TIỂU LUẬN: Một số vấn đề lý luận về kế toán tập hợp chi phí và tính giá thành sản phẩm - Pdf 11


TIỂU LUẬN:

Một số vấn đề lý luận về kế
toán tập hợp chi phí và tính
giá thành sản phẩm
Lời nói đầu

Trong điều kiện nền kinh tế thị trường với nhiều thành phần kinh tế đang
phát triển, sự ra đời của hàng loạt các doanh nghiệp trẻ và đầy tiềm năng khiến cho
sự cạnh tranh giữa các doanh nghiệp ngày càng trở nên gay gắt. Vì vậy muốn tồn
tại và phát triển điều cốt yếu mỗi doanh nghiệp cần đạt được là sản phẩm sản xuất
ra phải được sự chấp nhận của khách hàng cả về mặt chất lượng và giá cả. Để làm
được điều này các doanh nghiệp một mặt cần phải tăng cường đổi mới công nghệ
sản xuất, nâng cao nănng suất lao động và chất lượng sản phẩm, một mặt cần phải
chú trọng công tác quản lý sản xuất, quản lý kinh tế đảm bảo sản xuất kinh doanh

vụ hay lao vụ còn có những hoạt động kinh doanh và những hoạt động khác không
mang tính chất sản xuất như hoạt động bán hàng, hoạt động quản lý…, tuy nhiên
chỉ có những chi phí gắn liền với quá trình sản xuất nhằm tạo ra sản phẩm mới
được coi là chi phí sản xuất.
Chi phí sản xuất của doanh nghiệp phát sinh trong suốt quá trình tồn tại và
hoạt động sản xuất cuả doanh nghiệp, nó gắn liền với các công việc triển khai
nghiệp vụ ở từng vị trí sản xuất, từng sản phẩm và từng loại hoạt động sản xuất
kinh doanh. Do đó, để phục vụ cho quản lý và hạch toán kinh doanh chi phí sản
xuất phải được tính toán tập hợp theo từng thời kỳ: hàng tháng, hàng quý, hàng
năm và được tập hợp theo nơi phát sinh chi phí, theo đối tượng chịu chi phí. Chỉ
những chi phí sản xuất mà doanh nghiệp phải bỏ ra trong kỳ mới được tính vào chi
phí sản xuất trong kỳ.
Việc phân loại chi phí sản xuất có tác dụng để kiểm tra và phân tích quá trình
phát sinh chi phí và hình thành giá thành sản phẩm nhằm thúc đẩy mọi khả năng
tiềm tàng hạ giá thành sản phẩm, nâng cao hiệu quả sản xuất kinh doanh của
doanh nghiệp. Trong quá trình kinh doanh để thuận lợi cho công tác quản lý và
hạch toán cần thiết phải phân loaị chi phí sản xuất, xuất phát từ các yêu cầu khác
nhau của quản lý, chi phí sản xuất cũng được phân ra theo những tiêu thức khác
nhau. Phân loại một cách đúng đắn các chi phí sản xuất còn có ý nghĩa rất lớn
trong việc nâng cao chất lượng kiểm tra và phân tích kinh tế. Tuỳ theo yêu cầu của
quản lý và công tác hạch toán ta có các cách phân loại khác nhau:
II. Phân loại chi phí sản xuất.
1. Phân loại chi phí theo yếu tố chi phí.
Theo cách phân loại này căn cứ vào tính chất nội dung kinh tế của chi phí sản
xuất khác nhau để chia ra các yếu tố chi phí. Mỗi yếu tố chỉ bao gồm những chi
phí có cùng nội dung kinh tế, không phân biệt chi phí đó phát sinh ở lĩnh vực nào,
ở đâu và mục đích hoặc tác dụng của chi phí đó là như thế nào. Cách phân loại này
có tác dụng trong việc quản lý chi phí sản xuất. Toàn bộ chi phí sản xuất trong kỳ
được chia làm các yếu tố sau:
- Chi phí NVL.

