TIỂU LUẬN:
Lạm phát và giảm phát là những
vấn đề phức tạp cả về nhận thức
lý luận và xử lý thực tiễn Lời nói đầu
Lạm phát là một trong những hiện tượng quan trọng nhất của thế kỷ 20, là
hiện tượng vốn có của các nền kinh tế sử dụng tiền tệ và là một hiện tượng phổ biến ở
nhiều nước trên thế giới . Nó tồn tại ở cả những nước phát triển và chậm phát triển , cả
Lạm phát là hiện tượng vốn có của một nền kinh tế sử dụng tiền tệ , và là một
hiện tượng kinh tế phổ biến ở nhiều nước trên thế giới . Nó tồn tại ở cả những nước
phát triển và chậm phát triển , cả trong thời kỳ kinh tế khủng hoảng , suy thoái hay
hưng thịnh . Các định nghĩa lạm phát đưa ra thường được tiếp cận từ hai khía cạnh chủ
yếu : Thứ nhất là các định nghĩa xuất phát từ việc xem xét các nguyên nhân của lạm
phát , chẳng hạn như : “lạm phát là tiền lương danh nghĩa tăng nhanh hơn năng suất
lao động “. Với định nghĩa này thì chủ yếu là giải thích về nguyên nhân của lạm phát
hơn là một định nghĩa về lạm phát . Cách tiếp cận thứ hai khá phổ biến hiện nay là ,
tập trung vào những ảnh hưởng của lạm phát :Lạm phát là mức giá cả chung tăng lên .
Sự tăng lên của mức giá làm giảm giá trị tiền tệ được đo bằng sức mua đối nội của nó .
Mức biến động giá cả khác nhau giữa các nước sẽ chuyền ảnh hưởng đến tỉ giá ngoại
tệ và làm giamr sức mua đối ngoại của đồng tiền . Đối nghịch với lạm phát là giảm
phát ,đó là khi giá cả chung có xu hướng giảm xuống . Cả hai hiện tượng đều có thể
gây ra những ảnh hưởng tiêu cực đến đời sống kinh tế , xã hội .
Sự tăng giá mới chỉ phản ánh hình thức biểu hiện của lạm phát . Bản chất của
lạm phát được thể hiện ở tính chất của sự tăng giá đó là sự tăng giá với tốc độ cao và
kéo dài hay chỉ là tạm thôi . Một sự tăng giá tạm thời có thể xuất phát từ nhiều nguyên
nhân khác nhau , nhưng chỉ có sự tăng lên của tiền tệ mới dẫn đén sự tăng giá kéo dài
và với tốc độ cao . Như vậy tỉ lệ lạm phát thực sự phản ánh tình hình tăng tiền trong
lưu thông .
2. xác định lạm phát
Đã đành lạm phát là sự tăng giá hàng hoá ở mọi mặt hàng . Thế nhưng có ba
điều kiện cơ bản để xác định nó một cách chính thức :
Để biết được tình trạng tăng giá , người ta phải so sánh giá cả hàng hoá giữa thời
điểm này với thời điểm khác làm mốc. Nếu trong khoảng giữa hai thời điểm , giá
mà tăng thì đó là lạm phát . Nếu gọi P1 ,P0 lần lượt là giá cả của hàng hoá ở thời
số như 20%, 100% hoặc 200% trên một năm .Loại lạm phát này kéo dài suốt thập
kỷ 80 và gần hết thập kỷ 90 ở các nước Mĩ la tinh với mức biến động giá hàng năm
từ 20%-300%. Cuộc khủng hoảng dầu mỏ lần hai (8/1978) đã đẩy Hoa Kỳ , Pháp
và Anh vào cơn lạm phát cho đến tận những năm 1983 . Hởu quả của lạm phát đến
đời sống là không nhỏ ,nó trở thành mối đe doạ đến sự ổn định của nền kinh tế .
Nguyên nhân là do sự tăng lên của khối tiền trong lưu thông . Khi giá cả hàng hoá
biến động mạnh giá trị tiền tệ giảm qua các thời kỳ , tiền giấy bắt đầu giảm trong
thanh toán . Trong thời kỳ lạm phát phi mẵ, sản xuất không phát triển , hệ thống tài
chính tín dụng bị tàn lụi .
