LUẬN VĂN: Giải pháp mở rộng và nâng cao hiệu quả hoạt động tín dụng của NHTM ở Việt Nam hiện nay - Pdf 11



LUẬN VĂN:
Giải pháp mở rộng và nâng cao hiệu
quả hoạt động tín dụng của NHTM ở
Việt Nam hiện nay
Lời nói đầu

Lý luận chung về tín dụng Ngân hàng thương mại.
I - tín dụng và các loại tín dụng.
1- Khái niệm.
Tín dụng là là quan hệ chuyển nhượng tạm thời một lượng giá trị (dưới hình
thái tiền tệ hoặc hiện vật) từ người sở hữu (gọi là người cho vay) sang người sử
dụng (gọi là người đi vay) để sau một thời gian nhất định thu hồi về một lượng giá
trị lớn hơn lượng giá trị ban đầu.
Nếu hiểu theo nghĩa hẹp thì tín dụng là sự vay mượn giữa hai chủ thể (người
đi vay và người cho vay) trong đó hai bên thoả thuận một thời hạn nợ và mức lãi
cụ thể.
Nếu hiểu theo nghĩa rộng thì tín dụng là sự vận động của các nguồn vốn từ
nời thừa tới nơi thiếu.
Trong thực tế, tín dụng hoạt động rất phong phú và đa dạng. Nhưng dù ở bất
cứ dạng nào, tín dụng cũng luôn là các quan hệ kinh tế của nền sản xuất hàng hoá.
Tính chất của tín dụng do mục đích và tính chất của nền sản xuất hàng hoá trong
xã hội quyết định. Sự vận động của tín dụng luôn chịu sự chiphối của các quy luật
kinh tế của phương thức sản xuất trong xã hội đó,
2 . Đặc điểm.
Quan hệ tín dụng được xây dựng trên 3 nguyên tắc: có thời hạn, có hoàn trả
và có đền bù.

Mặc dù hình thức biểu hiện của tín dụng là sự di chuyển vốn vay từ người
cho và sang người đi vay song về thực chất chỉ có sự di chuyển của quyền sử dụng
vốn, còn quyền sở hữu vốn vẫn thuộc về người cho vay. Đó là do tính đặc thù của
quan hệ tín dụng là có hoàn trả sau một thời gian nhất định. Và vì vậy mà trong
quan hệ tín dụng, quyền sử dụng và quyền sở hữu vốn vay tách rời nhau.
Khi quyền sở hữu vốn và quyền sử dụng vốn bị tách rời như vậy (do vốn

không được chuyển hết và chi phí sản xuất trong một chu kỳ sản xuất kinh doanh
mà được khấu hao dần dần. Quá trình khấu hao tạo nên một số tiền tạm thời nhàn
rỗi trong quỹ khấu hao.
Do quá trình tuần hoàn và chu chuyển vốn lưu động có những khi doanh
nghiệp đã bán được hàng, thu được tiền những chưa phải dự trữ nguyên vật liệu
hay chưa phải trả lương cho cán bộ công nhân viên do đó có một lượng vốn tạm
thời nhàn rỗi trong quỹ tiền mặt hoặc quỹ lương của doanh nghiệp.
Cuối cùng là lợi nhuận được tích luỹ lại trong quỹ tích luỹ của doanh nghiệp
để mở rộng sản xuất kinh doanh nhưng chưa dùng đến.
b) Từ nguồn tiền nhàn rỗi thu được dưới dạng tiền gửi tiết kiệm của mọi tầng
lớp trong xã hội.
Nguồn tiền nhàn rỗi này hình thành từ khoản tiết kiệm được trích ra từ thu
nhập của người dân và được xem là bộ phận quan trọng nhất trong vốn tín dụng
của một quốc gia.

