TRƯỜNG
ĐẠI
HỌC NGOẠI
THƯƠNG
HÀ NỘI
KHOA KINH TẾ NGOẠI THƯƠNG
KHOA
LUẬN
TỐT
NGHIỆP
ĐỂ
TÀI
TÀI
TRỢ XUẤT
NHÁP KHÂU
-
THỰC TRANG
VÀ GIẢI PHÁP PHÁT TRIỂN TỘI
NGÔN HÀNG ĐÂU Tư VÀ PHÁT TRIỂN VIỆT tim
Sinh
viên
thực
hiện
:
NGUYỄN THỊ
PHƯƠNG
HẠNH
Lữp
:
A8
NHẬP
KHÂU
CỦA
NGÂN HÀNG
/
I.
KHÁI NIỆM VÃ
VAI
TRÒ CỦA
TÀI
TRỌ
XUẤT
NHẬP KHAU
.ẹể ùft dệf.j£ấ/!*~ĩ>
1.
Khái
niệm
3
2.Vai
trò của
hoạt
động
tài
trợ
xuất
nhập
khẩu
5
2.
Ì
y^.^ịkĩ'
1.
Tài
trợ
trên
cơ
sở
thương
phiếu
gịúSEỀtXỂc.
9
2.
Tài
trợ
trên
cơ
sở
phương
thức thanh
toán nhờ
thu
kèm
chứng
từ
13
3.
Tài
trợ
trên
cơ
dưới
hình
thức
bảo lãnh ngân hàng
23
7.
Tín
dụng
thuê
mua 25
MI.
NGUYỀN
TẮC
TRONG HOẠT
ĐỘNG
TÀI
TRỢ XUAT NHẬP KHAU CỦA CÁC
NGÂN HÀNG 27
CHƯƠNG li. THC TRẠNG HOẠT ĐỘNG TÀI TRỢ XUẤT NHẬP KHÂU TẠI
NGÂN BÀNG
BẦU TỨ VÀ
PHÁT THIÊN VIỆT
NAM
<IHI>V)
I.
MỘT
SỐ
NÉT
KHÁI
QUÁT
tài
trợ
xuất
nhập
khẩu
tại
BIDV
32
1.1.
Tài
trợ
trên
cơ
sở
phương
thức
tín dụng chứng
từ
32
Ì
.2.
Tài
trợ
trên
cơ
sở
phương
thức
nhờ
thu
tồn
tại
trong kết
quả
hoạt
động
tài trợ xuất
nhập
khẩu
cua
BUA
41
3.
Nguyên nhân của
những
tồn
tại
trong
hoạt
động tài
trợ
xuất
nhập
khẩu của
BIDV
42
3.1.
Nguyên nhân khách quan
42
3.1.1.
49
3.2.1.
Nguồn
vốn của
BIDV còn
hạn chế
49
3.2.2.
Sọn phẩm
tài
trợ
chưa
phong
phú
50
3.2.3.
Cơ
cấu
khách hàng còn chưa hợp
lý
52
3.2.4.
Công
tác
phòng
ngừa
rủi
ro,
kiểm
tra,
ngũ cán bộ còn
nhiều
hạn chế
56
3.2.8.
Vấn đề
trang
bị
kỹ
thuật
và công
nghệ
ngân hàng
57
3.2.9.
Quan hệ ngân hàng
đại
lý
57
CHƯƠNG
HI.
GIẢI
PHẤP
PHÁT TRIỂN
HOẠT BÔM! TÀI
TltỢ
XUẤT
NHẬP
KHÂU
Ộ lum
ĐAY
MẠNH
HOẠT
ĐỘNG
TÀI
TRỢ XUẤT NHẬP KHAU TRONG
NHỮNG
NĂM TIẾP
THEO CỦA
BIDV
69
MI.
MỘT SỔ
GIẢI PHÁP PHÁT TRIỂN
HOẠT
ĐỘNG
TÀI
TRỢ XUẤT NHẬP KHAU
TẠI
BIDV
70
1. Đối
với
BIDV
70
1.1.
Xây
dựng
chiến
lược,
80
1.5.
Đào
tạo
và phát
triển
nhân
lực
83
1.6.
Tăng cường ứng
dụng
công
nghệ
thông
tin
84
1.7.
Đẩy
mạnh
hoạt
động
marketing
85
1.8.
Hợp
tác
toàn
diện gắn
liền
thống
chính sách nhằm thúc đẩy
sự
phát
triển
của
các
doanh
nghiệp
89
3.
Đôi
với
các
doanh
nghiệp xuất
nhằp
khẩu
91
KẾT
LUẬN
93
DANH
MỤC
TÀI LIỆU
THAM KHẢO
LỜI
MỞ ĐẨU
Tính cấp
thiết
trò
của
hoạt
động
kinh
tế đối
ngoại.
Mở
rộng
và nâng cao
hiệu
quả
kinh
tế đối
ngoại
luôn là một
trong
nhợng
định
hướng
phất
triển
hàng đầu của quá trình công
nghiệp
hoa,
hiện
đại
hoa
đất
nước
động này
đối
với
nền
kinh
tế.
