TIỂU LUẬN: Hoàn thiện cơ chế quản lý chi ngân sách cấp quận, huyện cho giáo dục (qua thực tế quận Hoàng Mai) - Pdf 11


TIỂU LUẬN:

Hoàn thiện cơ chế quản lý chi ngân
sách cấp quận, huyện cho giáo dục
(qua thực tế quận Hoàng Mai)


thật sự gắn liền với các tiêu chí đảm bảo chất lượng đào tạo, đội ngũ giáo viên, cơ
sở vật chất. Cơ chế tự chủ, tự chịu trách nhiệm về nhiệm vụ, tổ chức bộ máy và tài
chính của các trường tiểu học và THCS của quận Hoàng Mai còn hạn chế, các
trường không thể tiết kiệm để tăng thêm thu nhập cho giáo viên và tăng cường cơ sở
vật chất nhằm nâng cao chất lượng giáo dục.
Xuất phát từ những yêu cầu, hạn chế nêu trên, tác giả chọn vấn đề “Hoàn
thiện cơ chế quản lý chi ngân sách cấp quận, huyện cho giáo dục (qua thực tế
quận Hoàng Mai).
2. Tình hình nghiên cứu:
Hiện đã có rất nhiều những đề tài đã nghiên cứu liên quan đến quản lý ngân
sách đối với giáo dục như:
- Đề tài “Hoàn thiện công tác quản lý tài chính đối với hoạt động giáo dục
phổ thông trên địa bàn tỉnh Quảng Ngãi” (2006). Luận án thạc sỹ của Phạm Thị
Minh Việt (2006).
- Đề tài “Tự chủ tài chính đối với các đơn vị sự nghiệp giáo dục công lập trên
địa bàn tỉnh Hưng Yên, thực trạng và giải pháp” (2009). Luận án thạc sỹ kinh tế
của Đặng Thị Hạnh.
- Đề tài “ Hoàn thiện cơ chế quản lý tài chính đối với các trường trung học
phổ thông công lập ở tỉnh Ninh Bình” (2010) Luận án thạc sỹ kinh tế của Đỗ Thị
Phương Thảo.
-Đề tài “Hoàn thiện cơ chế quản lý chi ngân sách nhà nước cho giáo dục ở
tỉnh Nghệ An” (2011). Luận án thạc sỹ kinh tế của Hồ Thị Xuân
- Đề tài “Hoàn thiện cơ chế quản lý ngân sách cấp huyện ở Việt Nam (lấy ví
dụ ở huyện Yên Phong - tỉnh Bắc Ninh)”.
- Đề tài “Hoàn thiện cơ chế quản lý tài chính nhằm nâng cao hiệu quả hoạt
động của các trường Đại học và cao đẳng ở Việt Nam (2007). Luận án thạc sỹ kinh
tế của Học viện Tài chính.

