãng phí không
đáng có.
Nhìn bình
diện
tổng
thể
nền
kinh
tế

hội
nói
chung

đối với
doanh
nghiệp
nói
riêng,
cạnh

tiêu
dùng,
tiến tới
những
sáng
tạo trong cải
tiến
sản
phẩm.
Thứ
hai,

cạnh
tranh
có mục tiêu lâu dài là
thu
hút về mình càng
ngày càng
nhiều
khách hàng nên
doanh
nghiệp
với
tư cách là nhà sản
xuất
hay
nhà phân
phối
sản phẩm hàng
hoa, dịch

nhanh
càng
tốt.
Nghĩa
là, khi
doanh
nghiệp
làm
ra
được một
sản
phẩm
tốt
hơn, những
người
khác sẽ sao chép
hoặc cũng
tiến
hành
cải
tiến
sản
phẩm. Và lúc
này,
vấn để
không
phải
là sản phẩm
tạo
ra

bộ
khoa
hồc kỹ
thuật.
Do đó,
cạnh
tranh
cũng

nguồn
gốc,
động
lực
để phát
triển
khoa
hồc kỹ
thuật
công
nghệ
cao cho
đất
nước
nói
chung,
cho nền
kinh tế
và doanh
nghiệp
nói riêng.

những
mặt trái này
còn
lớn
hơn
những
lợi
ích mà nó đem
lại,
đặc
biệt

những
tác
hại
gây ra
bởi
sự
cạnh
tranh
không lành
mạnh.
- Trước
hết,
như đã đề
cập

trên,
cạnh
tranh

lực
như
vậy
không
phải
doanh
nghiệp
nào
cũng

khả
năng
chi trả.
-
Tiếp
đó,
lượng
khách hàng - kể cả khách hàng
trung
thành -
cũng
không ổn
định.
Nếu không đủ
khả
năng
đổi
mới
sản
phẩm

thị
trường bị
chia
sẻ và có
thể
bị
đối
thủ
cạnh
tranh trả
đũa.
- Đặc
biệt
các trường hợp
cạnh
tranh
không lành
mạnh
sẽ ảnh
hưởng
xấu
tới
mối
quan
hệ
với
các
đối
tác khác như khách
hàng,

Tuy
nhiên,
nếu các
doanh
nghiệp
bảo
thủ,
quá thiên về
cạnh
tranh

không xem xét tình hình, yêu cầu cụ
thể
thì
nguy

thất
bại

rất
lớn.
Trong
ví dụ sau
ta

thể
thấy

doanh
nghiệp

Mự. Và đây
cũng
là ngân hàng đẩu tiên
giới
thiệu
dịch
vụ máy rút
tiền
tự
động
(ATM).
Tiếp
sau đó, các ngân hàng khác
cũng
thi
nhau
lắp
đặt
các
máy ATM của mình, và họ muốn
Citibank gia
nhập
mạng
lưới
của mình.
Điều
này làm cho
thẻ
ATM của mỗi ngân hàng có giá
trị

cũng

thể

hại.
Quyết
định
này làm
thiệt
hại
cho chính khách hàng của
Citibank.
Dần
dần,
các
mạng
lưới
khác đã dẫn đầu cả
nước,
còn khách hàng của
Citibank
cũng
lần
lượt
từ
bỏ ngân hàng của mình.
Việc
tiếp
cận hạn
chế

mất sự
hợp
tác
với
các ngân hàng
khác.
Như
vậy, trong kinh
doanh, cạnh
tranh

cần
thiết,
nhưng hợp
tác cũng là
một yêu
cầu
không kém
phần quan
trọng.
2.
Hợp
tác
Là sự liên
kết
đồng
thuận
giữa
hai
hay

các
chủ
thể
của
nền
kinh tế.
Nếu
cạnh
tranh
chỉ
diễn
ra
khi
xuất
hiện
những
tiền
đề
kinh
tế

pháp lý cụ
thể
thì
hợp tác
lại
chủ yếu
có được nhờ sự
tự
nguyện của

với
các chủ
thể
khác như: mối
quan
hệ
với
khách
hàng,
với
nhà
cung
cấp,
doanh
nghiệp
khác,
Chính phủ.
Cũng
giống
như
cạnh
tranh,
hợp tác
cũng
có cả tác động tích cực và
phi
tích
cực đối với
các
doanh

nghiệp

thể
"tăng bạn
nạt thù".
Để có được
điều
này
cần tới kinh
nghiệm
từng
trải
trên thương
trường.
Đó là cả một
nghệ
thuổt
sống
trong kinh
doanh
.
- Hợp
tấc tạo

hội
học
hỏi
thêm
kinh
nghiệm

sự hoàn
thiện
cho bản thân mình.
- Do quá trình nghiên cứu và phát
triển
sản phẩm cần
nhiều
nguồn
lực
cả về
chi
phí và
thời
gian
nên
việc
hợp tác
với
nhau
trong
lĩnh
vực
này là
hợp

nhất.
Việc
liên
minh
lại

cải
tiến
sản
phẩm
cũng
như
chuyển
giao
công
nghệ
cho
nhau.
Đây

điểm
tích
cực
chung
giữa
cạnh
tranh
và hợp tác .
2.2
Tác
động
phi
tích
cực của
hợp
tác đối với

cải
tiến
sản
phẩm.
- Liên
minh
lại
với
nhau cũng
đồng
nghĩa
với việc phải chia
sẻ
thị
trường,
phụ
thuộc
lẫn
nhau
trong
một số
hoạt
động.
Thị
phần
là một mục
Lý Thanh Luyến

Nhật 3-K40F-KTNT
19


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status