Trong hai nguồn vốn cung trên thì nguồn vốn từ sản xuất kinh doanh thường
tạo ra cung vốn ngắn hạn. Còn vốn từ tiết kiệm tạo ra cung vốn dài hạn cho nền
kinh tế.
4 . Chức năng và vai trò của tín dụng.
4.1. Chức năng
Tín dụng có ba chức năng cơ bản sau:
a) Tập trung và phân phối lại vốn tiền tệ theo nguyên tắc có hoàn trả.
Tín dụng được xem như chiếc cầu nối giữa các nguồn cung và cầu về vốn
tiền tệ trong nền kinh tế.
Thông qua chức năng này tín dụng đã trực tiếp tham gia điều tiết các nguồn
vốn tạm thời thừa từ các cá nhân, các tổ chức kinh tế để bổ sung kịp thời cho
những doanh nghiệp, Nhà nước hay cá nhân đang gặp thiếu hụt về vốn.

tình hình tài chính của doanh nghiệp nhằm phát hiện kịp thời những vi phạm chế
độ quản lý kinh tế của Nhà nước.
Ngoài ra, qua việc thanh toán không dùng tiền mặt còn tạo điều kiện để kiểm
soát bằng tiền đối với các đơn vị kinh tế, ngân hàng sẽ có cái nhìn tổng quát về cấu
trúc tài chính của các đơn vị.
4.2 . Vai trò.
Tín dụng thể hiện vai trò tích cực của nó trong đời sống kinh tế – xã hội. Tín
dụng góp phần thúc đẩy sản xuất và lưu thông hàng hoá phát triển. Trước hết, tín
dụng góp phần thúc đẩy việc tập trung và tích tụ vốn. Hai là, tín dụng góp phần

điều phối lại vốn trong phạm vi xã hội. Ba là, giải quyết mâu thuẫn giữa việc tự do
di chuyển vốn giữa các ngành với việc vốn sản xuất gắn chặt với hình thái tự nhiên
đã định sẵn cho nó và giữa quy mô đầu tư với tính giới hạn của vốn cá nhân.
5 . Các loại tín dụng.
5.1 .Tín dụng nặng lãi.
Tín dụng nặng lãi là hình thức tín dụng tiêu dùng mà lãi suất rất cao, có thể
lên tới 50%, 100% . . . và thông thường không có giới hạn lãi suất cho loại tín
dụng này. Hình thức này ra đời trong nền sản xuất thấp kém, những người gặp khó
khăn thường đi vay để giải quyết nhu cầu trước mắt của cuộc sống như mua lương
thực, thuốc men,đóng thuế . . .
Ngày nay, trong nền kinh tế thị trường, tín dụng nặng lãi tuy bị đẩy lùi những
không hề bị thủ tiêu. Nó vẫn tồn tại ở hàng thứ yếu và hoạt động trong lĩnh vực mà
người đi vay không vì mục đích sản xuất.
5.2 . Tín dụng thương mại.
Tín dụng thương mại là quan hệ tín dụng giữa những người sản xuất kinh
doanh hàng hoá, dịch vụ trên cơ sở mua bán chịu hàng hoá với nhau thông qua
thương phiếu thương mại.

ưu điểm như về đối tượng cho vay, phạm vi cho vay, khả năng cho vay lớn do đó
nó có vai trò hết sức quan trọng.
Giữa tín dụng ngân hàng và tín dụng thương mại có mối quan hệ chặt chẽ, bổ
sung hỗ trợ cho nhau. Hoạt động tín dụng thương mại sẽ tạo cơ sở cung cấp tín

dụng ngân hàng, thể hiện ở việc cấp tín dụng ngân hàng trên cơ sở thương phiếu
của tín dụng thương mại. Ngược lại, hoạt động tín dụng ngân hàng góp phần khắc
phục các mặt hạn chế của tín dụng thương mại, tạo điều kiện để tín dụng thương
mại phát triển.
5.4 . Tín dụng Nhà nước.
Tín dụng Nhà nước là hình thức tín dụng giữa Nhà nước với các thành phần
khác trong nền kinh tế hay giữa các Nhà nước với nhau.
Mục đích tín dụng Nhà nước là bù đắp thâm hụt ngân sách, phân phối lại
vốn, đầu tư phát triển cơ sở hạ tầng, các lĩnh vực trọng điểm và các vùng kinh tế
còn yếu kém, đồng thời là công cụ tài chính để Nhà nước điều tiết vĩ mô, mở rộng
kinh tế đối ngoại.
5.5 .Tín dụng thuê mua.
Là quan hệ tín dụng giữa các công ty tài chính với người sản xuất kinh doanh
hàng hoá dưới hình thức cho thuê tài sản cố định như máy móc, thiết bị, văn
phòng . . .
Đặc điểm của tín dụng thuê mua là ban đầu là cho thuê, sau chuyển giao
quyền sở hữu.

