LÝ LUẬN CHUNG VỀ KẾ TOÁN TẬP HỢP CHI PHÍ VÀ TÍNH GIÁ THÀNH SẢN PHẨM Ở DOANH NGHIỆP XÂY DỰNG - Pdf 71

LÝ LUẬN CHUNG VỀ KẾ TOÁN TẬP HỢP CHI PHÍ VÀ
TÍNH GIÁ THÀNH SẢN PHẨM Ở DOANH NGHIỆP XÂY
DỰNG.
I-ĐẶC ĐIỂM CỦA NGÀNH XÂY DỰNG VÀ SẢN PHẨM XÂY LẮP-
YÊU CẦU CÔNG TÁC QUẢN LÝ, KẾ TOÁN CHI PHÍ SẢN XUẤT VÀ TÍNH
GIÁ THÀNH SẢN PHẨM.
1/ Đặc điểm của ngành xây dựng và sản phẩm xây lắp.
Xây dựng cơ bản là một ngành sản xuất độc lập và duy nhất có chức năng
tạo ra và trang bị tài sản cố định cho tất cả các ngành kinh tế, tạo tiền đề cho sự
phát triển kinh tế của đất nước. Vì vậy, nó có vai trò đặc biệt quan trọng trong xã
hội, sản phẩm của ngành xây dựng không chỉ có ý nghĩa trong phạm vi một doanh
nghiệp mà còn có ý nghĩa với toàn bộ nền kinh tế. Sau những năm thực hiện
chuyển đổi cơ chế quản lý kinh tế mới, cũng như tất cả các ngành trong cả nước,
ngành xây dựng cơ bản ngày một thích nghi và phát triển. Với mục tiêu công
nghiệp hoá, hiện đại hoá, ngành xây dựng cơ bản lại càng khẳng định được vị trí
của mình, được Đảng và Nhà nước quan tâm nhiều hơn. Vì vậy, phần lớn thu nhập
quốc dân nói chung và tích luỹ nói riêng cùng với vốn đầu tư tài trợ từ nước ngoài
được sử dụng trong lĩnh vực xây dựng cơ bản. Hàng năm ngành xây dựng cơ bản
thu hút gần 30% tổng số vốn đầu tư trong cả nước. Vấn đề đặt ra là làm sao quản
lý vốn có hiệu quả, khắc phục tình trạng thất thoát vốn, lãng phí trong thi công,
tiết kiệm chi phí, hạ giá thành, tăng tính cạnh tranh cho các doanh nghiệp.
So với những ngành sản xuất khác, ngành xây dựng cơ bản có những đặc
điểm kinh tế- kĩ thuật đặc trưng thể hiện rất rõ ở sản phẩm và quá trình sáng tạo ra
sản phẩm của ngành. Do vậy, công tác kế toán trong các doanh nghiệp xây dựng
cơ bản phải có nét đặc trưng riêng phù hợp để thực hiện tốt nhất chức năng của kế
toán là thông tin và phản ánh, đồng thời cũng phải phù hợp với những chuẩn mực
kế toán chung được thừa nhận.
Thông thường, sản phẩm xây dựng ở doanh nghiệp được thực hiện thông
qua hình thức nhận thầu hoặc theo đơn đặt hàng, sản phẩm xây lắp được tiêu thụ
theo giá dự toán hoặc giá thoả thuận với chủ đầu tư (giá đấu thầu), sản phẩm sản
xuất xong không phải đem đi tiêu thụ và khách hàng đã được xác định trước khi

phải bảo đảm phản ánh chính xác và đúng theo từng thời điểm phát sinh.
2/Yêu cầu của công tác quản lý và kế toán chi phí sản xuất, tính giá thành
sản phẩm xây lắp trong doanh nghiệp xây dựng.
Do vị trí quan trọng của ngành xây dựng cơ bản và đặc thù sản xuất của nó
mà việc quản lý về đầu tư và xây dựng là một quá trình khó khăn và phức tạp. Để
quản lý chặt chẽ và sử dụng có hiệu quả các nguồn vốn đầu tư, Nhà nước đã ban
hành những quy chế quản lý phù hợp. Yêu cầu cơ bản của quản lý đầu tư và xây
dựng là:
1. Bảo đảm đúng mục tiêu chiến lược phát triển kinh tế- xã hội trong từng
thời kỳ theo định hướng xã hội chủ nghĩa. Thực hiện chuyển dịch cơ cấu kinh tế
theo hướng công nghiệp háo-hiện đại hoá, đẩy nhanh tốc độ tăng trưởng kinh tế,
nâng cao đời sống vật chất và tinh thần của nhân dân.
2. Huy động và sử dụng có hiệu quả cao nhất các nguồn vốn đầu tư trong
nước cũng như của nước ngoài đầu tư tại Việt Nam, khai thác tốt tài nguyên và
tiềm năng người lao động, đất đai và mọi tiềm lực khác, đồng thời bảo vệ môi
trường sinh thái, chống hành vi tham ô, lãng phí trong hoạt động đầu tư và xây
dựng.
3. Xây dựng theo quy hoạch, kiến trúc và thiết kế kỹ thuật được duyệt, bảo
đảm bền vững, mỹ quan, thực hiện cạnh tranh trong xây dựngnhằm áp dụng công
nghệ xây dựng tiên tiến, bảo đảm chất lượng và thời hạn xây dựng với chi phí hợp
lý và thực hiện bảo hành công trình.
(Trích điều lệ quản lý đầu tư và xây dựng ban hành kèm theo Nghị định số
42/CP ngày 16/7/1996 của Chính phủ về sửa đổi, bổ sung Nghị định 177/CP)
Trước đây xây dựng cơ bản là một lỗ hỏng lớn làm thất thoát nguồn vốn đàu
tưcủa Nhà nước. Để hạn chế sự thất thoát này, Nhà nước thực hiện quản lý giá
xây dựng thông qua các chế độ chính sách về giá, các nguyên tắc, phương pháp
lập dự toán... để xác định tổng mức vốn đầu tư, tổng dự toán công trình. Đặc biệt
tiết kiệm chi phí, hạ giá thành là là mối quan tâm hàng đầu, là nhiệm vụ hết sức
quan trọng.
Hiện nay, trong lĩnh vực xây dựng cơ bản chủ yếu áp dụng phương pháp