Siêu lạm phát xảy ra khi tốc độ tăng giá vượt xamức lạm phát phi mã , có thể lên
tới hàng nghìn tỉ lần , như các cuộc siêu lạm phát điển hình trong lịch sử như : Lạm
phát ở Nga sau cách mạng tháng 10 , lạm phát ở Mỹ thời kỳ sau nội chiến . Năm
1985 Bolivia lạm phát đến 11000% một năm. Thế nhưng , điển hình nhất của siêu
lạm phát trong lịch sử tiền tệ , là ở Đức trong giai đoạn 1922-1923, kể từ tháng
11/1921 đến 11/1923, giá cả bình quân ở Đức tăng 1500 tỉ lần so với mức trước
năm 1914. Tình trạng này là không phổ biến . Nhưng nếu lạm phát vọt từ 3 chữ số
trở nên, nền kinh tế suy sụp một cách nhanh chóng vì sản xuất không chịu hoạt
động hoặc hoạt động cầm chừng ,bởi vì khi họ sản xuất cang nhiều thì càng bị lỗ vì
vật tư lên giá nhanh . Tiền sẽ trở nên khó được chấp nhận trong những tình hình
như vậy . Siêu lạm phát mang những đặc trưng :
Siêu lạm phát có sức phá huỷ mạnh toàn bộ hoạt động của nền kinh tế và thường đi
kèm với suy thoái kinh tế nghiêm trọng ,nó dẫn đến đảo lộn chính trị , xã hội . Do
phát hành tiền giấy không hạn chế nhằm bù đắp thiếu hụt ngân sách nhà nước dẫn đến
sự tăng giá quá cao .
Ngoài cách phân loại lạm phát dựa trên độ lớn nhỏ của tỉ lệ % lạm phát trên một
năm . Ta còn có thể chia lạm phát dựa vào mặt định tính như sau :
Lạm phát cao và lạm phát thấp
Không thể đánh giá theo cách chủ quan theo cách của mình rằng đây
là lạm phát cao ,kia là lạm phát thấp nếu không hiểu rõ tiêu chuẩn hoặc mốc để đánh
giá . Bởi vì cao hay thấp không đơn thuần chỉ dựa vào tỉ lệ % của năm đó .Lạm phát
được gọi là cao khi tỉ lệ tăng bình quân năm của giá lớn hơn mức tăng của thu nhập
trong cùng thời gian . Ngược lại nó được gọi là thấp khi tỉ lệ tăng của nó từ nhỏ đến rất
nhỏ so với mức tăng cuả thu nhập . Như vậy ,mốc tiêu chuẩn đánh giá là dựa vào tỉ lệ
tăng của thu nhập . Lạm phát cao đến rất cao khi nó làm cho đời sống của nhân dân trở
nên khó khăn vì thu nhập thì không tăng hoặc tăng rất ít , trong khi giá cả hàng tháng
tăng liên tục . Lạm phát được gọi là thấp đến rất thấp nếu nền kinh tế tuy vẫn có lạm
phát , nhưng tỉ lệ lạm phát vẫn nhỏ hơn so với thu nhập , do đó đời sống nhân dân vẫn
tốt hơn , sung sướng hơn .
II . Nguyªn nh©n cña l¹m ph¸t
Mỗi một loại lạm phát có những nguyên nhân riêng của nó . Nguyên
nhân của lạm phát vừa phải có điều tiết khác với nguyên nhân của siêu lạm phát.