II – Ngân hàng thương mại và vai trò của tín dụng Ngân hàng thương mại.
1 . Ngân hàng thương mại.
1.1 . Khái niệm.


nghĩa vụ tài chính (Tài sản nợ).
Vốn kinh doanh của các Ngân hàng thương mại có thể được hình thành từ
các nguồn sau:
- Tiền gửi không kỳ hạn: loại này không phải trả lãi, nhưng khách hàng có
thể tiêu dùng bất kỳ lúc nào. Tiền gửi không kỳ hạn chiếm tỷ trọng lớn, và là đối
tượng kinh doanh chính của ngân hàng. Tuy vậy tính chất vận động rất phức tạp,
dễ rủi ro mất khả năng thanh toán.
- Tiền tiết kiệm: chiếm tỷ trọng nhỏ, nhưng tính chất vận động ổn định
- Đi vay: các ngân hàng có thể vay lẫn nhau hoặc vay của ngân hàng Nhà
nước (vay tái chiết khấu).
- Phát hành tín phiếu và kỳ phiếu.
- Vốn tự có: đây là lượng vốn thuộc sở hữu của ngân hàng.
- Tài sản nợ khác (nguồn vốn khác): loại này lúc có lúc không, ngân hàng
này có ngân hàng khác có thể không có.
Bằng hoạt động huy động vốn, ngân hàng đã nắm trong tay phần lớn của cải
xã hội về mặt giá trị
b) Nghiệp vụ sử dụng vốn.
- Nghiệp vụ kho quỹ: đây là hoạt động nhằm đảm bảo khả năng chi trả
thường xuyên cho khách hàng. Để đảm bảo chi trả cho khách hàng khi có một

luồng tiền rút ra ngân hàng phải thực hiện dự trữ bao gồm dự trữ bắt buộc (gửi tại
ngân hàng trung ương), và dự trữ vượt quá (tồn quỹ nghiệp vụ ngân hàng).
- Nghiệp vụ cho vay: là hoạt động cơ bản và chủ yếu của bất kỳ NHTM nào.
Đại bộ phận số tiền đi vay hay huy động được là để cho vay nền kinh tế. Khoản
mục này có tích luỹ kém nhất, độ rủi ro vỡ nợ cao, do đó ngân hàng thu được lợi
tức cao nhất nhờ các khoản cho vay, chiếm 2/3 thu nhập của các NHTM.
- Đầu tư: các ngân hàng có thể đầu tư vào các dự án, đầu tư vào chứng

kiệm sang những nhà đầu tư, phục vụ cho phát triển kinh tế xã hội.
Hoạt động tín dụng giúp tận dụng những nguồn vốn tạm thời nhàn rỗi đưa
vào sản xuất kinh doanh do đó nó góp phần thúc đẩy quá trình chu chuyển tiền tệ,
thúc đẩy quá trình tái sản xuất mở rộng.
Mặt khác, tín dụng ngân hàng còn là công cụ chhủ yếu để tài trợ, đầu tư cho
các ngành, các lĩnh vực then chốt, các vùng kinh tế kém phát triển. Đồng thời nó
tạo lượng tiền cung ứng, phát triển kinh tế đối ngoại, góp phần bình ổn giá cả và
kiểm soát các hoạt động của nền kinh tế.
2.2.2 - Vai trò của tín dụng ngân hàng đối với hoạt động của NHTM.
Đối với các Ngân hàng thương mại, tín dụng là một nghiệp vụ mang lại lợi
nhuận chủ yếu cho ngân hàng, nó quyết định sự tồn tại và phát triển của ngân
hàng. Vì thế cần phải mở rộng và nâng cao chất lượng tín dụng, đa dạng hoá hoạt
động cho vay, đầu tư, đa dạng hoá khách hàng và thời hạn vay để ngân hàng có thể
đứng vững trong cơ chế thị trường.