hợp lý và có hiệu quả.
 Xác định đúng đắn và bàn giao tính toán kịp thời khối lượng công tác xây
lắp hoàn thành, định kỳ kiểm tra và đánh giá khối lượng thi công dở dang theo
nguyên tắc quy định.
 Thông qua việc ghi chép, phản ánh tính toán để đánh giá đúng kết quả
hoạt động sản xuất kinh doanh của từng công trình, hạng mục công trình, từng bộ
phận, tổ đội thi công và toàn doanh nghiệp trong từng thời kỳ nhất định. Kịp thời
lập các báo cáo kế toán về chi phí sản xuất và giá thành sản phẩm xây lắp. Cung
cấp chính xác, đầy đủ thông tin về chi phí sản xuất và giá thành sản phẩm phục vụ
cho quản lýcủa lãnh đạo doanh nghiệp, đồng thời kiểm tra dược việc thực hiện kế
hoạch hạ giá thành và nhiệm vụ hạ giá thành, vạch ra được những nguyên nhân
làm cho hoàn thành hoặc chưa hoàn thành kế hoạch, khai thác những khả năng
tiềm tàng và đề ra những phương hướng phấn đấu để không ngừng hạ gía thành
sản phẩm thực tế.
Để thực hiện được các yêu cầu trên, nhiệm vụ đặt ra cho công tác hạch toán
chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm là:
 Xác định đúng đối tượng tập hợp chi phí sản xuất, chọn phương pháp tập
hợp và phân bổ chi phí thích hợp với đặc điểm sản xuất kinh doanh.
 Xác định đúng đối tượng tính giá thành và lựa chọn phương pháp tính giá
thành thích hợp. Tổ chức tốt việc tính giá thành sản phẩm.
 Xây dựng quy tắc tập hợp chi phí và tính giá thành sản phẩm của doanh
nghiệp, quy định trình tự công việc phân bổ chi phí cho từng đối tượng, từng chi
tiết sản phẩm.
II-BẢN CHẤT VÀ NỘI DUNG KINH TẾ CỦA CHI PHÍ SẢN XUẤT VÀ GIÁ THÀNH
SẢN PHẨM TRONG DOANH NGHIỆP XÂY DỰNG.
1/ Khái niệm và phân loại chi phí sản xuất
1. 1. Khái niệm:
Sự phát sinhvà phát triển của xã hội loài người gắn liền vơí quá trình sản
xuất. Nền sản xuất xã hội của bất kỳ phương thức sản xuất nào cũng gắn liền với
sự vận động và tiêu hao các yếu tố cơ bản. Nói cách khác, thực chất của hoạt