Trong
điểu
kiện
của
Việt
Nam
hiện
nay
thì
một
trong
nhợng
biện
pháp
quan
trọng
và hợu
hiệu nhất
là tài
trợ
vốn
cho các
doanh
nghiệp xuất
hơn
rất
nhiều.
Trong khi
đó
thực
lực
về vốn của
doanh
nghiệp
xuất
nhập khẩu
Việt
Nam còn quá
thấp
và vay vốn
từ
ngân hàng luôn là
giải
pháp hàng đầu mà các
doanh
nghiệp
nghĩ đến.
Nhận
thức
được
điều
đó
trong
thời
dịch
vụ ngày càng
phong phú,
đóng góp không nhỏ vào
việc
nâng
cao
hiệu
quả
kinh
doanh của
Ngân
hàng.
Tuy nhiên do gặp
phải nhiều
khó
khăn
xuất
phát
từ
nguyên nhân khách
quan
và chủ
quan
mà
hoạt
động tài
trợ
xuất
nhập khẩu
nghiên
cứu.
Mục đích
của
đề tài
Trên cơ sở
lý
luận
và
thực
tiễn
đã nghiên cứu về
tài
trợ
xuất
nhập khẩu
của
Ngân hàng thương
mại
nói
chung
và BIDV nói
riêng
người
viết
muốn:
Ì
-
Giới
thiệu
và
từ
đó đưa
ra
các
giải
pháp
khắc
phởc
từ
nhiều
phía để thúc đẩy
sự
phát
triển
của
hoạt
động này ở BIDV
Đối
tượng
và phạm
vi
nghiên cứu
của
đề
tài:
-
Đối
tượng
nghiên cứu
chủ yếu
được
sử
dởng
để hoàn thành
khoa
luận
là
phương
pháp duy
vật
biện
chứng
và duy
vật
lịch
sử
của
Triết
học Mác
-
Lênin
kết
hợp
với
phương pháp nghiên cứu
khảo
sát
thực
tiễn.
quan
về
hoạt
động
tài trợ
xuất
nhập
khẩu"
Chương Ù: "Thực
trạng hoạt
động
tài
trợ
xuất
nhập khẩu ở Ngân hàng Đẩu
tư
và
Phát
triền Việt
Nam"
Chương
ni:
"Một sô
giải
pháp
phát triển hoạt
động
tài trợ
xuất
nhập khẩu ở
cùng
sự
giúp
đỡ quý báu của các cán bộ Phòng Tín đởng 2 Ngân hàng Đẩu tư và Phát
triển
Việt
Nam.
Do còn
những
hạn chế về
kiến thức
cũng
như
kinh
nghiệm
thực
tế,
khoa
luận
chắc chắn
sẽ không tránh
khỏi
còn
nhiều
thiếu
sót.
Người
viết
rất
mong
VAI
TRÒ
CỦA
TÀI
TRỢ XUẤT NHẬP KHAU
1. Khái niệm
Chỉ
trong
vòng vài
thập
niên qua nền thương mại
quốc
tế
đã
phát
triển
mạnh
mẽ, cùng
với
sự
gia
tăng các mối
quan
hệ thương mại
đa
phương
và
tính
chất
tương
Cùng
với
khuynh
hướng
này
là
quá trình
tự
do hoa
tài
chính,
dả
bỏ dần các hàng rào thương mại
và
xu
thế hội
nhập
trong bối
cảnh
toàn cầu
hoa
kinh
tế
quốc
tế
đang
lan
nhanh.
Hoạt
động
sức
quyết
liệt
giữa
các nhà
cung
ứng
hàng hoa
dịch
vụ
trên thương trường
quốc
tế.
Mỗi
nhà
kinh
doanh
xuất
khẩu
không
những
phải đối
đầu
với
các
doanh
nghiệp
bản xứ
mà
còn
cung
cấp
nào
mời chào
nhiều
ưu
đãi
nhất,
mà
chủ yếu là
ưu
đãi về
thời
hạn
thanh
toán.
Hơn
nữa,
hoạt
động
ngoại
thương luôn ẩn
chứa
các
nguy
cơ dẫn đến
rủi
ro
và
thất
nguy
cơ
này
xuất
phát
từ nhiều
yếu
tố
đặc thù
trong giao
thương
quốc tế
về
thời
gian thực hiện giao
dịch
và
khoảng
cách
địa
lý,
về
loại tiền
thanh
toán
và
những
biến
động
tỷ
động
ngoại
thương các
doanh
nghiệp
luôn
mong
muốn
nhận
được
sự hỗ
trợ
từ nhiều
phía để nâng
cao khả
năng
cạnh
tranh
của
mình,
tiến
sâu hơn vào
thị
trường
thế
giới
hứa hỏn
nhiều
cơ
hội
trợ
đắc
lực.