Nguyên nhân lạm phát của một nền kinh tế phát triển có hiệu quả khác với nguyên
nhân lạm phát cuả nền kinh tế suy thoái không hiệu qủa . Không những thế , lạm phát
ở các nước tư bản chủ nghĩa khác với lạm phát của các nước đang phát triển cũng như
là ở những nước kế hoạch hoá tập trung cao . Song cho dù có sự khác nhau thế nào đi
chăng nữa , các cuộc lạm phát đều có những nguyên nhân có tính chất chung . Những
nguyên nhân đó là :
1 . Lạm phát cầu kéo
Lạm phát do cầu kéo xảy ra khi tổng cầu tăng lên mạnh mẽ tại mức sản lượng
đã đạt hoặc vượt quá tiềm năng . Trong thực tế , khi xảy ra lạm phát cầu kéo , người ta
thường nhận thấy lượng tiền trong lưu thông và lượng tiền tín dụng tăng đáng kể và
cả của hàng hoá nước ngoài so với hàng hoá cùng loại được sản xuất trong nước và thu
nhập bình quân của thị trường nước ngoài có những ảnh hưởng quan trọng đến nhu
cầu hànghoá xuất khẩu và do đó đến tổng cầu cũng như mức giá cả nội địa .Sự tăng
lên của nhu cầu trong nước và nước ngoài hoặc việc mở rộng khối lượng tiền cung ứng
sẽ làm tăng nhu cầu thanh toán của xã hội dẫn đến áp lực làm tăng giá , Tuy nhiên
trong điều kiện nền kinh tế chưa đạt mức sản lượng tiềm năng , thì việc tăng tổng cầu
lại trở thành một chính sách lạm phát có hiệu quả để đẩy mạnh khả năng sản xuất của
xã hội .
Rõ ràng là dù nhu cầu về tiền danh nghĩa có tăng lên hay không , mọi sự gia
tăng cuả cung ứng tiền danh nghĩa ,về ngắn hạn đều gây ra lạm phát . Về mặt dài hạn ,
khi sản lượng đã phần nào mở rộng theo cung ứng tiền , thì sự chuyển tiếp từ sản
lượng qua gia tăng tổng cầu trên thị trường hàng hoá tiếp tục là bàn tay gây ra lạm phát
theo quan điểm của Keynes . Dù trực tiếp hay gián tiếp , ngắn hạn hay dài hạn , cung
ứng tiền tăng là nguyên nhân thường thấy của vấn đề lạm phát .
2 . Lạm phát chi phí đẩy
Đặc điểm quan trọng của lạm phát chi phí đẩy là áp lực làm tăng giá cả xuất
phát từ sự tăng lên của chi phí sản xuất vượt quá mức tăng của năng suất lao động và
làm giảm mức cung ứng hàng hoá của xã hội . Có rất nhiều loại chi phí mà sự biến
động của nó ảnh hưởng ngay đến giá cả hàng tiêu dùng . Năm 1973 , 1978 OPEC tăng
giá dầu thô , năm 1990-1991 khủng hoảng vịnh Persian , cả ba lần , giá cả bình quân ở
hầu như tất cả các nước trên thế giới đềCó rất nhiều loại chi phí mà sự biến động của
nó ảnh hưởng ngay đến giá cả hàng tiêu dùng . Năm 1973 , 1978 OPEC tăng giá dầu
thô , năm 1990-1991 khủng hoảng vịnh Persian , cả ba lần , giá cả bình quân ở hầu
như tất cả các nước trên thế giới đều tăng .
Vì dầu thô là nguyên liệu chủ yếu của ngành vận tải , trong khi tất cả các loại
hàng hoá đều liên quan không ít thì nhiều đến vận tải ,do đó sự lên giá dầu kéo theo sự
tiền nước ngoài càng lên thì hàng hoá cànglên giá . Và giá hàng lên càng kéo tỉ giá lên
nhanh hơn , kinh tế càng bị lạm phát .
Tuy nhiên , các nhà kinh tế ở khắp các nước vẫn thừa nhận rằng : có vai trò
của tâm lý trong khuynh hướngkéo giá hàng hoá lên theo tỉ giá trong khi lạm phát đã
thực sự hình thành . Khuynh hướng đó rất đặc trưng ở khu vực xuất nhập khẩu . Khu
vực này chi phối mạnh mẽ tình hình sản xuất , chi phí và giá cả các khu vực còn lại
trong trong nền kinh tế , nhất là ở các nước hướng ngoại . nên khi khu vực xuất nhập
khẩu lên giá hàng hoá của họ theo tỉ giá , những giá cả còn lại đồng loạt lên giá theo .