trình cung cấp(chi mua sắm vật tư hàng hoá), chi tiêu cho quá trình sản xuất kinh
doanh (chi cho quá trình sản xuất, chế tạo sản phẩm, công tác quản lý...) và chi
cho quá trình tiêu thụ (chi vận chuyển, bốc dỡ, quảng cáo... )
Chi phí và chi tiêu là hai khái niệm khác nhau nhưng có quan hệ mật thiết
với nhau. Chi tiêu là cơ sở phát sinh của chi phí, không có chi tiêu thì không có
chi phí. Tổng số chi phí trong kỳ của doanh nghiệp bao gồm toàn bộ giá trị tài sản
hao phí hoặc tiêu dùng hết cho quă trình sản xuất kinh doanh tính vào kỳ này. Chi
phí và chi tiêu không những khác nhau về lượmg mà còn khác nhau về thời gian.
Có những khoản chi tiêu kỳ nàynhưng chưa được tính vào chi phí(chi mua nguyên
vật liệu về nhập kho nhưng chưa sử dụng) và cũng có những khoản tính vào chi phí
kỳ này nhưng thực tế chưa chi tiêu(chi phí trích trước). Sở dĩ có sự khác biệt giữa
chi phí và chi tiêu trong các doanh nghiệp là do đặc điểm tính chất vận động và
phương thức chuyển dịch giá trị của từng loại tài sản vào quả trình sản xuất và yêu
cầu hạch toán chúng.
Có thể kết kuận rằng: Chi phí sản xuất kinh doanh là biểu hiện bằng tiền của
toàn bộ hao phí mà doanh nghiệp phải tiêu dùng trong một kỳ để thực hiện quá
trình sản xuất, tiêu thụ sản phẩm. Thực chất, chi phí là sự chuyển dịch vốn,
chuyển dịch giá trị của các yếu tố sản xuất vào các đối tượng tính giá(sản phẩm,
lao vụ, dịch vụ... )
Chi phí phát sinh để phục vụ nhiều chức năng trong doanh nghiệp, bao gồm
chức năng sản xuất, chức năng tiêu thụ, chức năbg quản lý doanh nghiệp. Chi phí
sản xuất là chi phí thực hiện chức năe\ng sản xuất, nó được tập hợp từ các khoản
chi phí phát sinh trong quá trình chế biến sản phẩm, khoản chi phí này được tính
vào giá thành sản xuất sản phẩm.
Như vậy, chi phí sản xuất trong ngành xây dựng cơ bản là biểu hiện bằng
tiền của toàn bộ hao phí về lao động sống, lao động vật hoá và các khoản hao
phí cần thiết khác mà doanh nghiệp bỏ ra để tiến hành hoạt động sản xuất thi
công trong một thời kỳ nhất định.
1. 2. Phân loại chi phí sản xuất.
Trong doanh nghiệp, chi phí sản xuất bao gồm nhiều loại, nhiều khoản

phí, từ đó có biện pháp giải quyết thích hợp. Ngoài ra, nó còn giúp xác định chi
pghí và kết quả của từng hoạt động kinh doanh đúng đắn cũng như lập báo cáo tài
chính kịp thời.
b/Phân loại theo yếu tố chi phí:
Để phục vụ cho việc tập hợp, quản lý chi phí theo nội dung kinh tế ban đầu
đồng nhất của nó mà không kể đến công dụng cụ thể, địa điểm phát sinh thì chi
phí được phân loại theo yếu tố. Về thực chất, chỉ có hai yếu tố chi phí là chi phí
về lao động vật hoá và chi phí về lao động sống. Tuy nhiên, để cung cấp thông tin
về chi phí một cách cụ thể hơn nhằm phục vụ cho việc xây dựng và phân tích định
mức vốn lưu động, việc lập, kiểm tra và phân tích dự toán, các yếu tố chi phí trên
có thể được chi tiết hoá theo nội dung cụ thể của chúng. Tuỳ theo yêu cầu và trình
độ quản lý ở mỗi nước, mỗi thời kỳ mà mức độ chi tiết của các yếu tố có thể khác
nhau. Theo quy định hiện hành ở Việt Nam, toàn bộ chi phí được chia làm 7 yếu
tố sau:
 Yếu tố nguyên vật liệu: Bao gồm toàn bộ giá trị nguyên, vật liệu chính,
phụ, phụ tùng thay thế, công cụ, dụng cụ... sử dụng vào sản xuất (loại trừ giá trị
nguyên vật liệu dùng không hết nhập lại kho và phế liệu thu hồi ).
 Yếu tố nhiên liệu, động lực được sử dụng vào quá trình sản xuất sản
phẩm trong kỳ (trừ số sử dụng không hết nhập lại kho và phế liệu thu hồi ).
 Yếu tố tiền lương và các khoản phụ cấp lương: Phản ánh tổng số tiền
lương và phụ cấp mang tính chất lương phải trả cho công nhân, nhân viên quản lý
tổ đội thi công.
 Yếu tố khấu hao tài sản cố định: Phản ánh tổng số khấu hao tìa sản cố
định phải trích trong kỳ của tất cả các tiài sản cố định dùng cho sản xuất thi công
trong kỳ.
 Yếu tố chi phí dịch vụ mua ngoài: Phản ánh toàn bộ chi phí dịch vụ mua
ngoài dùng vào hoạt động sản xuất, thi công trong kỳ.
 Yếu tố chi phí khác bằng tiền: Phản ánh toàn bộ chi phí khác bằng tiền
chưa phản ánh vào các yếu tố chi phí trên dùng vào hoạt động sản xuất, thi công
trong kỳ.