Tài
trợ
xuất
nhập khẩu bao hàm các
hoạt
động của ngăn hàng nhảm đáp
ứng
những
nhu cầu
về
tài
chính
và
uy
tín
trong kinh
doanh của
các
doanh
nghiệp
trong
quá
trình giao dịch ngoại thương.[4]
- Quá
trình
giao
dịch ngoại thương
đối
tác,
thiết
kế
sản
phẩm
xuất
khẩu,
chào hàng
-
đặt
hàng,
kí
kết
hợp
đồng
đến
khi
giao
hàng và hoàn thành hợp đồng
ngoại
thương.
Mở
rộng
khái
niệm
trong
chừng
mực
nhất
khẩu là
quá trình
thu
gom hàng
xuất
khẩu của
thương
nhân,
mua
vật
tư
nguyên
vật
liệu
để
chế
xuất
của
nhà
sản
xuất ,
hoặc
giai
đoạn
bảo
hành,
bảo
trì
đối
với
quá
trình
tạm
thời
lưu kho hàng
nhập
chờ
tiêu
thụ.
Qua trình
giao
dịch
ngoại
thương thường là
ngắn hạn, nghĩa
là kéo dài
không quá một năm nhưng
cũng
có
khi
kéo
dài
nhiều
năm như
đối với
các dự án,
công
trình
hoặc
thương vụ giá
ngân hàng
là
nhằm giúp
doanh
nghiệp
vượt
qua
trở
ngại
đặc thù về
tài
chính và uy tín
trong kinh
doanh
để có
thể
nàng
4
cao
hiệu
quả
kinh
doanh,
tăng sức
cạnh
tranh,
hoàn thành thương
vụ,
có
nguồn
tổn
tại
và phát
triển
của
các
hoạt
động
tài
trợ ngoại
thương gắn
liền
với
quá trình hình thành và
lớn
mạnh
của nền
thương mại
quớc
tế,
trong
khuôn
khổ
hoạt
động
kinh
tế
tại
mỗi
quớc
khẩu
khiến hoạt
động này có tính độc
lập
tương
đới
trong
hệ
thớng
dịch
vụ tín
dụng
của ngân
hàng.
Ngược
lại,
tài
trợ
xuất
nhập khẩu cũng
giữ
vai
trò
hết
sức
quan
trọng
trong
việc
thúc đẩy thương mại
hoạt
đông
tài trơ
xuất
nháp khẩu
đối
với
doanh
nghiệp
Trước
hết,
sự
tài
trợ
của
ngân hàng là
nguồn cung
cấp
vớn quan
trọng
cho
các
doanh
nghiệp xuất
nhập
khẩu.
Để
tiến
hành một thương
vụ, doanh
thanh
toán các
khoản
mục
chi
phí để
thực hiện
hợp đồng như
chi
phí bán hàng,
chi
phí vận
chuyển ,
còn nhà
nhập khẩu
cần
tiền
để có
thể
thanh
toán cho
người
bán.
Nói
chung
bất
kỳ một
doanh
nghiệp
nào
nghĩ đến
đó
là
đến ngân hàng để
vay vớn.
Thứ
hai,
hoạt
động
tài
trợ
cũng
góp
phẩn
nâng
cao
năng
lực
cạnh
tranh
của
doanh
nghiệp
khi
đàm phán
kí
kết
hợp đổng
ngoại
thương.
được lô hàng
ấy.
Tuy nhiên
5
"thương trường như
chiến
trường",
cạnh
tranh quyết
liệt
giữa
các nhà
xuất
khẩu
để giành
lấy
hợp đổng
là
điều
tất
yếu.
Chính
bởi
vậy mà
trong nhiều
trường hợp
để tăng thêm sức hấp dẫn và
thu
hút sự
quan
vừa
thực hiện
tốt
thương vụ
xuất
khẩu
với
điều
khoừn
thanh
toán ưu đãi cho
người
mua nước ngoài đổng
thời
nhận
được
nguồn
vốn hỗ
trợ
từ
ngân hàng nếu
như nhà
xuất
khẩu
cần vốn
ngay
để
thực hiện
một thương vụ khác.
Thứ
đã bước chân
vào một
thị
trường
rộng lớn với
vô vàn
rủi
ro
không
thể
lường trường được từ
nhiều
phía như
rủi
ro kinh
tế,
chính
trị,
luật
pháp,
văn hoa Những
rủi
ro tiềm
tàng đó luôn đe doa đến
hiệu quừ kinh
doanh
của
doanh
nghiệp
và
chứng
từ
L/C
trừ
chậm
miễn
truy
đòi hay
nhận
bao
thanh
toán
những
khoừn
phừi thu của
nhà
xuất
khẩu
có
nghĩa
là
ngân hàng đã "đưa
vai"
gánh
chịu
rủi
ro thay
cho nhà
xuất
khẩu.
doanh.
Trong
quá trình tìm
kiếm đối
tác
rất nhiều
doanh
nghiệp
vấp
phừi
vấn để
uy tín
và đây
thực sự là
một
bài
toán
"nan
giừi"
đối với
các
doanh
nghiệp vừa
và
nhỏ,
các
doanh
nghiệp
mới thành
lập
công trình đúng
thời
gian,
chất
lượng,
số
lượng đã cam
kết ,
còn nhà
nhập
khẩu
tất
nhiên
sẽ là
những
thắc
mắc về tình hình
tài
chính,
khừ
năng
thanh
toán
Đó chính
là
cơ
sờ
để các ngân hàng cho
ra đời
hình
lãnh
tức
là ngân hàng đã
thay
mặt
doanh
nghiệp
đứng
ra
đảm bảo khả năng hoàn thành
nghĩa
vụ
trong
hợp đổng đã
kí
kết
của doanh
nghiệp.