3 . Hiệu quả và các nhân tố ảnh hưởng đến hiệu quả hoạt động tín dụng
của NHTM.
3.1 . Hiệu quả hoạt động tín dụng.
Theo các nhà Ngân hàng thì hoạt động tín dụng được coi là có hiệu quả khi
đảm bảo ba yếu tố: khả năng sinh lợi, khả năng thu hồi nợ đúng hạn và khả năng
thanh khoản từ phía nguồn. Điều này có nghĩa là các ngân hàng khi tiến hành cho
vay thì khoản vay đó phải mang lại thu nhập cho ngân hàng, bảo đảm trang trải
được chi phí trả lãi huy động hoặc đi vay, chi phí ngân hàng và rủi ro, cùng với
khả năng trả nợ của khách hàng và sự cân xứng từ phía nguồn. Hiệu quả hoạt động
tín dụng được đánh giá thông qua:
- Quy mô tín dụng :
+ Doanh số cho vay.

ngân hàng có lãi. NHTM huy động vốn tự nhiều nguồn khác nhau, mỗi nguồn đều
có mức lãi suất nhất định.
c) ảnh hưởng của yếu tố rủi ro.
Rủi ro trong hoạt động ngân hàng là hiện tượng bên vay vốn không trả được
nợ khi đến hạn. Có rất nhiều nguyên nhân khiến khách hàng không trả được nợ:
- Nguyên nhân khách quan: do thiên tai, do biến động của thị trường, do sự
thay đổi của lãi suất, tỷ giá. . . Rủi ro thiên tai là rủi ro bất khả kháng đối với
người vay, làm người vay thiệt hại nặng không trả được nợ. Rủi ro do biến động

của thị trường, biến động lãi suất hay tỷ giá là do biến động tình hình kinh tế,
chính trị do thay đổi chính sách kinh tế của Nhà nước dẫn đến những biến động
gây bất lợi cho khách hàng.
- Nguyên nhân chủ quan: là những nguyên nhân từ phía ngân hàng hay do
khách hàng gây ra. Do việc sử dụng vốn sai mục đích của khách hàng, ngoài ra
còn do sự quản lý yếu kém đối với vốn vay quản lý kinh doanh kém cũng là
nguyên nhân dẫn đến thua lỗ, mất khả năng thanh toán, không thực hiện được
nghĩa vụ trả nợ. Về phía ngân hàng, do việc thẩm định dự án không chính xác,
không phát hiện ra sai lầm của khách hàng trong việc tìm hiểu thị trường để tư
vấn cho khách hàng, hoặc do cán bộ tín dụng cố tình hay thiếu kinh nghiệm nên
khó tránh khỏi rủi ro khi cho vay.
Nói chung, rủi ro là điều mà bất kỳ ngân hàng nào cũng có thể gặp phải,
nhưng nếu hiểu rõ nguyên nhân gây rủi ro thì ta có thể có biện pháp hạn chế và tìm
cách xử lý thích hợp.
d) ảnh hưởng của các chính sách kinh tế.
Ngân hàng thương mại là một tổ chức kinh doanh trong lĩnh vực tài chính
tiền tệ, nó chịu sự quản lý chặt chẽ của Nhà nước và hoạt động trong khuôn khổ
pháp luật. Ngoài luật doanh nghiệp, luật ngân hàng thì trong quá trình hoạt động