Nhìn chung lạm phát xảy ra do : cầu kéo , chi phí đẩy và tỉ giá lên cao. Tuy
nhiên , hai nguyên nhân sau sẽ không có cơ sở bộc phát nếu cung ứng tiền danh nghĩa
không gia tăng , bởi sự lên giá hàng hóa , lao động và ngoại tệ . Chính ung ứng tiền đã
gián tiếp là cơ sở cho hai nguyên nhân sau . Vì cung ứng tiền danh nghĩa không tăng
nhanh , nếu NHTƯ quản lý chặt việc phát hành tiền ra trong lúc giá lao động , dầu thô
, ngoại tệ lên . Sự thắt chặt sẽ dẫn đến giảm sức mua nhanh chóng , cầu giảm , sản
lượng sụt , thất nghiệp tăng và giá lao động hạ xuống và quá trình lạm phát sẽ bị kìm
hãm . Khi cung ứng tiền không là tác nhân trực tiếp gây nên lạm phát thì nó vẫn gián
tiếp ảnh hưởng . Hơn nữa ,nó hoàn toàn có khả năng giữ cho giá cả hạ trở lại .Vì
những lý do đó , chính sách tiền tệ là nguyên nhân đích thực của lạm phát .
III. hËu qu¶ cña l¹m ph¸t
Tác động kinh tế xã hội của lạm phát rất khác nhau tuỳ thuộc vào mức độ lạm
phát và khả năng dự đoán chính xác sự biến động của mức lạm phát .Điều nguy hiểm
của lạm phát không chỉ nằm ở mức độ của lạm phát mà còn ở sự xuất hiện bất ngờ của
nó . Khi tỉ lệ lạm phát biến động ngoài dự tính , nó tạo nên sự biến động bất thường về
giá trị tiền tệ và làm sai lệch toàn bộ thước đo các quan hệ giá trị , ảnh hưởng đến mọi
hoạt động của đời sống kinh tế xã hội .
Lãi suất tăng lên
Tác động đầu tiên của lạm phát lên đời sống kinh tế xã hội là nó làm
trình phân phối lại thu nhập , do lạm phát thường là không hợp lý và làm tăng thêm sự
bất bình đẳng.
3 . ảnh hưởng đến cán cân thanh toán quốc tế
Lạm phát làm cho chính phủ được lợi nhiều hơn từ thuế thu nhập đánh vào
nhân dân . Chính phần thu nhập thực tế mà nhân dân mất đi đã chạy vào ngân sách của
chính phủ , thì ngược lại , trong quan hệ kinh tế đối ngoại , những khoản nợ quốc gia
của chính phủ đối với các nước sẽ trở nên trầm trọng hơn . Chính phủ được lợi trong
nước nhưng lại bị thiệt đối với nợ nước ngoài . Vì lạm phát làm tỉ giá hối đoái tăng và
đồng tiền trong nước trở nên mất giá nhanh hơn so với tièen tệ nước ngoài tính trên
các khoản nợ . Nếu lạm phát trong nước không đổi , lạm phát ở nước ngoài tăng cao .
Tình trạng đó sẽ làm cho đồng tiền nội địa lên giá và chính phủ sẽ vui mừng vì các
khoản nợ nước ngoài nhỏ lại . Tuy nhiên ,cái lợi từ việc giảm các khoản nợ không thể
bù được các khoản thiệt hại xuất khẩu và sản lượng .
Lạm phát và thu nhập thực tế
Lạm phát không chỉ làm hao mòn giá trị của tài sản không có lãi tức
tiền mặt ,nó còn làm hao mòn cả những tài sản có lãi .Thuế thì được ấn định cho một
năm hoặc nhiều năm . Nên trong thời hạn ngắn hạn nó rất khó điều chỉnh . Trong khi
lạm phát có thể xảy ra vào bất cứ lúc nào . Vì vậy vô hình chung , khi lạm phát xảy ra
càng chất thêm gánh nặng thuế thu nhập và các loại thuế khác lên người lao động . Kết
quả là lạm phát càng cao , thu nhập thực tế của nhân dân càng giảm . Đời sống của họ
càng khó khăn hơn . Ngay cả khi lãi suất và tiền lương được điều chỉnh theo cùng tỉ lệ
lạm phát .