Nhận được sự bảo lãnh của
ngân hàng đặc
biệt
là các ngân hàng
lán,
có uy tín
trong
và ngoài nước đổng
nghĩa
với
việc
doanh
thương của ngân hàng đã mang
lại
cho
doanh
nghiệp
những
lợi
ích không
nhỏ.
Không một
doanh
nghiệp
nào
khi
khởi
nghiệp
lại
không mong muốn tìm được
nguồn vốn
kinh
doanh
-
nền
tảng
vững chắc
để
tạo
dựng
mọi kế
hoạch
tễ
nhiều
phía khác
nhau. Thống
qua
hoạt
động này
doanh
nghiệp
có
thể
nâng cao
hiệu
quả
sản
xuất
kinh
doanh,
mở
rộng
thị
trường
xuất
nhập khẩu
và tìm
kiếm
thêm
bạn
hàng mới cùng
đối
vụ.
Tài
trợ
xuất
nhập khẩu
cũng
là
điều
kiện
để thúc đẩy
sự
phát
triển
các
loại
hình
dịch
vụ khác của ngân
hàng như
thanh
toán
quốc
tế
hay
kinh
doanh
ngoại
hối.
Nhờ đó mà ngân hàng
vễa
với
người
xuất
khẩu,
khi
ngân hàng
chuyển
bộ
chứng tễ
giao
hàng để đòi
tiền,
người nhập khẩu
nước
ngoài đã
chỉ
định
việc
thanh
toán
tiền
hàng
phải
thông qua
tài khoản
của
người
xuất
khẩu
mở
lý
chặt chẽ,
tránh được tình
trạng
xoay
vốn
của
doanh
nghiệp trong
thời
gian
vốn
tạm
thời
nhàn
rỗi.
Tài
trợ xuất
nhập khẩu
giúp ngân hàng hạn
chế
rủi
ro
về
thanh
khoản
do
hoạt
động này thường gắn
liền
nhập khẩu
là
thời
gian
từ
lúc
nhận
hàng
tại
cảng
cho đến
khi
bán
hết
hàng và
thu
tiền
về.
Kỳ hạn tài
trợ
thường
ngắn,
phù hợp
với
kỳ hạn huy động
vốn của
các ngân hàng thương
mại
thương là
dưới
trợ
gắn
liền
với
thương vỳ và
trong nhiều
trường hợp vốn
tài
trợ
được
thanh
toán
thẳng
cho bên
thứ
ba mà không qua bên
xin
tài
trợ
như
thanh
toán
tiền
hàng
nhập
khẩu,
tiền
nguyên
vật
liệu
và các
ngân hàng nước
ngoài,
nâng cao vị
thế
cũng
như uy tín của ngân hàng trên
thị
trường
tài
chính
nói
riêng
và
thị
trường
kinh
tế
quốc
tế
nói chung.
2.3.
Vai
trò
của
tài
trơ
xuất
nháp khẩu
đối
triển
của
toàn bộ
nền
kinh
tế
của
một
quốc
gia.
Nhờ có
tài
trợ
xuất
nhập khẩu
mà
mọi hoạt
động
ngoại
thương có
thể diễn
ra
thuận
lợi,
trôi
chảy.
Nó không chỉ
theo
sau
mà còn
thương
trong chiến
lược thúc
đẩy
tăng trưởng
kinh
tế.
Ngoại
thương là sự
trao
đổi
hàng
hoa,
dịch
vỳ
giữa
các
nước
thông qua mua
bán.
Bí
quyết
thành công của
chiến
lược phát
triển
kinh
tế
xã
hội nhiều
khẩu
và
nhập khẩu là
hai
bộ
phận
cấu
thành,
có mối
quan
hệ
biện
chứng,
bổ
sung
hỗ
trợ
cho
nhau,
là
điều
kiện
cần
và
đủ để thúc
đẩy
ngoại
thương phát
triển.
Đối
xuất
khẩu cũng
đóng góp không nhỏ
vào
việc
chuyển dịch
cơ
cấu
kinh
tế,
thúc đẩy
sản
xuất
phát
triển;
nâng cao mức
sống
của
người
dân; là cơ sở để mở
rộng
và thúc đẩy các
quan
hệ
kinh
tế đối
ngoại.
Mặt
khác,
nhập khẩu
được
hoặc
sản
xuất
không đáp ứng được nhu
cầu; thay thế
những
hàng hoa mà nếu sản
xuất
trong
nước
sẽ
không
mang
lại
hiệu
quả
cao.
