NHỮNG GIẢI PHÁP NHẰM MỞ RỘNG VÀ NÂNG CAO HIỆU QUẢ ĐẦU TƯ TÍN DỤNG CỦA NGÂN HÀNG NÔNG NGHIỆP VÀ PHÁT TRIỂN NÔNG THÔN HUYỆN KINH MÔN ĐỐI VỚI KINH TẾ HỘ NÔNG DÂN - Pdf 75

NHỮNG GIẢI PHÁP NHẰM MỞ RỘNG VÀ NÂNG CAO HIỆU QUẢ ĐẦU TƯ
TÍN DỤNG CỦA NGÂN HÀNG NÔNG NGHIỆP VÀ PHÁT TRIỂN NÔNG
THÔN HUYỆN KINH MÔN ĐỐI VỚI KINH TẾ HỘ NÔNG DÂN
I . PHƯƠNG HƯỚNG PHÁT TRIỂN CỦA KINH TẾ HỘ NÔNG DÂN Ở
HUYỆN KINH MÔN :
Chính sách quản lý đổi mới nông nghiệp đã có tác động và làm thay đổi
lớn tới sự phát triển kinh tế nông nghiệp nói chung và xu hướng phát triển kinh tế
hộ nói riêng. Ngày nay các hộ nông dân ở huyện Kinh Môn cũng như trong cả
nước đang chuyển từ kinh tế tự túc, tự cấp không kín sang nền kinh tế sản xuất
hàng hóa nông sản tiếp cận thị trường, chuyển dịch kinh tế thuần nông sang sản
xuất đa dạng theo hướng : Giỏi nghề gì làm nghề đó, có những hộ vươn lên sản
xuất hàng hóa ngày càng cao hoặc có những hộ tách từ nông nghiệp chuyển sang
kinh doanh ngành nghề.
Trên cơ sở cải tiến công cụ và thiết bị, tăng năng suất lao động và đi dần
vào sản xuất theo hướng chuyên môn hóa, hình thành các hộ sản xuất nông
nghiệp nuôi trồng thủy sản, phát triển trang trại và cây ăn quả sản xuất thủ công
nghiệp, kinh doanh thương nghiệp ...
Trong quá trình chuyển hóa tất yếu, có sự phân hóa giầu nghèo, Nhà nước
phải có chính sách quản lý vĩ mô, đảm bảo cho kinh tế hộ phát triển, tăng số hộ
giầu và giảm số hộ nghèo .
Sự hình thành các nông hộ kiểu mới đã tạo nên sự chênh lệch giữa các hộ
về quy mô và cơ sở vật chất kỹ thuật như : Về diện tích đất đai, vốn lao động,
trình độ hiểu biết. Đây là các yếu tố dẫn đến sự phát triển không đồng đều giữa
các hộ. Mặt khác sự phát triển kinh tế hộ sẽ nẩy sinh ra quá trình tích tụ tập trung
ruộng đất, vốn và cơ cấu vật chất ngày càng tăng, đã giảm tính manh mún, phân
tán của nền sản xuất tiểu nông sang nền sản xuất hàng hóa .
Theo quy luật phát triển tất yếu của nền sản xuất hàng hóa, cạnh tranh xẩy
ra, cùng với nó là sự phá sản và tích tụ cũng xẩy ra. Những hộ có vốn lại biết tính
toán làm ăn sẽ thắng trong cạnh tranh và họ sẽ mua sắm nhiều tư liệu sản xuất
tiên tiến và điều tất yếu sẽ trở thành những ông chủ mới ở nông thôn .
1