lượng công việc hoàn thành.
- Chi phí biến đổi: là những chi phí có sự thay đổi về tổng số, về tỷ lệ
với khối lượng của sản phẩm sản xuất trong kỳ.
Cách phân loại này có ý nghĩa quan trọng với công tác quản trị kinh doanh,
phân tích điểm hoà vốn và phục vụ cho việc ra các quyết định quản lý một cách
chính xác.
4. Phân loại chi phí sản xuất theo phương pháp tập hợp chi
phí.
- Chi phí trực tiếp: là những chi phí sản xuất quan hệ trực tiếp đến
việc sản xuất ra một loại sản phẩm. Những chi phí này kế toán có thể căn cứ vào
số liệu chứng từ kế toán để ghi trực tiếp cho từng đối tượng tập hợp chi phí.
- Chi phí gián tiếp: là những chi phí sản xuất có liên quan đến việc
sản xuất nhiều loại sản phẩm. Những chi phí này kế toán phải tiến hành phân bổ
cho các đối tượng có liên quan theo tiêu thức phân bổ hợp lý.
Cách phân loại này có ý nghĩa quan trọng trong việc xác định phương pháp
kế toán tập hợp chi phí cho các đối tượng một cách đúng đắn hợp lý.
Phần II
Thực trạng công tác tập hợp chi phívà tính giá thành sản phẩm

I.Tổng quan về công ty nhựa bách hoá tổng hợp
1.Quá trình hình thành và phát triển của doanh nghiệp.
Do có sự thay đổi nên đến tháng 7 năm 97 tổng công ty công ty nhựa bách
hoá giải thể ,xí nghiệp nhựa công ty nhựa bách hoá sát nhập vào công ty rượu
,nước giải khát Thăng long thuộc sở thương mai Hà Nội nhưng vẫn hoạt động độc
lập
Tên gọi: Công ty nhựa bách hoá
Trụ sở chính:181 lạc long quân –cầu giấy –hà nội.
*Nhiệm vụ chính của công ty nhựa bách hoá
Dùng nguyên vật liệu nhập ở ngoài về và theo yêu cầu của khách hàng để
sản xuất các mặt hàng như áo ni lon, ví, túi và các mặt hàng phục vụ cho nhu caauf

Trong giai đoạn này nhà máy thực hiện kinh doanh theo cơ chế bao cấp, đầu
vào đầu ra đều do nhà nước đảm nhận, doanh nghiệp chỉ lo sản xuất để hoàn thành
vượt mức kế hoạch được giao, do đó tình hình sản xuất và tiêu thụ sản phẩm tương
đối ổn định và theo xu thế năm sau cao hơn năm trước, sản phẩm làm ra luôn được
khách hàng ưa chuộng và tiêu thụ từ Bắc vào Nam.
Các sản phẩm chủ yếu đạt mức tiêu thụ cao nhất như: túi năm 1988 tiêu thụ
3,608 triệu chiếc, ví 1,2 triệu chiếc, vải tăng 1,4 triệu m
2
. Dây chuyền sản xuất làm
việc theo chế độ 3 ca.
1.3. Giai đoạn chuyển đổi cơ chế thị trường từ 1989 đến nay.
Đây là giai đoạn nền kinh tế nước ta bắt đầu chuyển từ cơ chế tạp trung sang
cơ chế thị trường với chính sách mở cửa của nền kinh tế thị trường trong nước
xuất hiện những sản phẩm tương tự của nhà máy. Vì thế sản phẩm tiêu thụ của nhà
máy bị thu hẹp đáng kể. Đứng trước tình hình đố công ty đã phải tìm cách nâng
cao chất lượng sản phẩm của mình để cạnh tranh với sản phẩm cùng loại trên thị
trường. Công ty đã từ bức tìm phương hướng , giải pháp hợp lý như nâng cao kỹ
thuật, đa dạng hoá sản phẩm, tìm bạn hàng mới để ký hợp đông, tìm biện pháp hạ
giá thành sản phẩm. Ngoài ra công ty còn đầu tư hai dây chuyền may áo đi mưa và
tăng với công suất thiết kế là 500.000 sản phẩm/năm.
Ngày 28/8/1994 xí nghiệp đổi tên thành Công Ty công ty nhựa bách hoá
theo giấy phép thành lập số 100151 ngày 23/8/1994 của uỷ ban kế hoạch nhà nước
với chức năng hoạt động đa dạng hơn phù hợp với yêu cầu cụ thể của công ty và
xu thế quản lý tất yếu hiện nay. Năm 1997 công ty tiếp tục đầu tư một dây chuyền
may, thiết bị nhập toàn bộ của Nhật Bản với 150 máy may công nghiệp đã đi vào
hoạt động năm 1998. Trong việc thực hiện chiến lược đa dạng hoá sản phẩm và
chuyên môn hoá sản xuất công ty chủ động tìm các đối tác liên doanh, liên kết để
sản xuất và tìm kiếm thị trường ( từ 1993) . Bước đầuđã tiêu thụ được 160 chiếc
túi tử xĩ,bóng thám không trong đó xuất khẩu đực 600 chiếc ( số liệu 9 tháng đầu
năm 2000) và dự tính trong những năm tới đây sẽ là mặt hàng chủ lực của công ty.