quan tỷ lệ thuận với sự thay đổi của khối lượng sản phâmr sản xuất trong kỳ.
Thuộc loại chi phí này là: chi phí nguyên vật liệu trực tiếp và chi phí nhân công
trực tiếp.
 Chi phí cố định ( định phí ): Là chi phí không thay đổi về tổng số khi có
sự thay đổi trong mức độ hoạt động của sản xuất hoặc khối lượng công việc, lao
vụ sản xuất trong kỳ.
Phân loại chi phí thành chi phí khả biến và chi phí cố định có tác dụng quản
lý định mức và những khoản chi phí mà Nhả nước quản lý chặt chẽ. Đặc biệt nó
có vai trò rất quan trọng đối với quản trị kinh doanh, phân tích điểm hoà vốn phục
vụ cho việc ra quyết định quản lý, tận dụng tiềm năng phát triển sản xuất kinh
doanh.
 Trên góc độ kế toán quản trị: Những cách phân loại chi phí nêu trên đều
có tác dụng đối với việc ra quyết định của doanh nghiệp, tuy nhiên, để phục vụ tốt
hơn cho quá trình quản trị doanh nghiệp thì trong kế toán quản trị còn có những
cách phân loại sau:
a/Phân loại chi phí theo chức năng của chi phí:
Theo cách phân loại này, chi phí được chia làm 2 loại:
 Chi phí ban đầu: Là những khoản chi phí đầu tiên chủ yêú của sản phẩm,
gồm chi phí nguyên vật liệu trực tiếp, chi phí nhân công trực tiếp.
 Chi phí chuyển đổi: Phản ánh mức chi phí cần thiết để chuyển đổi nguyên
vật liệu từ dạng thô sang dạng thành phẩm, nó bao gồm 2 khoản là chi phí nhân
công trực tiếp và chi phí sản xuất chung.
Cách phân loại này giúp doanh nghiệp xác định được cơ cấu chi phí của
mình và so sánh với mức chung của ngành, từ đó có sự phân tích, đánh giá để đưa
ra quyết định phù hợp.
b/Phân loại chi phí theo cách ứng xử của chi phí:
Cách ứng xử của chi phí có nghĩa là chi phí này thay đổi như thế nào đói với
các mức độ thay đổi của hoạt động sản xuất. Với cách phân loại này cho phép
người quản lý thấy trước được sự thay đổi của chi phí khi hoạt động sản xuất thay
đổi, do đó đáp ứng cho yêu cầu lập kế hoạch, kiểm soát và chủ động điều tiết chi

hoặc chỉ có một phần ở phương án. Người ta xét chi phí này khi khi chọn phương
án hành động.
-Chi phí chìm: Là loại chi phí mà doanh nghiệp phải chịu và sẽ phải chịu dù
doanh nghiệp chọn phương án hành động nào. Chi phí chìm khômg bao giờ thích
hợp với việc ra quyết địnhvì chúng không có tính chênh lệch. Do đó, tất cả chi phí
đã đầu tư vào tài sản cố định dù theo giá trị ban đầu hay giá trị còn lại đều là chi
phí chìm.
2/Khái niệm giá thành và phân loại giá thành trong doanh nghiệp xây
dựng.
2. 1/Khái niệm:
Giá thành sản phẩm là biểu hiện bằng tiền của toàn bộ các khoản hao phí về
lao động sống và lao động vật hoá liên quan đến khối lượng công tác, sản phẩm,
lao vụ đã hoàn thành.
Trong doanh nghiệp xây dựng, khối lượng công tác, sản phẩm, lao vụ đã
hoàn thành là các công trình, hạng mục công trình, khối lượng xây lắp đã hoàn
thành.
Như ta đã biết, quá trình sản xuất là một quá trình thống nhất bao gồm hai
mặt: Mặt hao phí sản xuất và mặt kết quả sản xuất và hai thước đo giá trị tương
ứng của chúng là chi phí sản xuất và giá thành sản phẩm. Tất cả những khoản chi
phí phát sinh (phát sinh trong kỳ, kỳ trước chuyển sang) và tất cả các khoản chi
phí trích trước có liên quan đến khối lượng sản phẩm, lao vụ, dịch vụ đã hoàn
thành trong kỳ sẽ tạo nên chỉ tiêu giá thành sản phẩm.
Theo đúng ý nghĩa đó, giá thành sản phẩm là một phạm trù của sản xuất
hạng hoá, phản ánh lượng giá trị của những lao động sống và lao động vật hoá đã
thực sự chi ra cho sản xuất sản phẩm. Trong giá thành sản phẩm chỉ bao gồm
những chi phí tham gia trực tiếp hoặc gián tiếp vào quá trình sản xuất cần phải
được bồi hoàn để tái sản xuất ở doanh nghiệp mà không bao gồm toàn bộ những
chi phí phát sinh trong kỳ kinh doanh của doanh nghiệp. Những chi phí đưa vào
giá thành phải phản ánh được giá trị thực của các tư liệu sản xuất tiêu dụng cho sản
xuất sản phẩm, lao vụ, dịch vụ và các khoản chi tiêu khác có liên quan tới việc bù