Thêm
nữa,
nhập khẩu cũng
góp
phần
tích
cực
thúc đẩy sự phát
triển
của
xuất
khẩu
dạng
của
doanh
nghiệp. Dưới
đây
là
một
số
hình
thức
tài
trợ
đang được các ngân hàng trên
thế
giới
áp
dụng phổ
biến.
Ì.
TÀI TRỢ
TRẼN
ca sỏ THƯONG PHIÊU
Thương
phiếu
bao gỏm
hối phiếu
và kỳ
phiếu
là công cụ
thanh
hội
nghị
về
Luật hối phiếu
được
tổ chức
tại
Geneve,
các nước
thành viên đã phê
chuẩn
Công ước về
Luật hối phiếu, gọi
là Công ước Geneve
1930 về
Luật hối phiếu thống nhất (Uniform
Law
for
Bills
of
Exchange
-
Geneve
Convention 1930,
ULB
1930),
9
Ngày
nay,
Luật
Ngoài
ra hai
nước
Mỹ và Anh
cũng
xây
dựng
riêng
Luật
về
hối phiếu
như: hệ
thống
luật
các
nước
thuộc
khối
Anglo
-
saxon
dựa
trên
cơ sở
Luật
hối phiếu
của
Anh
(Bin
of
có
hiệu
lực từ
ngày
01/07/2000.
Nhìn
chung,
Pháp
lệnh
thương
phiếu
của
Việt
Nam
được
xây
dựng
trên
nền
tảng của
Công ước
Geneve
1930.[2]
Các
nước
tham
gia
ký
kết
Công ước
chiếu
trong
khái
niệm
hối phiếu của
luật
ULB.
Hôi
phiếu
là
một
tờ
mệnh
lệnh
trả
tiền
vô
điểu kiện
do một
người
ký
phát
cho
người
khác yêu cáu
người
này
khi
nhìn thấy
hối
Việt
Nam
thì hối phiếu
được
định
nghĩa
như
sau: "Hôi
phiêu
là
chứng
chỉ
có
giá
do
người
ký
phát
lập,
yêu cẩu
người
bị
ký
phát thanh toán không điều kiện
một số
tiền
xác
định
khi
có
hối
phiếu
Trên
hối phiếu
không cần
phải ghi nội
dung
quan
hệ tín
dụng,
tức là
nguyên nhân
sinh
ra
việc
lập hối phiếu
mà chỉ cần
ghi
rõ số
tiền
phải trả
và
những
nội
dung
có
liên
quan
đến
việc trả
hối phiếu
được
lập
ra
trái
với
đạo
luật
chi
phối
nó.
-
Tính lưu thông
Hối phiếu
có
thể
chuyển
nhượng được một hay
nhiều lần
trong
thời
hạn
hiệu
lực
của
nó. [1]
1.2.
Các
hình thức
tài
hưởng
chuyển
nhượng
hối phiếu
chưa
đáo hạn cho ngân hàng để
nhận
một
số
tiền
bằng
mệnh
giá
của
hối phiếu
trừ
đi
phẩn lãi
chiết
khấu
và
hoa hồng
phí.
[4]
Trong
giao
dịch
ngoại
thương
người
đến hạn
thanh
toán.
Tài
trợ
chiết
khấu
hối phiếu
trong
ngoại
thương thường áp
dụng
cho các
giao
dịch
xuất
nhập khẩu
thanh
toán
bằng
phương
thức
ghi
sổ
hoặc
nhờ
thu,
trong
đó nhà
xuất
trả
chậm này
phải
được nhà
nhập
khẩu
ký
chấp nhận
trước lên bề mặt
hối
phiếu,
thừa
nhận
món nợ
phải
trả
(giá
trị
hối
phiếu)
cho
người
thụ
hưởng
khi
hối phiếu
đến hạn
thanh
toán.
Kỹ
mua
lại
quyền
thụ
hường này chính
là mức
tài
trợ
chiết
khấu
hối phiếu
và được tính
bằng phần
còn
lại
của
giá
trị
hối
phiếu
sau
khi
trừ
đi
lãi
chiết
khấu
cùng
phí hoa hồng
nghiệp
-
thời
gian
còn
lại
của
hối phiếu
r
d
-
lãi
suất
chiết
khấu
mà ngân hàng áp
dụng
c
-
phí
hoa hồng
nghiệp
vụ
Dễ
thấy
rằng
yếu
tố
quan
trọng
nhất
suất
chiết
khấu
ngàn hàng áp
dụng
có
khi
cộng
thêm
khoỡn
tỷ
lệ
phụ
trội
nhằm
chống
đỡ
rủi
ro tài
trợ.
Tỷ
lệ
này phụ
thuộc
vào
khỡ
năng
truy
đòi khách hàng
nhận tài
Đối
với
ngân hàng
tài
trợ,
việc
chiết
khấu
hối phiếu tuy
đơn
giỡn
nhưng
lại
chứa
đựng
nhiều
yếu
tố
rủi
ro,
đặc
biệt
là
rủi
ro
liên
quan
đến uy
tín
và
cách bỡo lưu
"quyền
truy
đòi"
đối với
nhà
xuất
khẩu
đã
chuyển
nhượng
quyền
thụ
hưởng
giá
trị
hối phiếu.