3. Cơ cấu tổ chức bộ máy quản lý của doanh nghiệp.
Trong cơ chế thị trường cũng như nhiều công ty khác, công ty nhựa bách
hoá được quyền chủ động quyết định tổ chức bộ máy quản lý trong nội bộ để phù
hợp với đặc điểm của doanh nghiệp và hoạt động có hiệu quả. Hiện nay công ty
đang tổ chức bộ máy quản lý theo kiểu trực tuyến chức năng. Theo cơ cấu tổ chức
này, toàn bộ hoạt động của công ty đều chịu sự quản lý thống nhất của Giám đốc
công ty. Với 962 cán bộ CNV, Công ty thường xuyên kiêm toàn bộ máy tổ chức
quản lý, cho đến thời điểm này bộ máy quản lý của công ty được bố trí theo sơ đồ
sau:

Sơ đồ tổ chức bộ máy quản lý của công ty
Máy gián
cao tần
Nhà máy
may
Nhà máy
cắt
Nhập
kho


- Giám đốc công ty: Là người chịu trách nhiệm trước nhà nước về toàn bộ
hoạt động kinh doanh của công ty và là người chỉ huy cao nhất, điều hành mọi
hoạt động kinh doanh của công ty, đảm bảo việc làm và thu nhập cho cán bộ công
nhân viên trong toàn công ty theo luật nhà nước ban hành.
- Phó giám đốc công ty: Là người giúp đỡ Giám đốc các mặt hoạt động
được phân công và uỷ quyền trong việc ra quyết định.
- + Phó Giám đốc phụ trách phòng kế toán và thông qua kế toán để nắm
được mọi hoạt động sản xuất kinh doanh , kế hoạch xuất nhập khẩu của công ty .
- Kế toán trưởng: Là người giúp Giám đốc thực hiện pháp lệnh kế toán
trong công ty và các phòng ban khác.
 Chức năng nhiệm vụ của các phòng ban:
- Phòng tổ chức
+ Chức năng: Tham mưu cho giám đốc về quản lý hành chính, quản trị
(Tổ chức bộ máy quản lý và lao động tiền lương).
+ Nhiệm vụ: Nghiên cứu xây dựng hoàn thiện mô hình tổ chức công ty đào
tạo, sắp xếp cán bộ công nhân viên, xây dựng quỹ tiền lương, định mức lao động,
tổng hợp ban hành các quy chế quản lý sử dụng lao động, giải quyết chế độ lao
động theo quy chế nhà nước, thực hiện các nghiệp vụ lẽ tân, nghiệp vụ quản trị.
+ Thư ký Giám đốc: Thực hiện các nghiệp vụ văn thư.
- Phòng Marketing:
+ Chức Năng: Xây dựng chiến lược sản phẩm của công ty, quản lý các hoạt
động của công ty.
+ Nhiệm vụ: Tiếp nhận, phân tích các thông tin khoa học kinh tế mới, xây
dựng quản lý các quy trình quy phạm tiêu chuẩn chất lượng sản phẩm, định mức
kỹ thuật, tiến hành nghiên cứu chế tạo sản phẩm mới, tổ chức quản lý đánh giá các
sáng kiến, cải tiến kỹ thuật trong công ty, tổ chức kiểm tra, xác định trình độ tay
nghề công nhân, quản lý hồ sơ kỹ thuật công ty.
- Phòng sản xuất kinh doanh:
+ Chức năng: Điều hành toàn bộ các hoạt động sản xuất kinh doanh, kế
hoạch xuất nhập khẩu của công ty, tổ chức tiêu thụ sản phẩm, quản lý cung ứng