Lạm phát và thất nghiệp
Mọi người đều không ưa gì lạm phát . Nhưng để đẩy lùi nó bao giờ
cũng phải có những giá nhất định . Chi phí để chống lạm phát cũng là một trong những
hậu quả của nó đối với nền kinh tế .Mức giá chung tăng lên có thể gây nên sự giảm sút
của tổng cầu và công ăn việc làm , do đó gia tăng tỉ lệ thất nghiệp . Tổng cầu giảm khi Khuyến khích tiết kiệm bằng nhiều phương pháp , thông dụng nhất là biện pháp điều
chỉnh lãi suất tiền gửi tiết kiệm theo thời hạn , thời hạn càng dài lãi suất càng cao .
Trong thời kỳ lạm phát nghiêm trọng , cần áp dụng chính sách tiền tệ ổn định. Như ở
Mỹ vào đầu thập kỷ 80 để ngăn chặn tình trạng lạm phát cao , họ đã áp dụng chính
sách lãi suất cao và giảm mức tăng giá . Từ 1979-1982 lượng cung ứng M2 khống chế
ở mức tăng trong vòng 9% , áp dụng chính sách tiền tệ thắt chặt để giảm lạm phát ,
chỉ số vật giá từ 10,3% năm 1981 giảm xuống còn 6,2% năm 1982 và sau đó giữ được
ở mức bình quân là 3 đến 4%.
2. Chính sách tài chính
Phương pháp chính của chính sách tài chính là giảm thấp mức chi của chính phủ và
công cộng , tăng mức thuế đối với doanh nghiệp tư nhân ,để giảm bội chi dự toán cân
bằng .
Tiết kiệm chi ngân sách nhà nước , cắt giảm các khoản chi không tác động đến sự
phát triển có hiệu quả của nền kinh tế .
Nâng cao hiệu quả thu ngân sách nhà nước ,tăng thu nhưng phải bảo đảm nuôi
dưỡng nguồn thu , đặc biệt chính sách thuế phải có tác dụng hướng dẫn, thúc đẩy sản
xuất kinh doanh phát triển .
Hạn chế tình trạng bội chi ngân sách , không sử dụng biện phát hành tiền để bù đắp
bội chi ngân sách . Nếu bội chi nên sử dụng biện pháp vay để bù đắp bội chi .
Như ở Anh năm 1976 chính phủ đã áp dụng chính sách mới , bộ tài chính qui định
:hạn chế mức chi công cộng của hai năm tài chính từ năm 1977 đến năm 1979 chỉ
được đạt mức thực tế của năm 1976 –1977 , đồng thời đối với hơn một nửa các hạng
mục chi cũng chỉ dùng trong tổng số tiền hiện có. Những biện pháp đó , đã có hiệu lực
giảm bớt chi phí công cộng , vì vậy đã giảm đáng kể sức ép của lạm phát .
Đầu năm 1949 Nhật đã lập một dự toán siêu cân bằng , nhằm giảm nhẹ sức ép của
tài chính với tiền tệ , giảm bớt nhu cầu . Cách làm đó đưa lại hiệu quả rất nhanh . Tài
chính từ bội chi đã có thừa , phát hành tiền quá mức cho phép đã được khống chế . Chỉ
tiêu dùng đặc biệt , là những mặt hàng có khả năng lũng đoạn thị trường . Chính phủ
tích cực sử dụng các thủ đoạn để đạt mục tiêu chống lạm phát . Ngoài thủ đoạn dự
toán tài chính , chính phủ nhập hàng hoá giá rẻ như dầu thô , thu hút vốn nước ngoài
vào Mỹ . Đối với các xí nghiệp lũng đoạn thì họ tăng cường công tác giám sát , vì vậy
đã có tác dụng nhất định trong việc giảm thấp lạm phát dù là trực tiếp hay là gián tiếp
.Mỹ tuy theo kinh tế thị trường nhưng kinh tế liên bang chiếm tỉ lệ khá lớn , chính phủ
có thể điều chỉnh giá thông qua đầu tư , sự nghiệp xã hội phân phối thu nhập
4. Chính sách thu nhập
Chính sách thu nhập mang tính chất quy định tức là nhà nước tham gia tối đa vào
việc xác định các khoản thu nhập một cách đơn phương . Chính sách thu nhập này
thường được áp dụng ở Mỹ
Chính sách thu nhập mang tính chất hợp đồng dựa trên sự thoả thuận giữa các thành
phần xã hội . Hợp đồng này được thoả thuận giữa các nhà lãnh đạo doanh nghiệp nhà
nước và tổ chức công đoàn cuả công nhân , do nhà nước đứng ra bảo trợ , sau đó áp
dụng cho khu vực kinh tế tư nhân . Loại này thường được áp dụng ở Thuỵ Điển .