(2) Chấp nhận
hôi
phiêu
Thông thường
trong
giao
dịch
ngoại
thương nhà
xuất
khẩu
ký phát
hối
có sự đỡm bỡo
từ
phía ngân
hàng.
Khi
đó ngân hàng có
thể
hỗ
trợ
nhà
nhập khẩu bằng
cách đứng
ra
ký
chấp nhận
hối phiếu.
Nhà
xuất
khẩu
sẽ
chuyển
thẳng
hối phiếu
cho ngân hàng ký
chấp nhận
chứ không
phỡi
chuyển
cho nhà
nhập
hạn,
sau
đó ngân hàng
sẽ
đòi
lại tiền
từ
nhà
nhập
khẩu.
Ớ
nghiệp
vụ này ngàn hàng
phải
sử
dụng
vốn
của
mình,
phải
chịu
mọi
rủi
ro
và
tộn
thất
xảy
ra với hối phiếu
do
trả
lãi vay
vốn.[l]
Một
hình
thức
chấp nhận
không kém
phần
phộ
biến
trong
ngoại
thương là
tái
chấp nhận (Reimbursement
Acceptance).
Tái
chấp nhận
là một hình
thức
chấp
nhận
trong
đó
người
xuất
khẩu
không
chuyển
tờ giấy
hứa cam
kết
trả tiền
vô
điều
kiện
do người
lập phiếu
phát
ra
hứa
trả
một số
tiền
nhất
định cho
người
hưởng
lợi
hoặc
theo lệnh
của
người
này
trả
cho
người
khác quy định
trong
cho
ngân
hàng.
Số
tiền
của
kỳ
phiếu lớn
hơn
số
tiền
của
hối
phiếu,
khoản
chênh
lệch
này
là
lợi
tức
sinh
ra
kể
từ
ngày ngân hàng
trả tiền
hối
phiếu
đến ngày
giao
hàng
hoặc cung
ứng
dịch
vụ cho
khách
hàng,
uy thác
cho
ngân hàng
của
mình
thu
hộ
số
tiền
ở
người
mua, không
những
căn cứ vào
hối phiếu
do
người
bán ký phát mà còn căn cứ vào bộ
chứng từ
gửi
hàng kèm
theo
độc
lập
với
giao
dịch
mua bán hàng hoa
giữa
nhà
xuất
khẩu
và nhà
nhập khẩu.
2.2.
Các hình
thức
tài
trơ
của
ngân hàng
trên
cơ
sở
nhương
thức
nhờ
thu
kèm chứng
từ
Trong
phương
toán
từ người
mua nước ngoài
chuyển
về thông qua các
ngân
hàng.
Không
những
thế,
để bán đưạc
hàng,
nhà
xuất
khẩu
đôi
khi phải
chấp
nhận
điều
kiện
D/A
(chứng
từ đổi lấy
việc
chấp nhận
thanh
toán),
nghĩa
là cho
nhận
đưạc
tiền
hàng sớm
hơn,
nhà
xuất
khẩu
phải
cần
đến dịch
vụ
tài
trạ
của
ngân hàng.
Nhà
nhập khẩu
khi
ký hạp đồng mua bán có
thể
ký
theo
điều
kiện
"thanh
toán
khi xuất
trình
chứng
• Đối
với
nhờ
thu
đến
trong thanh toán
hàng
nhập:
Ngân hàng
tiếp
nhận
bộ
chứng từ từ
ngàn hàng nước
ngoài,
chuyển hối
phiếu
đòi
tiền tới
cho nhà
nhập
khẩu.
Nếu
tới
thời
hạn
trả tiền
của
hối phiếu
mà
chấp nhận
hối phiếu.
Khi
đó mức độ đảm bảo đưạc
trả tiền
khi
tới
hạn
của
tờ
hối
phiếu
sẽ
rất
cao vì
đó
là sự
cam
kết
của
ngân hàng
chứ
không
phải
của
nhà
nhập khẩu.
• Đối
với
nhờ
thu tiền
từ
người
mua nước
ngoài.
Ngân hàng sẽ
thanh
toán cho nhà
xuất
khẩu
toàn bộ giá
trị
của bộ
chứng từ
nhờ
thu với
điều
kiện
bảo lưu "cho phép
truy
14
đòi".
Tiếp theo
ngân hàng sẽ
gửi
bộ
chứng từ
này
để
thu
trước,
còn
phẩn lãi tài
trợ
sẽ
được tính đúng
theo
kỳ
hạn
thực
tế.
Khi
xem xét yêu
cầu tài
trợ
bộ
chứng
từ
nhủ
thu
ngân hàng thưủng đặc
biệt
quan
tâm đến các yếu
tố:
uy tín của nhà
xuất
khẩu
và nhà
nhập
theo
điểu
kiện
D/A, bộ
chứng
từ
có xác
lập
đầy
đủ
quyền sủ hữu
với
hàng
hoa.
3. TÀI
TRỢ
TRẼN
ca sỏ
PHƯƠNG
THỨC
THANH
TOÁN TÍN
DỤNG CHỨNG
TỬ
3.1.