nhanh cả về số lượng và chất lượng hoạt động đóng vai trò ngày càng lớn trong
nền kinh tế. Hiện nay hệ thống NHTM ở Việt Nam đã có hàng trăm ngân hàng
thuộc đủ các thể loại như NHTM quốc doanh (NHNN & PTNT, NHĐT & PT,
NHCT, …), ngân hàng cổ phần, ngân hàng liên doanh giữa Việt Nam và nước
ngoài, một số chi nhánh ngân hàng nước ngoài đang hoạt động ở Việt Nam.
Nước ta, do thị trường chứng khoán mới ra đời, phát triển chưa mạnh, chưa
phát huy hết hiệu quả nên hệ thống NHTM vẫn là kênh dẫn vốn chủ yếu, có vai trò
tập trung, điều hòa vốn, đáp ứng phần lớn nhu cầu về vốn cho các doanh nghiệp,
cá nhân và cả Nhà nước. Trong quá trình hoạt động, mặc dù các NHTM đã gặt
hái được nhiều thành tựu nhưng vẫn còn những tồn tại cần được nhanh chóng khắc
phục.
II - Thực trạng hoạt động tín dụng của các nhtm ở Việt Nam
1 . Thực trạng hoạt động tín dụng NHTM ở Việt Nam.
1.1 . Quy mô, cơ cấu huy động và cho vay.

 Về khả năng tạo lập vốn:
Ngay từ khi Pháp lệnh ngân hàng ra đời các NHTM đã chú trọng việc ổn
định và ngày càng tăng trưởng nguồn vốn, coi đó là mục tiêu chiến lược của ngân
hàng. Các NHTM một mặt có các giải pháp đa dạng hoá hình thức huy động vốn,
áp dụng chính sách lãi suất linh hoạt, cạnh tranh; mặt khác áp dụng chính sách
bảo vệ khách hàng, dịch vụ trọn gói : nhận tiền gửi, cấp tín dụng, mua bán ngoại
tệ, thực hiện dịch vụ thanh toán… đồng thời nâng cao chất lượng dịch vụ nhằm tạo
ra các giải pháp huy động vốn có hiệu quả.
Nhìn chung, tổng nguồn vốn NHTM trong mấy năm qua tương đối ổn định
và có chiều hướng tăng, trong đó vốn của các NHTMQD chiếm phần lớn. Tốc độ
tăng trưởng bình quân 20 – 30% năm và đến những năm gần đây tốc độ này đã
giảm do biến động chung của tình hình kinh tế khu vực và thế giới.

đắt tiền… Ngành ngân hàng cũng mở ra một lĩnh vực mới đó là cho vay tiền người
đi xuất khẩu lao động.
Các NHTM đã cung cấp phần lớn vốn cho đầu tư phát triển các lĩnh vực then
chốt, đòi hỏi nhiều vốn theo kế hoạch của Nhà nước. Các NHTM đã cho vay
những khoản hợp vốn bằng ngoại tệ cho những dự án lớn: Nhà nước khí điện đạm
Cà Mau có tổng số vốn đầu tư trên 5700 tỷ VND, nhà máy nhiệt điện Phú Mỹ. 6
NHTM đồng tài trợ 230 triệu USD cho dự án phân đạm Phú Mỹ. 3 TCTD đồng tài
trợ 30 triệu USD cho Petro Việt Nam mua tàu chở dầu thô; 4 NHTMQD đồng tài
trợ 95 triệu USD cho Dự án xi măng sông Gianh; dự án mỏ khí Lan Tây, Lan Đỏ
và đường ống dẫn khí Nam Côn Sơn được tài trợ 50 triệu USD… và hàng loạt dự
án lớn khác thuộc lĩnh vực dầu khí, hàng không, điện lực, bưu chính viễn thông,
đóng tàu… tổng cộng vốn tín dụng trị giá trên 1 tỷ USD.
 Về tốc độ cho vay vốn:

Trong mấy năm qua tốc độ cho vay của các NHTM còn thấp, chỉ chiếm
khoảng 70% tổng dư nợ tín dụng (1997 là 73,15%; 1998 là 71,2%); lượng vốn tồn
đọng trong hệ thống ngân hàng còn lớn, do vậy ngân hàng phải trả một khoản chi
phí lớn chi lãi huy động trong khi không thu được lợi nhuận. Cho đến năm 1999
do tác động của giảm phát các ngân hàng đã hạ thấp lãi suất huy động vốn, áp
dụng nhiều biện pháp nhằm khơi thông nguồn vốn trong hệ thống NHTM, nhưng
tốc độ cho vay tăng rất chậm.
Tốc độ huy động và cho vay của hệ thống NHTM năm 1999.
QuýI QuýII Quý III Quý IV
Huy động 9,3 19,3
Cho vay âm 6 8,5 10
(Nguồn : Chuyên san TBKT Việt Nam 98’ - 99’)
Như vậy, tốc độ cho vay tăng chậm trong khi lượng tiền gửi vào ngân hàng

doanh số Cho vay và tổng dư nợ liên tục tăng. Tuy nhiên để xem xét, đánh giá
hiệu quả hoạt động tín dụng thì ta cần xem xét chất lượng các khoản vay đó.
Hiện nay, bên cạnh các mặt đã làm được, hoạt động của hệ thống NHTM còn
nhiều vấn đề bất cập làm cho quá trình kinh doanh gặp nhiều thách thức mới.
Một trong những vấn đề nổi cộm hiện nay là mức dư nợ quá hạn rất lớn. Chất
lượng tín dụng của các khoản vay rất thấp, nhất là các NHTM cổ phần đô thị, sau
đó là các NHTM quốc doanh, các NHTM cổ phần nông thôn. Tỷ lệ nợ quá hạn của
hệ thống ngân hàng Việt Nam được công bố vào cuối năm 1998 là 13,6% tương
ứng với khoảng 14.000 tỷ đồng tăng gấp đôi so với tỷ lệ một năm trước đó và cuối
năm 2000 con số này là 9,2%.
Nếu xét riêng từng loại ngân hàng thương mại năm 1998 ta thấy:

Các NHTM cổ phần đô thị có dư nợ quá hạn chiếm khoảng 20% và nợ khó
đòi vào khoảng 10 % so với tổng dư nợ.

Các NHTM quốc doanh có mức dư nợ quá hạn chiếmkhoảng 11% và nợ khó
đòi khoảng 8% so với tổng dư nợ.
Các NHTM cổ phần nông thôn mức dư nợ quá hạn chiếm khoảng 5,6% và
nợ khó đòi là 0,7% so với tổng dư nợ.
Với các chi nhánh ngân hàng nước ngoài và ngân hàng liên doanh có các tỷ
lệ rất thấp, nợ quá hạn chiếm khoảng 2,3%, còn nợ khó đòi chỉ khoảng 1,2% so
với tổng dư nợ. Do vậy tỷ lệ nợ quá hạn của hệ thống ngân hàng trong nước là trên
15%, gấp 3 lần mức được coi là nguy hiểm.
Năm 1992 1993 1994 1995 1996 1997 1998
Tổng NQH/VTC 88,1 95,5 85 61,9 75,7 62,3 46
Tổng NQH/Tổng dư nợ 13,7 11,1 6,0 7,8 9,3 9,5 10
Tổng NQH/ Tổng TS Có 6,0 6,6 5,5 4,4 5,5 5,4 5,5

cạnh những thành tựu đã đạt được vẫn còn tồn tại một số mặt yếu kém cần khắc
phục:
Một là, về nguồn vốn cho vay và sử dụng vốn : các NHTM trong nhiều
năm qua đã có nhiều chính sách, giải pháp linh hoạt nhằm thu hút nguồn vốn nhàn
rỗi trong dân cư, trong các tổ chức kinh tế. Nhưng tỷ trọng nguồn vốn có kỳ hạn
trong tổng nguồn vốn huy động còn thấp (khoảng 30 - 40%). Đây là một khó khăn
của các ngân hàng khi muốn mở rộng quy mô cho vay dài hạn. Mặt khác, các
ngân hàng vẫn chưa sử dụng hết lượng vốn đã huy động được, hệ số sử dụng vốn
còn thấp. Trong mấy năm gần đây, lượng vốn được sử dụng cho vay, đầu tư chỉ

Trích đoạn I Những kiến nghị với phía Nhà nước và các cơ quan hữu quan.
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status