- * Phó Giám đốc công ty kiêm Giám đốc phân xưởngphụ trách
chung.
Định kỳ đầu tuần các Giám đốc xí nghiệp họp giao ban cùng lãnh đạo công
ty và các bộ phận phòng ban của công ty, báo cáo tình hình sản xuất kinh doanh.
Thông qua mọi hoạt động của phân xưởng, Giám đốc công ty cùng các phòng
chức năng chỉ đạo sản xuất xuống từng phân xưởng.
II. đặc điểm công tác kế toán tại cty nhựa bách hoá hà nội
1.Tổ chức bộ máy kế toán.
Công ty nhựa bách hoá Hà Nội là một đơn vị hoạt động chủ yếu là sản xuất
ra các loại vải dân dụng, may gia công cho xuất khẩu và nội địa. Hạch toán kinh tế
độc lập, có tư cách pháp nhân, tự trang trải tính toán mọi khoản chi phí để đạt lợi
nhuận cao nhất. Về nghiệp vụ phòng kế toán tài chính chịu sự lãnh đạo của Giám
đốc công ty, địa bàn hoạt động của công ty rất rộng nhưng không phân tán, vì vậy
việc thu thập phân tích chứng từ kế toán và quyết toán qua phòng tài chính kế toán
cũng phải chọn phương pháp phù hợp, đảm bảo tính tập trung kịp thời.
Bộ phận kế toán của công ty hiện nay bao gồm 9 người, đứng đầu là kế toán
trưởng kiêm trưởng phòng, sau đó là phó phòng, các nhân viên kế toán và thủ quỹ
được thể hiện bằng sơ đồ sau:

Sơ đồ bộ máy kế toán của công ty


Kế toán
tiền
lương
Kế toán
CPSX và
tính
giá
thành
Kế toán
thành
phẩm,
tiêu
thụ
Kế toán
thanh
toán
Nhân viên kinh tế ở các xí nghiệp
thành viên
2. Hình thức ghi sổ kế toán tại cty.
Để thực hiện tốt công tác kế toán cũng như tổ chức bộ máy kế toán căn
cứ vào sự phân cấp quản lý kinh tế tài chính của công ty. Đồng thời để áp
dụng với quy mô hoạt động sản xuất kinh doanh ở công ty, phòng kế toán tài
vụ đã áp dụng hình thức kế toán "Nhật ký chứng từ". Chứng từ và sổ sách kế
toán.
2.1.Hệ thống chứng từ kế toán sử dụng trong công ty.
Mọi số liệu ghi chép vào sổ sách kế toán đều phải có cơ sở đảm bảo tính
pháp lý được pháp luật thừa nhận tức là những số liệu đố phải được chứng minh
một cách hợp lý, hợp pháp theo quy định nhà nước về công tác kế toán trong các
doanh nghiệp.
Theo điều lệ tổ chức kế toán do nhà nước ban hành thì mọi nghiệp vụ tài

trong công ty được áp dụng theo quyết định 1864/1998/QĐ/BTC kể từ ngày
01/01/1999.
sơ đồTrình tự ghi sổ kế toántheo hình thức nhật ký chứngtừ.

Ghi chú:
: Ghi hàng ngày.
: Hàng tháng (Quý).
: Kiểm tra đối chiếu.
Chứng từ
g
ốc

Sổ
qu


Bảng phân
b


Sổ chi

khoản tương ứng giữa bảng kê với nhật ký. Sau khi đã kiểm tra đối chiếu thấy số
liệu giữa các sổ hợp lệ với nhau, kế toán căn cứ vào số liệu ở bảng kê, nhật ký
chứng từ, sổ cái và bảng tổng hợp chi tiết để lập bảng cân đối kế toán và báo cáo
tài chính.
 Tài khoản loại 1: Tài sản lưu động:
+ TK 111: Tiền Mặt.
1111: Tiền Việt Nam.
1112: Ngoại tệ.
+ TK 112: Tiền gửi ngân hàng.
1121: Tiền Việt Nam.
1122: Ngoại tệ.
+TK 133: Thuế GTGT được khấu trừ.
1331: Thuế GTGT được khấu trừ của hàng hoá, dịch vụ.
1332: Thuế GTGT được khấu trừ của TSCĐ.
+ TK 131: Phải thu của khách hàng.
1311: Phải thu của khách hàng.
1312: Khách hàng ứng trước triền hàng.
+ TK 138: Phải thu khác.
1381: Tài sản thiếu chờ xử lý.
1388: Phải thu khác.
+ TK 141: Tạm ứng.
+ TK 142: Chi phí trả trước.
1421: Chi phí trả trước.
1422: Chi phí chờ kết chuyển.
+ TK 144: Thế chấp, ký cược, ký quỹ ngắn hạn.
+ TK 152: Nguyên liệu, vật liệu.
1521: Nguyên vật liệu chính.
1522: Vật liệu phụ.
1523: Nhiên liệu.
1524: Phụ tùng thay thế.