Khái niêm phương thức thanh toán
tín
dung chứng từ
Truyền thống
thương mại
nhà
xuất
khẩu
thiếu
thông
tin
về
năng
lực
kinh
doanh
và
tình
hình
tài
chính bên
mua
cũng
như do
sự
khác
biệt
về môi trưủng
kinh
tế,
chính
trị,
pháp
lý,
ngôn
phục
nhà
xuất
khẩu
tin
tưởng
thực
hiện
giao
hàng, nhà
nhập
khẩu
phải
tìm
kiếm
một
giải
pháp nâng cao uy tín và khả năng
thanh
toán của
mình một cách
chắc chắn
trước đòi
hỏi
cùa nhà
xuất
khẩu.
Phương
thức
tín dụng
khẩu (ngưủi hưởng
lợi
thư
tín dụng) hoặc chấp nhận
hối
phiếu
do nhà
xuất
khẩu
ký
phát
trong
phạm
vi
số
tiền
đó
với
điều
kiện
nhà
xuất
khẩu
xuất
trình cho ngân hàng bộ
chứng
từ thanh
toán phù hợp
với
những
là
một phương
thức
tài
trợ
đảm
bảo uy
15
túi
thanh
toán của ngân hàng dành cho nhà
nhập
khẩu.
Với
tín
dụng chứng
từ
ngân hàng
thay
nhà
nhập khẩu
cam
kết
chịu
trách
nhiệm
thanh
toán
cho
nhà
cơ sở phương
thức
thanh
toán
tín
dung chứng
từ
(Ì) Phát hành
thư
tín
dụng
Việc
mở L/C
thể
hiện
sẫ
tài
trợ
của ngân hàng dành cho nhà
nhập khẩu.
Khi
ngân hàng đồng ý mở L/C
theo
yêu cẩu của nhà
nhập khẩu nghĩa
là ngân
hàng đã cam
kết thanh
toán
cho
trả
số
tiền
quy
định
trong
L/C
cho
phía nước ngoài để đảm bảo uy
tín của
mình.
Việc
ký quỹ mở L/C
là cần
thiết
để hạn
chế
rủi
ro
mà ngân hàng
phải
gánh
chịu
khi
mở L/C cho khách hàng
nhất
là
đối với
những
L/C
hẹp và một
phần
nằm ở ngân hàng mà không sử
dụng được,
đặc
biệt
là những
ngân hàng yêu cầu
ký quỹ
100%
giá
trị
L/C.
Trong
thẫc
tế
các
ngân hàng phân
loại
khách hàng
theo
khả
năng
thanh
toán,
theo
quan
hệ
với
ngân hàng và
khẩu
cảm
thấy lo ngại
về
rủi
ro quốc
gia
của nhà
nhập khẩu
và ngân hàng phát
hành.
Khi
ấy nhà
xuất
khẩu
có
thể
yêu
cầu
có thêm một cam
kết thanh
toán của
một
ngân hàng
khác,
thường
là
một ngân hàng có uy
tín
cao,
ngân hàng ở
nước
xuất
khẩu.
16
về
thực chất
việc
ký xác
nhận
vào L/C phát hành của ngân hàng ở nước
xuất
khẩu
là một
nghiệp
vụ bảo lãnh cho uy tín
thanh
toán của ngân hàng phát
hành,
nghĩa
là
thuộc
dạng
tài
trợ
liên
ngân hàng.Do
nghiệp
vụ xác
nhận
trước
nhà
xuất
khẩu
tất
cả
rủi
ro
liên
quan
đến uy tín và
khả
nâng
thanh
toán
của
nhà
nhập
khẩu,
của
ngân hàng phát hành và cả
rủi
ro
quổc
gia
của
nhà
nhập
khau.
Sự
Chính vì
thế,
ngân hàng cần
thiết
phải
hết
sức
tỉnh
táo và dè
dặt
trong
việc
xem
xét
yêu
cẩu của
nhà
xuất
khẩu cũng
như
của
ngân hàng phát hành
về
việc
tài
trợ
xác
nhận
L/C.
Trong
nhận cũng
áp
dụng
những
biện
pháp đảm bảo an toàn khác
trong
xác
nhận
L/C
chẳng
hạn như đòi
hỏi
ngân hàng phát hành ký quỹ một
phần hoặc
toàn bộ giá
trị
L/C
trước
khi thực hiện
tài
trợ
xác
nhận.
(3) Chiếtkhấu bộ chứng
từ
thanh toán theo
LIC
Nếu
trong
nhập
khẩu.
Nhưng
trong
khoảng
thời
gian
đó anh
ta
lại
cẩn vổn để
tiếp
tục
sản
xuất kinh
doanh. Khi
đó anh
ta
có
thể
đem bộ
chứng từ
gửi
hàng đến
xin
chiết
khấu
tại
ngân
hàng.
A!
",' '
L
'.
ì.