năng suất sản xuất đến đâu.
 Trên góc độ kế toán tài chính: Trong doanh nghiệp xây dựng có các cách
phân loại chủ yếu sau:
a/Phân loại giá thành theo thời điểm tính và nguồn số liệu để tính giá
thành:
Theo cách phân loại này, giá thành được chia thành giá thành dự toán, giá
thành kế hoạch và giá thành thực tế.
 Giá thành dự toán: Là tổng số chi phí dự toán để hoàn thành khối lượng
xây lắp công trình, được xác định theo định mức và khung giá quy định áp dụng
cho từng vùng lãnh thổ. Giá thành dự toán nhỏ hơn giá trị dự toán ở phần lợi
nhuận định mức.
Giá thành dự toán của công trình, hạng mục công trình là chi phí cho công
tác xây dựng, lắp đặt các cấu kiện, các máy móc thiết bị bao gồm các chi phí trực
tiếp, chi phí chung và lợi nhuận định mức.
Lãi định mức là chỉ tiêu Nhà nước quy định để tích luỹ cho xã hội giá trị do
ngành xây dựng cơ bản sáng tạo ra.
 Giá thành kế hoạch: Là loại giá thành được xác định trước khi bước vào
sản xuất được xây dựng từ những điều kiện cụ thể về biện pháp thi công, các định
mức đơn giá áp dụng trong đơn vị. Việc tính toán giá thành kế hoạch do bộ phận
kế hoạch của doanh nghiệp thực hiện và được tiến hành trước khi bắt đàu quá trình
sản xuất, chế tạo sản phẩm. Gía thành kế hoạch là mục tiêu phấn đấu của doanh
nghiệp, là căn cứ để so sánh, phân tích, đánh giá tình hình thực hiện hạ giá thành
ở doanh nghiệp.
Khi tính giá thành kế hoạch, việc quan trọng nhất là xác định đúng số tiết
kiệm so với giá thành dự toán nhờ thực hiện các biện pháp kỹ thuật. Bằng cách
tính toán có căn cứ các biện pháp kỹ thuật, có thể tổng hợp các hiệu quả kinh tế do
các biện pháp mang lại.
 Giá thành thực tế: Là chỉ tiêu được xác định sau khi kết thúc quá trình sản
xuất sản phẩm dựa trên cơ sở các chi phí phát sinh trong quá trình sản xuất sản
phẩm.

Do quá trình thi công và sản xuất sản phẩm xây lắp kéo dài, khối lượng xây
lắp lớn nên để tiện theo dõi những chi phí phát sinh, người ta phân chia giá thành
sản phẩm xây lắp thành gái thành hoàn chỉnh và giá thành không hoàn chỉnh.
 Giá thành hoàn chỉnh: Phản ánh toàn bộ chi phí liên quan công trình,
hạng mục công trình hoàn thành hay chính là chi phí chi ra để tiến hành thi công
một công trình, hạng mục công trình kể từ khi khởi công đến khi kết thúc hoàn
thành bàn giao cho bên A (bên chủ đầu tư).
 Giá thành không hoàn chỉnh (giá thành công tác xây lắp thực tế): Phản ánh
giá thành một khối lượng công tác xây lắp đạt tới một điểm dừng kỹ thuật nhất
định, nó cho phép kiểm kê kịp thời chi phí phát sinh để kịp thời điều chỉnh cho
Z to n bà ộ của Z sản xuất chi phí quản chi phí tiêu
sp tiêu thụ
=

sản phẩm
+
lý DN
+
thụ sp
thích hợp ở những giai đoạn sau, phát hiện những nguyên nhân làm thay đổi chi
phí.
d/ Ngoài ra, trong xây dựng cơ bản còn sử dụng hai chỉ tiêu giá thành
sau:
 Giá thành đấu thầu xây lắp: là một loại giá thành dự toán xây lắp do chủ
đầu tư đưa ra để các doanh nghiệp căn cứ vào đó mà tính giá thành của mình (còn
gọi là giá thành dự thầu công tác xây lắp). Nếu thấy giá thành của mình thấp hơn
giá thành đấu thầu thì sẽ tăng giá đấu thầu công tác xây lắp công trình.
Giá đấu thầu công tác xây lắp do chủ đầu tư đưa ra, về nguyên tắc chỉ bằng
hoặc nhỏ hơn giá thành dự toán, có như vậy chủ đầu tư mới tiết kiệm được vốn
đầu tư, tăng hiệu quả sử dụng đồng vốn.

đầu kỳ
+
trong kỳ
-
cuối kỳ
Khi giá trị sản phẩm dở dang (chi phí sản xuất dở dang) đầu kỳ và cuối kỳ
bằng nhau hoặc khi không có sản phẩm dở dang thì tổng giá thành sản phẩm
bằng tổng chi phí sản xuất phát sinh trong kỳ.
Như vậy ta thấy, chi phí sản xuất và giá thành sản phẩm có mối quan hệ
chặt chẽ với nhau, điều đó làm cho công tác hạch toán chúng cũng có mối quan
hệ chặt chẽ. Xuất phát từ mối quan hệ về chất của hai khái niệm chi phí sản
xuất và giá thành sản phẩm mà giữa hai quá trình hạch toán chi phí sản xuất và
tính giá thành sản phẩm có mội quan hệ là hai quá trình hạch toán kế tiếp nhau
của quá trình hạch toán sản xuất. Trước hết là chúng có mối quan hệ chặt chẽ
giữa đối tượng tập hợp chi phí và đối tượng tính giá thành, chúng đều phụ thuộc
vào loại hình sản phẩm, quy trình công nghệ... Thứ hai là việc tính đúng, tính
đủ chi phí sản xuất có vai trò quan trọng trong việc tính đúng giá thành sản
phẩm. Tuy nhiên, việc hạch toán chi phí sản xuất chưa phải là mục tiêu của
phương pháp tính giá thành sản phẩm mà nó chỉ mới là cơ sở, là phương tiện
của giá thành. Hạch toán chi phí sản xuất dù đầy đủ và chi tiết đến đâu cũng chỉ
phản ánh được một phần của quan hệ này, mặt chi ra của sản xuất, vì vậy,
ngoài hạch toán chi phí sản xuất, tính gía thành sản phẩm còn vận dụng các
biện pháp kỹ thuật nhằm nêu ra chính xác nhất quan hệ giữa chi phí và kết quả
sản xuất của từng hoạt động sản xuất kinh doanh cụ thể.
4/Đối tượng và phương pháp hạch toán chi phí sản xuất, tính giá thành
sản phẩm.
Chi phí sản xuất dở chi phí sản xuất phát sinh trong kỳ
dang đầu kỳ
B D
A TỔNG GIÁ THÀNH SẢN PHẨM C Chi phí sản xuất