Chính sách thu nhập mang tính chất hướng dẫn thường được áp dụng ở Pháp theo
một chương trình kế hoạch hoá cũng có tính chất hướng dẫn , được áp dụng theo một
phạm vi rộng hơn là chính sách thu nhập theo hợp đồng
Chính sách thu nhập mang tính chất khuyến khích ,đang có xu hướng áp dụng
xuống tận xí nghiệp , cho chủ và công nhân tự quyết định . Qui định một mức tăng của
giá trị gia tăng được ghi vào kế hoạch nhà nước . Nếu vượt quá qui định của nhà nước
thì xí nghiệp đó phải mua tín phiếu trên thị trường, còn nếu thấp hơn thì phải bán ra
các tín phiếu thị trường .
5.Chính sách tỉ giá
Khi đồng tiền trong nước bị mất giá trong điều kiện nền kinh tế mở cửa
Thì trước hết giá cả hàng nhập khẩu sẽ tăng cao , tiếp đó sẽ làm tăng giá hàng bán
trong các năm 1986 – 1988 , với chỉ số tăng giá ở mức cao , phổ biến từ 15-20% . Tuy
nhiên , cũng chỉ sau khi lạm phát bùng nổ thành siêu lạm phát với những hậu quả nặng
nề về kinh tế và xã hội trong những năm nửa sau của thập kỷ 80 thì chính sách chống
lạm phát , kiềm chế và đẩy lùi siêu lạm phát , tiến tới kiểm soát lạm phát mới thành
vấn đề có ý nghĩa chiến lược quan trọng ở Việt Nam . Kiểm soát lạm phát là một trong
những vấn đề ưu tiên trong việc hoạch định chính sách kinh tế vĩ mô của nhà nước .
I . C¸c giai ®o¹n l¹m ph¸t
Lạm phát trong giai đoạn từ 1980 trở về trước :
Diễn biến của quá trình lạm phát trong những năm 1956- 1975 trong kinh tế miền
bắc XHCN và những năm 1975-1980 trong phạm vi cả nước . Trong giai đoạn này
lạm phát chịu ảnh hưởng sâu sắc của những đặc điểm trong sự phát triển kinh tế
của cả hai giai đoạn đó . Những đặc trưng chủ yếu là :
Lạm phát kéo dài suốt 25 năm của cả hai giai đoạn phát triển kinh tế , nhưng
không phải là quá trình liên tục , diễn biến theo hướng tăng lên .
Trong quá trình lạm phát 25 năm do cơ chế kế hoạch hoá tập trung , quan liêu
bao cấp gây ra , song hành hai thị trường : thị trường của nhà nước và thị trường tự do
.
Do sự tách rời giữa thị trường có tổ chức và thị trường tự do nên trong giai
đoạn này căn bệnh lạm phát chưa được phát hiện trong nền kinh tế kế hoạch hoá tập
trung . Nhà nước định giá cho hầu hết sản phẩm và dịch vụ lưu thông trên thị trường ,
chỉ đạo theo phương châm ổn định và phấn đấu để hạ giá hàng hoá , hoàn toàn thoát ly
khỏi qui luật thị trường . Có nhiều thời kỳ ,chỉ số giá bán lẻ do nhà nước qui định
không hề thay đổi , thậm chí có nhiều năm diễn biến theo chiều hướng giảm phát một
cách giả tạo .