+ TK 335: Chi phí phải trả.
+ TK 338: Phải trả phải nộp khác (3381, 3382, 3383, 3384, 3388).
+ TK 341: Vay dài hạn.
+ TK 342: Nợ dài hạn.
 Tài khoản loại 4: Nguồn vốn chủ sở hữu.
+ TK 411: Nguồn vốn kinh doanh.
+ TK 413: Chênh lệch tỷ giá.
+ TK 414: Quỹ đầu tư phát triển.
+ TK 421: Lãi chưa phân phối (4211, 4212).
+ TK 441: Nguồn vốn XDCB.
+ TK 461: Nguồn vốn kinh phí sự nghiệp (4611, 4612).
 Tài khoản loại 5: Doanh thu.
+ TK 511: Doanh thu bán hàng (5111, 5112, 5113).
+ TK 531: Hàng bán bị trả lại.
+ TK 532: Giảm giá hàng bán.
 Tài khoản loại 6: Chi phí sản xuất kinh doanh.
+ TK 621: Chi phí nguyên vật liệu trực tiếp.
+ TK 622: Chi phí nhân công trực tiếp.
+ TK 627: Chi ohí sản xuất chung (6271, 6272, 6273, 6274, 6277, 6278).
+ TK 632: Giá vốn hàng bán.
+ TK 641: Chi phí bán hàng (6411, 6412, 6413, 6414, 6417, 6418).
TK 642: Chi phí quản lý doanh nghiệp (6421, 6422, 6424…).
 Tài khoản loại 7: Thu nhập hoạt động khác.
+ TK 711: Thu nhập hoạt động tài chính.
+ TK 721: Thu nhập hoạt động bất thường.
 Tài khoản loại 8: Chi phí hoạt động khác.
+ TK 811: Chi phí hoạt động tài chính.
+ TK 821: Chi phí hoạt động bất thường.
 Tài khoản loại 9: Xác định kết quả kinh doanh.
+ TK 911: Xác định kết quả kinh doanh.

Theo giá thực tế: 376.698.030 đ
Nhập trong kỳ: Theo giá hạch toán: 2.645.576.054 đ
Theo giá thực tế : 2.518.608.421 đ
Xuất trong kỳ: Theo giá hạch toán : 2.251.910.298 đ
Hệ số giá =
Gtt NVLC tồn đầu kỳ + Gtt NVLC nhập trong kỳ
Ght NVLC tồn đầu kỳ + Ght NVLC nhập trong kỳ
=
376.968.030 + 2.518.608.421
=

0,98
322.479.239 + 2.645.576.054
Gtt NVLC xuất trong kỳ = hệ số giá x Ght
= 0,98 x 2.251.910.298 = 2.208.872.092
Đối với NVL phụ; nhiên liệu; CCDC; NVL là phụ tùng thì giá xuất thực tế
cũng được tính tương tự dựa trên hệ thống giá hạch toán của Công ty, trong đó
những phụ tùng do Công ty tự sản xuất giá hạch toán là giá thành sản xuất kế
hoạch.
* Trình tự hạch toán: Để theo dõi các khoản chi phí NVL trực tiếp, kế toán
công ty sử dụng TK 621 - CPNVLtt. Tài khoản này được tập hợp chung cho tất cả
các phân xưởng.
- Khi xuất kho NVL sử dụng trực tiếp cho việc chế tạo sản phẩm, kế toán căn
cứ vào số lượng thực xuất của từng loại NVL trên phiếu lĩnh vật tư, tính ra giá trị
từng loại NVL xuất thực tế (thể hiện ở bảng 2) rồi tập hợp vào bảng phân bổ NVL
và CCDC (bảng 3) theo định khoản sau:
Nợ TK 621 : 7.719.585.374
Có TK 152.1 : 1.940.361.347
Có TK 152.2 : 342.864.116
Có TK 152.3 : 197.224


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status