hơn địa vị của người nông dân đối với ruộng đất . Cần phải tạo điều kiện để
2
2
người nông dân trở thành người chủ thực sự trong nông thôn, chỉ như vậy mới có
thể chuyển nông thôn qua sản xuất hàng hóa nông phẩm hướng tới thị trường.
Hợp pháp hóa quyền sử dụng, quyền thừa kế đất đai sẽ tạo điều kiện để nông dân
yên tâm bỏ vốn, công sức, đẩy mạnh sản xuất kinh doanh. Còn việc hợp pháp
quyền chuyển nhượng ruộng đất sẽ tạo điều kiện cho sự tích tụ, tập trung ruộng
đất, lao động hình thành cơ cấu kinh tế mới, nhân tố quan trọng trong sự phát
triển kinh tế nông nghiệp .
Việc cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng ruộng đất, cần triển khai dứt
điểm. Đây cũng là một khó khăn cho việc quan hệ vay vốn của nông dân đối với
ngân hàng. Hiện nay UBND tỉnh chưa cấp đủ sổ đỏ về quyền sử dụng đất thổ cư
cho dân, khó khăn cho ngân hàng trong việc cho vay thế chấp tài sản (bất động
sản) đối với những hộ vay trên 10 triệu đồng.
2 . Chính sách thuế :
Nhà nước cần nghiên cứu và triển khai chính sách thuế nông nghiệp cho
khoa học phù hợp với điều kiện của nông thôn, khuyến khích phát triển sản xuất
tăng nguồn thu cho ngân sách nhưng cũng phải nên cải tiến hệ thống thuế hiện
nay ở nông thôn, chỉ nên thu thuế sử dụng đất và chất lượng đất. Thuế đối với
nông dân nên thu một năm hai kỳ bằng tiền, xóa bỏ thu thuế bằng hiện vật. Nhà
nước điều chỉnh cơ cấu cây trồng vật nuôi bằng mức thuế theo hướng mở rộng
vùng chuyên canh theo định hướng của Nhà nước, nhằm phát triển tổng hợp, toàn
diện trong nông nghiệp, phá thế độc canh cây lúa, khuyến khích nông dân đầu tư
phát triển các loại sản phẩm có giá trị cao cho tiêu dùng và xuất khẩu, khai thác
giải phóng những tiềm năng sẵn có của từng địa phương để phục vụ cho sự
nghiệp phát triển đất nước .
3 . Chính sách hỗ trợ ban đầu của Nhà nước :
Kinh tế huyện Kinh Môn chủ yếu là nông nghiệp, thu nhập từ cây lúa hàng
năm chiếm tỷ trọng khá lớn so với tổng sản phẩm trong huyện. Do đó việc đầu tư

tế, Nhà nước cần có những chính sách vĩ mô về thị trường nông thôn, về những
chi phí đầu vào và thị trường đầu ra như giá cả, chính sách thu mua các cơ sở chế
biến ... tránh tình trạng dân làm ra không có nơi tiêu thụ .
4
4
Nói đến sản xuất hàng hóa phải nói đến thị trường tiêu thụ, việc nghiên
cứu dự báo nhu cầu thị trường, xu hướng biến động trong nước với việc tiêu thụ
sản phẩm là rất quan trọng. Do đó trong vai trò quản lý vĩ mô Nhà nước cần quan
tâm giải quyết vấn đề này. Với việc củng cố và mở rộng thị trường tiêu thụ và
dịch vụ. Nhà nước cần có chính sách đảm bảo cho thị trường lao động và thị
trường tài chính tiền tệ trong nông thôn có điều kiện phát triển và phát huy tác
dụng .
5 . Chính sách bảo hiểm mùa màng và bao tiêu nông phẩm :
Từ nền kinh tế kế hoạch hóa chuyển sang cơ chế thị trường, giá bán vật tư
và giá mua nông sản được hình thành theo nguyên tắc thỏa thuận, căn cứ vào
quan hệ cung cầu trên thị trường . Nhất là từ khi hộ sản xuất được tự chủ sản xuất
thì việc sản xuất hầu như do từng hộ lo liệu . Nhưng do trình độ của nông dân còn
thấp và bỡ ngỡ với cơ chế mới. Sản xuất canh tác dựa vào kinh nghiệm dân gian
với những kỹ thuật canh tác lạc hậu, giống cây trồng vật nuôi được cải tạo nhưng
chưa nhiều vì vậy năng suất lao động chưa cao .
Muốn tạo ra hiệu quả cao hơn thì phải thay đổi tập quán canh tác bằng
những biện pháp: Nâng cao trình độ cho người nông dân, tăng cường hoạt động
của các tổ chức khuyến nông và đặc biệt là công tác bảo hiểm mùa màng cho
nông dân. Trong sản xuất nông nghiệp thường phụ thuộc vào thiên nhiên thường
gặp nhiều rủi ro (do thiên tai gây ra). Nhà nước cần giành một phần ngân sách để
tổ chức công tác bảo hiểm mùa màng cho nông dân, thông qua các tổ chức bảo
hiểm. Nhưng muốn làmg được như thế thì các tổ chức bảo hiểm phải được thành
lập và tổ chức hoạt động theo đúng quy định của Nhà nước (có thể trực thuộc
Công ty bảo hiểm hoặc phòng nông nghiệp, cũng có thể hoạt động độc lập). Đội
ngũ cán bộ hoạt động phải có chuyên môn, có năng lực về nghề nghiệp, tận tuỵ