tạp.
Với sản xuất giản đơn, (doanh nghiệp chỉ sản xuất một số ít mặt hàng với
khối lượng lớn, chu kỳ sản xuất ngắn khép kín, liên tục, không có điểm dừng, sản
phẩm dở dang không có hoặc chỉ có không đáng kể) thì đối tượng hạch toán chi
phí sản xuất có thể là sản phẩm hay toàn bộ quá trình sản xuất (nếu sản xuất một
loại sản phẩm) hoặc có thể là nhóm sản phẩm (nếu sản xuất nhiều thứ sản phẩm
cùng tiến hành trong cùng một quá trình lao động). Đối tượng tính giá thành ở đây
là sản phẩm cuối cùng.
Với sản xuất phức tạp (quy trình sản xuất qua nhiều bước khác nhau, có
điểm dừng kỹ thuật, chu kỳ sản xuất kéo dài) thì đối tượng hạch toán chi phí sản
xuất có thể là bộ phận, chi tiết sản phẩm, các giai đoạn chế biến, phân xưởng sản
xuất hoặc nhóm chi tiết, bộ phận sản phẩm... Còn đối tượng tính giá thành là
thành phẩm ở bước chế tạo cuối cùng hoặc bán thành phẩm ở từng bước chế tạo.
b/Loại hình sản xuất: Đơn chiếc, sản xuất hàng loạt nhỏ hay sản xuất hàng
loạt với khối lượng lớn.
Đối với sản xuất đơn chiếc (sản phẩm có quy mô và giá trị lớn, các sản
phẩm không hoàn toàn giống nhau) và sản xuất hàng loạt nhỏ thì đối tượng hạch
toán chi phí là các đơn đặt hàng riêng biệt, còn đối tượng tính giá thành là sản
phẩm của từng đơn.
Đối với sản xuất hàng loạt với khối lượng lớn, phụ thuộc vào quy trình công
nghệ sản xuất (đơn giản hay phức tạp) mà đối tượng hạch toán chi phí sản xuất có
thể là sản phẩm, nhóm sản phẩm, chi tiết, nhóm chi tiết, giai đoạn công nghệ...
Còn đối tượng tính giá thành có thể là sản phẩm cuối cùng hay bán thành phẩm
như đã nêu trên.
c/Yêu cầu và trình độ quản lý, tổ chức sản xuất kinh doanh: Dựa trên cơ
sở trình độ, yêu cầu và tổ chức quản lý để xác định đối tượng hạch toán chi phí
sản xuất và đối tượng tính giá thành. Với trình độ cao, có thể chi tiết đối tượng
hạch toán chi phí sản xuát và tính giá thành sản phẩm ở các góc độ khác nhau:
ngược lại, nếu trình độ thấp thì đối tượng đó có thể bị hạn chế và thu hẹp lại.
Đối với doanh nghiệp xây dựng, đặc điểm quy trình công nghệ là phức