Lạm phát trong giai đoạn 19811985
Trong giai đoạn này , kể từ cuộc cải cách giá cả , tiền lương và cuộc cải
- Nguyên nhân cơ cấu kinh tế bất hợp lý gây ra lạm phát có tính thường trực , nhưng
là nguyên nhân tiềm ẩn , nguyên nhân trực tiếp là sai lầm làm mất cân đối nghiêm
trọng trong các quan hệ phân phối thu nhập quốc dân , trong các chính sách tài
chính và ngân sách nhà nước , trong chính sách tiền tệ tín dụng.Kết quả là cầu đã bị
kích lên dẫn đến lạm phát cao hơn .
- Quá trình cải cách giá , lương , tiền đã có mục tiêu và bước đi khá thận trọng , đúng
đắn song quá trình này đã không lường hết được khả năng kích động lạm phát gia
tăng , do đó không có giải pháp phòng ngừa , xử lý và khắc phục khả năng gia tăng
lạm phát .
3 . Giai đoạn siêu lạm phát 19861988
Lạm phát với mức độ rất cao kéo dài hơn 3 năm liên tục ,sau đó hạ dần ,
nhưng đến năm cuối của thời kỳ vẫn còn trên 400% . Lạm phát 3 con số kéo dài 3 năm
liên tục là sự kiện hiếm có không những trong lịch sử kinh tế Việt Nam mà đối với cả
phần lớn các nước khác trên thế giới .
Lạm phát được mở đầu bằng cuộc cải cách lớn về giá và lương cùng với việc
đổi tiền . Riêng tiền lương thì đây là lần cải cách thứ nhất sau 25 năm thực hiện chế độ
lương cũ , 1981 tăng lương với mức độ khá lớn 80-100% nhưng không cải cách chế
độ tiền lương và mức độ đó so với 1985 cũng chỉ là rất nhỏ . Cải cách giá và lương ,
đổi tiền trở thành nguyên nhân trực tiếp làm bùng nổ lạm phát 3 con số thời kỳ này .
Thời kỳ 1986-1988 ảnh hưởng giá cả trong quan hệ xuất nhập khẩu tuy có nhẹ
hơn thời kỳ 1981-1985 song cũng vẫn bất lợi cho cán cân thanh toán của Việt Nam .
Chỉ số giá xuất khẩu 1987 và 1988 đã giảm so với 1985 là 0.6% và 2%, trong khi đó
chỉ số giá nhập khẩu tăng liên tục từ 1985 đến 1988 . Tình hình nhập siêu gần như
không thay đổi , kim ngạch nhập khẩu so với xuất khẩu 1985 là 2,65 và 1987 là 2,87
và 1988 là 2,65.
Nếu những chu kỳ lạm phát trước đây diễn ra trong cơ chế cũ , chiến tranh và
nguồn thu , giảm bội chi , hạn chế và tiến tới ngừng phát hành bù đắp thiếu hụt ngân
sách . Chính sách tiền tệ khan hiếm bắt đầu được sử dụng để kiểm soát lượng tiền
cung ứng , cùng với sự thay đổi trong quan niệm về tiền tệ cũng như quản lý tiền tệ ,
hệ thống ngân hàng đã được cải cách toàn diện theo hướng hiệu quả và chất lượng
nhằm tăng hiệu quả của chính sách tiền tệ .Chính sách lãi suất cao được áp dụng ,sau
nhiều thập kỷ nhười gửi tiền nhận được lãi suất dương nó có tác dụng to lớn trong
việc giảm tiêu dùng và giảm mức độ biến động giá thậm chí xuống âm trong các tháng
5,6,7 năm 1989.
Bên cạnh các giải pháp làm giảm áp lực của tổng cầu , chính phủ tập trung vào
việc nâng cao hiệu quả của nền kinh tế nhằm giảm chi phí tăng năng suất lao động , sử
dụng tiết kiệm có hiệu quả các nguồn lực xã hội . Từ năm 1988 nền kinh tế thực bước
vào thời kỳ cải cách theo cơ chế thị trường , năng lực xã hội bắt đầu được khai thác và
có điều kiện phát huy tác dụng thông qua phát triển chính sách kinh tế đa thành phần .