tại một nơi cố định nào đó, một khu vực nào đó nhưng cũng có thể là cơ chế "môi
giới giao dịch" giữa những nơi có nhu cầu vốn khác nhau, giữa các chủ thể tham
gia vào quá trình lưu thông . Chính những hoạt động này đã hình thành và đẩy
mạnh sự phát triển thị trường tài chính tín dụng ở nông thôn.
Quá trình lưu thông tài chính ở nông thôn gồm hai hình thức :
- Hình thức trực tiếp : Người có vốn và người có nhu cầu vốn giao dịch
trực tiếp với nhau trong quan hệ mua bán tiền vốn thông qua những công vụ giao
6
6
dịch như : Tiền mặt, các loại giấy tờ có giá trị (tín phiếu, trái phiếu) hoặc bằng
hiện vật (kim loại qúy).
- Hình thức gián tiếp : Người có vốn và người cần vốn giao dịch với nhau
thông qua một tổ chức trung gian làm nhiệm vụ lưu thông vốn chẳng hạn như :
Ngân hàng cổ phần, ngân hàng nông nghiệp, qũy tín dụng nhân dân, các tổ chức
trung gian này đã thu nhận tiền vốn từ những người có vốn sau đó cho vay lại đối
với những người có nhu cầu vốn. Ngân hàng nông nghiệp quốc doanh đóng vai
trò quan trọng và có tính chất quyết định trong những tác nhân hình thành nên thị
trường tài chính tín dụng ở nông thôn Việt Nam hiện nay .
Thị trường vốn trong nông thôn huyện Kinh Môn diễn ra sôi động với
nhiều hình thức lưu thông vốn khác nhau kể cả hệ thống chính thức và không
chính thức . Ngân hàng Nhà nước nhất là Ngân hàng nông nghiệp Việt Nam với
vai trò chỉ đạo cần giải quyết hàng loạt vấn đề dần dần điều tiết thị trường vốn
này. Cùng với những củng cố và tăng cường mạng lưới của Ngân hàng nông
nghiệp, cần phải thành lập hệ thống các ngân hàng cổ phần nông thôn, qũy tín
dụng nhân dân khu vực, để hình thành và đẩy mạnh sự hoạt động của thị trường
vốn trong nông thôn đáp ứng những nhu cầu kinh tế thị trường .
2 . Những giải pháp nghiệp vụ cụ thể để mở rộng thị trường tín dụng
và nâng cao hiệu quả tín dụng :
Một là : Mở rộng nguồn vốn .
Nội dung quan trọng nhất trong chính sách tài chính của Nhà nước nói

loại: Kỳ phiếu ký danh và không ký danh, kỳ phiếu ký danh có chuyển nhượng và
không chuyển nhượng và không chuyển nhượng, kỳ phiếu trả lãi trước, trả lãi
hàng kỳ hoặc trả lãi một lần khi đến hạn... nhằm đáp ứng nhu cầu đa dạng của thị
trường để khuyến khích người mua đồng thời tạo thuận lợi cho lưu chuyển kỳ
phiếu trên thị trường .
- Mở rộng các loại tiết kiệm kỳ hạn trên một năm: Trước mắt lên áp dụng
kỳ hạn 13 tháng, loại 2 năm để phù hợp với trình độ tính toán của người dân .
Cùng với đa dạng hoá các hình thức huy động vốn cần phát triển mạng
lưới kinh doanh đa năng. Ngân hàng nông nghiệp không chỉ nhận gửi , cho vay
theo lối truyền thống mà còn mở rộng các nghiệp vụ tín dụng thuê mua, cầm cố,
8
8


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status