 Phương pháp tập hợp chi phí sản xuất theo đơn đặt hàng (theo sản
phẩm): Chi phí sản xuất phát sinh sẽ được tập hợp và phân loại theo các đơn đặt
hàng riêng biệt. Khi đơn đặt hàng hoàn thành thì tổng số chi phí phát sinh kể từ
khi khởi công đến khi hoàn thành chính là giá thành thực tế của đơn đặt hàng đó.
 Phương pháp tập hợp chi phí sản xuất theo đơn vị thi công (theo nhóm
hoặc khu vực thi công): Chi phí phát sinh được tập hợp theo từng đơn vị thi công.
Trong từng đơn vị đó, chi phí lại dược tập hợp theo từng đối tượng chịu phí như
công trình, hạng mục công trình,. . . Cuối tháng, tổng hợp chi phí sản xuất phát
sinh ở từng đơn vị thi công được so sánh với dự toán cấp phát để xác định hạch
toán kế toán nội bộ. Khi công trình, hạng mục công trình hoàn thành thì phải tính
giá riêng bằng các phương pháp tính giá thành thích hợp.
b/Phương pháp tính giá thành sản phẩm: Là một phương pháp hoặc hệ thống
các phương pháp được sử dụng để tính giá thành của đơn vị sản phẩm, nó mang
tính thuần tuý kỹ thuật tính toán chi phí cho từng đối tượng tính giá thành. Về cơ
bản, phương pháp tính giá thành bao gồm phương pháp trực tiếp, phương pháp
tổng cộng chi phí, phương pháp tỷ lệ, v. v... Việc tính gái thành sản phẩm trong
từng doanh nghiệp, cụ thể tuỳ thuộc vào đối tượng hạch toán chi phí sản xuất và
đối tượng tính giá thành mà có thể áp dụng một trong các biện pháp nói trên hoặc
áp dụng kết hợp một số các biện pháp với nhau:
 Phương pháp trực tiếp (còn gọi là phương pháp giản đơn): Phương pháp
này được áp dụng trong các doanh nghiệp thuộc loại hình sản xuất giản đơn. Giá
thành sản phẩm theo phương pháp này được tính bằng cách trực tiếp lấy tổng số
chi phí sản xuất cộng (+) hoặc trừ (--) số chênh lệch giữa giá trị sản phẩm dở dang
cuối kỳ so với đầu kỳ chia (:) cho số lượng sản phẩm hoàn thành.
 Phương pháp tổng cộng chi phí: Áp dụng đối với các doanh nghiệp mà
quá trình sản xuất sản phẩm được thực hiện ở nhiều bộ phận sản xuất, nhiều giai
đoạn công nghệ, đối tượng tập hợp chi phí sản xuất là các bộ phận, chi tiết sản
phẩm hoặc giai đoạn công nghệ hay bộ phận sản xuất. Giá thành sản phẩm được
xác định bằng cách cộng chi phí sản xuất của các bộ phận, chi tiết sản phẩm hay
tổng chi phí sản xuất của các giai đoạn, bộ phận sản phẩm tạo nên thành phẩm.

 Phương pháp tỷ lệ: Trong các doanh nghiệp sản xuất nhiều loại sản phẩm
có quy cách, phẩm chất khác nhau như may mặc, dệt kim, đóng giày, cơ khí chế
tạo (dụng cụ, phụ tùng), v. v... để giảm bớt khối lượng hạch toán, kế toàn thường
tiến hành tập hợp chi phí sản xuất theo nhóm sản phẩm cùng loại. Căn cứ vào tỷ lệ
chi phí giữa chi phí sản xuất thực tế với chi phí chi phí sản xuất kế hoach (hoặc
định mức), kế toán sẽ tính ra giá thành đơn vị và tổng giá thành sản phẩm từng
loại.
Giá thành giá thành kế hoạch tỷ lệ giữa chi phí thực
thực tế đơn vị = hoặc định mức đơn vị x tế so với chi phí kế
SP từng loại thực tế sản phẩm từng loại hoạch hoặc định mức
 Phương pháp loại trừ giá trị sản phẩm phụ: Đối với các doanh
nghiệp mà trong cùng một quá trình sản xuất, bên cạnh các sản phẩm chính thu
được còn có sản phẩm phụ (các doanh nghiệp chế biến đường rượu, bia, mỳ ăn
liền... ), để tính giá thành sản phẩm, kế toán phải loại trừ giá trị sản phẩm phụ
khỏi tổng chi phí sản xuất sản phẩm. Gía trị sản phẩm phụ có thể được xác định
theo nhiều phương pháp khác nhau như giá có thể sử dụng, giá trị ước tính, gí kế
hoạch, giá nguyên liệu ban đầu...
tổng giá trị tổng chi phí giá trị giá trị
giá thành = SP chính = sản xuất PS - SP phụ - SP chính
SP chính DD đầu kỳ trong kỳ thu hồi DD cuối kỳ
 Phương pháp tính giá thành theo định mức: Là phương pháp dựa
trên cơ sở hệ thống định mức tiêu hao lao động, vật tư hiện hành và dự toán về chi
phí sản xuất chung, kế toán sẽ xác định giá thành định mức của từng loại sản
phẩm. Đồng thời hạch toán riêng các thay đổi, các chênh lệch so với định mức
phát sinh trong quá trình sản xuất sản phẩm và phân tích toàn bộ chi phí phát sinh
thành ba loại: theo định mức, chênh lệch do thay đổi định mức và chênh lệch so
với định mức. Từ đó tiến hành xác định giá thành thực tế của sản phẩm bằng cách:
giá thành giá thành chênh lệch chênh lệch
thực tế = định mức
±