Các chính sách giá cả , tài chính , tín dụng phần nào đã được xây dựng phù hợp với cơ
chế thị trường , tạo điều kiện thúc đẩy cạnh tranh và hiệu quả . Sự thay đổi căn bản này
thực sự đã mở rộng mức sản lượng tiềm năng của xã hội và tạo nên thời kỳ tăng trưởng
vững chắc trong những năm sau .
Các giải pháp chiến lược nhằm tạo sự ổn định tiền tệ vững chắc vẫn tiếp tục
được hoàn thiện trong suốt thập kỷ 90 , tăng cường hiệu lực cuả chính sách tiền tệ , kết
hợp với điều chỉnh hợp lý tỉ giá ngoại tệ , cải cách chính sách tài khoá , chính sách
thuế , thực hiện cổ phần hoá doanh nghiệp nhà nước một cách triệt để , là cơ sở duy trì
mức lạm phát vừa phải trong nhiều năm .
Mặc dù tỉ lệ lạm phát được kiềm chế ở mức thấp nhưng dường như ngân hàng
nhà nước không chủ động trong việc kiểm soát lượng tiền cung ứng , do phải đáp ứng
các nhu cầu chi tiêu của chính phủ cho các đối tượng chính sách , thiên tai hạn hán ,
kênh tín dụng còn chưa hiệu quả , do khủng hoảng của thị trường tiền tệ khu vực hoặc
Thông qua phân tích các giai đoạn diễn biến thực tế của quá trình lạm phát ở
Việt Nam có thể nêu các nguyên nhân của lạm phát kéo dài trong nền kinh tế như sau :
Cơ cấu kinh tế hình thành từ các giai đoạn phát triển kinh tế miền Bắc , trải qua
thời kỳ xây dựng trong hoà bình , thời kỳ chuyển hướng kinh tế sang thời chiến và gần
hai thập kỷ xây dựng kinh tế trong thời bình trên phạm vi cả nước đã bộc lộ nhiều mâu
thuẫn nhiều mặt mất cân đối , cuối cùng đã dẫn đến một cơ cấu sản xuất , cơ cấu đầu
tư tồn tại nhiều mặt không khớp với cơ cấu tiêu dùng sản phẩm xã hội ở Việt Nam .
Đó là nguyên nhân cơ bản và sâu xa .
Cơ chế kinh tế cũ cũng là nguyên nhân đặc thù gây nên lạm phát dù bị che đậy
chuyển thành lạm phát ngầm ,trong nhiều thập kỷ ở Việt Nam . Trong hơn một thập kỷ
gần đây , công cuộc cải cách nhất là cải cách giá là tất yếu , nếu được thực hiện thành
công sẽ tạo tiền đề cho việc chống lạm phát từ gốc , song những va vấp do thiếu kiến
thức và kinh nghiệm , do tiến hành cải cách thiếu đồng bộ , các bước đi không vững
chắc về chính sách vĩ mô , đặc biệt là do xử lý mối quan hệ cải cách giá , cải cách ngân
hàng ( chính sách tiền tệ , tín dụng , lãi suất , tỉ giá hối đoái ) và cải cách tài chính (
ngân sách quốc gia , thuế và điều hành cán cân thanh toán quốc tế ) không đồng bộ
và không hỗ trợ được cho nhau , đã trở thành nguyên nhân trực tiếp dẫn đến lạm phát
cao kéo dài và đi đến 3 năm siêu lạm phát .
Nếu nguyên nhân về cơ cấu kinh tế và cơ chế cũ là nguyên nhân có tính cơ bản ,
sâu xa của thực trạng lạm phát kéo dài ở Việt Nam , thì trong từng giai đoạn của quá
trình lạm phát kéo dài đó các nguyên nhân về lạm phát tiền tệ , lạm phát nhu cầu và
lạm phát chi phí đã và đang là những nguyên nhân trực tiếp dẫn đến những hình thái
và các biểu hiện trong từng thời kỳ với mức độ khác nhau của lạm phát . Những
nguyên nhân trực tiếp này liên quan đến việc hoạch định và điều hành các chính sách
tiền tệ , tín dụng , lãi suất , tỉ giá hối đoái , chính sách thuế và tài chính nói chung ,
chính sách giá cả và thu nhập cũng như chính sách xuất nhập khẩu và đầu tư từ nguồn