Nghiệp
vụ
tài
trợ
này
cũng
tương
tự
như
tài
trợ
chiết
khấu
bộ
chứng
từ
nhờ
thu,
chỉ
khác ở
chỗ
hối phiếu
trong
giao
dịch
hàng
cho
ngân
hàng,
nhủn
tiền
và không còn trách
nhiệm gì về
việc
hoàn
trả
tiền.
Trách
nhiệm
thu
tiền
từ
phía nước ngoài và
việc
sử
dụng
số
tiền
thu
được hoàn
toàn
thuộc
về ngân
hàng.
Hình
nhiệm
về bộ
chứng
từ
gửi
hàng
trong
trường hợp ngân hàng không đòi
được
tiền
từ
nhà
nhủp khẩu.
về bản
chất,
chiết
khấu
có
truy
đòi là
việc
ngân
hàng cho vay
trẽn
cơ sở bộ
chứng
từ
do nhà
xuất
khẩu
truy
đòi
tất
nhiên
sẽ
thấp
hơn so
với
chiết
khấu miễn
truy
đòi do ngân hàng
chịu
ít
rủi
ro
han.
(4)
Tài
trợ
bằng
các
loại
LIC đặc
biệt
•
Tài
trợ
trên
cơ sở
một
phẩn hoặc
toàn bộ giá
trị
L/C
theo
các
điều
khoản
quy định cụ
thể.
Trong
L/C
điều
khoản
đỏ có
ghi:
trước
ngày
giao
hàng X ngày cho phép
người
hưởng
lợi
ký phát một
tờ
hối phiếu
đòi
tiền
ngân hàng phát hành một số
được ngân hàng
thông
báo/
xác
nhủn tài
trợ
ứng trước
tiền
trước
khi giao
hàng.
Chi
phí
tài
trợ
do
nhà
xuất
khẩu
chịu,
song
trách
nhiệm
tài
trợ
lại
thuộc
về ngân hàng phát hành
18
theo
hường
lợi
(người
hưởng
lợi
thứ
nhất)
có
thể
yêu
cầu
ngân hàng được uỷ
quyền
(ngân hàng
chuyển
nhượng)
thực
hiện việc
trả
tiền,
cam
kết trả
tiền
sau,
chấp nhận hoặc
chiết
khấu,
hoặc
trong
trường
nhượng nhà
xuất
khẩu (người thụ
hưởng gốc)
không cần
phải
đi vay
hoặc
dùng vốn
của
mình mua hàng
từ
nhà
cung ứng.
Dó
đó có
thể thấy
L/C
chuyển
nhượng là một
biện
pháp hỗ
trợ
cho
những
nhà
xuất
khẩu
thiếu
vốn hoặc khả
tương ứng thông thường khác.
Ngân hàng cấp tài
trợ theo
các phương
thức
cụ
điển
cho nhà
xuất
khẩu
hoặc
nhà
nhập khẩu
dựa
theo
yêu cầu và đặc thù
kinh
doanh của
họ. Đối
tượng
tài
trợ
theo
các phương
thức
này
hết
sức đa
dạng,
có
nhà
xuất
khẩu
bán
trả
chậm và chưa
nhận
được
tiền
hàng,
hoặc cũng
có
thể
giúp nhà
xuất
khẩu
trang
trải
các
khoản
chi
phí
phát
sinh trong
quá
trình
sản
xuất
kinh
doanh của
bán
nước
ngoài,
bụ
sung
vốn
kinh
doanh
để nhà
nhập khẩu
có
thể
phân
phối
tiêu
thụ
hàng
nhập
khẩu
Một
số
phương
thức
tài
trợ
ngoại
thương
ngắn
hạn
dạng
FACTORING
)
VÃ BAO THANH
TOÁN
TUYỆT
ĐỐI {
FORFATING
)
5.1.
Bao
thanh toán tương
đối
Công ước ƯNIDROIT 1988 về
Factoring
quốc
tế
đã đưa
ra
một khái
niệm
chung
về
nghiệp
vụ này
như
sau:
"Hợp
đồng
Factoring
là
mại
-
Tổ
chức
tài
trợ
thực hiện
tối
thiểu
hai
trong
sô các
chức
năng
sau đây:
+
Tài trợ bên
cung
ứng
gồm
có cho
vay và
ứng
trước tiền
+ Quản
lý
sổ
sách liên
quan
đến các
cho
rằng:
Factoring
là
việc
bán
các
khoản
phải thu
của
một
công
ty,
với
mức
giá
chiết
khấu,
cho một íactor
là
người
sẽ
đảm
nhận
rủi
ro
tín
dụng
đối với
khoản
bao
gắm
những
hoạt
động
mua bán các
khoản
thanh
toán chưa
tới
hạn
và
ngắn
hạn
trong
giao
dịch
thương
mại.
Hoạt
động
íactoring không
sử
dụng
thư
tín
dụng
cũng
như các
hối phiếu ngoại
lý
việc
thu
nợ
tiền hàng:
tổ
chức
tài
trợ
íactoring
giữ
trọn
bộ
sổ
sách bán hàng
của
nhà
xuất
khẩu,
phụ trách toàn bộ
việc
quản
lý
và
theo
dõi
tiến
độ
thu
nợ
khi
đến
hạn.
20