dụng phương pháp này, đòi hỏi doanh nghiệp có hệ thống về định mức chi phí
đồng thời công tác tổ chức hạch toán chi phí xác định được số phát sinh phù
hợp so với định mức, số thoát ly định mức.
 Phương pháp liên hợp: Là phương pháp áp dụng cho những doanh nghiệp
có tổ chức sản xuất, tính chất quy trình công nghệ và tính chất sản phẩm làm ra
đòi hỏi việc tính giá thành phải kết hợp nhiều phương pháp khác nhau như các
doanh nghiệp sản xuất, dệt kim, đóng giầy, may mặc, xây dựng,. . . Trên thực tế,
kế toán có thể kết hợp phương pháp trực tiếp với tổng công chi phí, tổng cộng chi
phí với tỷ lệ, hệ số với loại trừ giá trị sản phẩm phụ, v. v...
Doanh nghiệp xây dựng là doanh nghiệp sản xuất mà đặc điểm của nó có khi
là sản xuất giản đơn (công trình quy mô nhỏ, đơn giản, không phân chia thành các
hạng mục công trình) thì phương pháp tính giá thành là phương pháp trực tiếp, có
khi sản phẩm mang tính phức tạp, quy mô lớn, nhiều hạng mục công trình thì lúc
này phương pháp tính giá thành là phương pháp tổng cộng chi phí, còn khi công
trình bao gồm nhiều công trình nhỏ thì áp dụng phương pháp tính giá thành kết hợp
giữa hai phương pháp trên và phương pháp hệ số hoặc tỷ lệ...
c/Kỳ tính giá thành:
Cùng với việc xác định đối tượng tính gía thành, chúng ta cũng phải xác
định kỳ tính giá thành sản phẩm. Xác định kỳ tính giá thành thích hợp sẽ giúp cho
việc tổ chức công tác tính giá thành sản phẩm được hợp lý, khoa học, đảm bảo
cung cấp số liệu về giá thành thực tế của sản phẩm kịp thời, phát huy được đầy đủ
chức năng giám đốc tình hình thực hiện kế hoạch giá thành sản phẩm của kế toán.
Kỳ tính giá thành là thời kỳ bộ phận kế toán giá thành phải tập hợp số liệu để
tính giá thành thực tế cho các đối tượng tính giá.
Để xác định kỳ tính giá thành cho thích hợp, kế toán phải căn cứ vào đặc
điểm tổ chức sản xuất sản phẩm và chu kỳ sản xuất sản phẩm. Trường hợp sản
xuất với khối lượng lớn, chu kỳ sản xuất ngắn và sản xuất liên tục, kỳ tính giá
thành thích hợp là theo kỳ báo cáo. Trường hợp sản xuất sản phẩm mang tính đơn
chiếc hoặc hàng loạt theo đơn đặt hàng, chu kỳ sản xuất dài, sản phẩm hoặc hàng
loạt sản phẩm chỉ hoàn thành khi kết thúc chu kỳ sản xuất thì kỳ tính giá thanhf

trình được kịp thời theo tính chất và đặc điểm của từng ngành.
Đối với ngành xây dựng cơ bản, việc tập hợp chi phí sản xuất được tiến
hành qua các bước sau:
 Bước một: Tập hợp cơ bản có liên quan trực tiếp cho từng công trình,
hạng mục công trình.
 Bước hai: Tính toán và phân bổ lao vụ của các ngành sản xuất kinh
doanh phụ có liên quan trực tiếp cho tường công trình, hạng mục công trình trên
cơ sở khối lượng lao vụ phục vụ và đơn giá lao vụ.
 Bước ba: Tập hợp và phân bổ chi phí sản xuất chung cho các công trình
có liên quan theo các tiêu thức phù hợp.
 Bước bốn: Xác định chi phí dở dang cuối kỳ, từ đó tính giá thành sản
phẩm hoàn thành.
Để hạch toán chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm, nhìn chung, kế
toán có thể áp dụng phương pháp kê khai thường xuyên hoặc phương pháp
kiểm kê định kỳ. Việc sử dụng phương pháp nào là tuỳ thuộc vào đặc điểm kinh
doanh của từng doanh nghiệp, vào yêu cầu cuả công tác quản lý và vào trình độ
cán bộ kế toán cũng như quy định của chế độ kế toán hiện hành.
2. Hạch toán chi phí sản xuất theo phương pháp kê khai thường xuyên.
Phương pháp kê khai thường xuyên là phương pháp theo dõi và phản ánh
tính hình hiện có, biến động tăng, giảm hàng tồn kho một cách thường xuyên,
liên tục trên các tài khoản phản ánh các loại hàng tồn kho. Phương pháp này
được sử dụng phổ iến ở nước ta hiện nay vì những tiện ích của nó. Tuy nhiên,
với những doanh nghiệp có nhiều chủng loại vật tư, hàng hoá có giá trị thấp,
thường xuyên xuất, nhập mà áp dụng phương pháp này sẽ tốn rất nhiều công
sức. Dẫu vậy, phương pháp này có độ chính xác cao và cung cấp thông tin vè
hàng tồn kho một cách kịp thời, cập nhật. Theo phương pháp này, bất kỳ ở thời
điểm nào, kế toán cũng có thể xác định được lượng nhập, xuất, tồn kho của
từng loại hàng tồn kho.
2. 1. Hạch toán chi phí nguyên vật liệu trực tiếp:
Chi phí nguyên vật liệu trực tiếp bao gồm giá trị nguyên, vật liệu chính,


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status