- Về không gian: quận Hoàng Mai, thành phố Hà Nội
- Thời gian : Từ năm 2006-2010
5. Phương pháp nghiên cứu
Đề tài sử dụng phương pháp duy vật biện chứng, duy vật lịch sử để phân tích
cơ chế quản lý chi ngân sách cấp quận, huyện cho giáo dục đồng thời sử dụng kết
hợp các phương pháp điều tra, thống kê, phân tích, tổng hợp, so sánh, khái quát
hoá để làm rõ nội dung nghiên cứu.
6. Đóng góp về lý luận thực tiễn của đề tài
Đề tài góp phần hệ thống cơ sở lý luận và thực tiễn về cơ chế quản lý chi
ngân sách nhà nước cho giáo dục. Đánh giá thực trạng cơ chế quản lý chi ngân
sách nhà nước cho giáo dục quận Hoàng Mai.
Với kết quả nghiên cứu đó, đề tài có thể làm tài liệu tham khảo cho việc lãnh
đạo, điều hành quản lý chi ngân sách nói chung và cơ chế quản lý chi ngân sách
cho giáo dục nói riêng, góp phần thực hiện mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội trên
địa bàn quận Hoàng Mai.
7. Kết cấu của đề tài
Ngoài phần mở đầu, phần kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, đề tài
được trình bày thành 3 chương.
Chương 1: Cơ sở lý luận và kinh nghiệm thực tiễn về hoàn thiện cơ chế quản
lý chi ngân sách cấp quận, huyện cho giáo dục .
Chương 2: Thực trạng cơ chế quản lý chi NSNN cho giáo dục quận Hoàng
Mai, thành phố Hà Nội
Chương 3: Phương hướng và giải pháp cơ bản nhằm hoàn thiện cơ chế quản
lý chi NSNN của quận Hoàng Mai cho giáo dục.
+ Quan hệ kinh tế giữa NSNN với các doanh nghiệp sản xuất kinh doanh.
+ Quan hệ kinh tế giữa NSNN với các đơn vị sự nghiệp công.
+ Quan hệ kinh tế giữa NSNN với các tầng lớp dân cư.
+ Quan hệ kinh tế giữa NSNN và thị trường tài chính.
+ Quan hệ kinh tế giữa NSNN với các hoạt động tài chính đối ngoại.
1.1.1.2. Chi ngân sách nhà nước cho giáo dục:
Chi ngân sách nhà nước cho giáo dục gắn liền với cơ cấu, nhiệm vụ của
NSNN cho ngành giáo dục trong mỗi giai đoạn lịch sử và được xem xét ở các giác
độ khác nhau. Nó nằm trong mối quan hệ giữa NSNN với đơn vị sự nghiệp công.
Nội dung chi ngân sách Nhà nước cho giáo dục gồm:
- Chi ngân sách cho hệ thống các trường học có:
+ Chi ngân sách cho hệ thống các trường mầm non và các trường phổ thông
+ Chi ngân sách cho các trường đại học, các học viện, các trường cao đẳng,
các trường trung học chuyên nghiệp và dạy nghề.
+ Chi cho các trường Đảng, đoàn thể
- Chi ngân sách cho các cơ quan quản lý Nhà nước về giáo dục - đào tạo như:
Bộ giáo dục đào tạo, Sở giáo dục, phòng giáo dục
Theo cách phân loại chi NSNN theo yếu tố và phương thức quản lý các
khoản chi cho giáo dục bao gồm:
- Chi thường xuyên: Căn cứ vào đối tượng của việc sử dụng kinh phí NSNN
có thể chia thành 4 nhóm mục chi sau:
+ Các khoản chi cho con người: Chi lương, các khoản phụ cấp theo lương,
chi bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế, kinh phí công đoàn, chi phúc lợi tập thể cho
giáo viên, cán bộ nhân viên, chi học bổng và trợ cấp cho học sinh sinh viên, tiền
công


con người là yếu tố sản xuất hết sức quan trọng. Kỹ năng của con người có tác
động đến năng suất lao động, trình độ quản lý và muốn hình thành kỹ năng thì
phải có giáo dục. Đặc biệt là trong bối cảnh thế giới bước sang thời đại mới - thời
đại trí tuệ và trong môi trường toàn cầu hóa, trong đó, các yếu tố tri thức và thông
tin trở thành những yếu tố hàng đầu và là nguồn tài nguyên giá trị nhất thì giáo dục
trở thành đòn bẩy cho sự phát triển kinh tế. Chính vì vậy, đầu tư cho giáo dục
chính là đầu tư cho tương lai, đầu tư hiệu quả nhất.
Đầu tư tài chính giữ vai trò như một trong những yếu tố có tính chất quyết
định đối với việc hình thành, mở rộng và phát triển hệ thống giáo dục quốc dân từ
giáo dục mầm non, giáo dục phổ thông, đào tạo công nhân, trung học chuyên
nghiệp, đại học đến đào tạo sau đại học. Thông qua quan hệ tín dụng, tài chính có
thể huy động các nguồn tiền tạm thời nhàn rỗi để đầu tư cho giáo dục trong việc
nâng cấp trang thiết bị, đầu tư cho đội ngũ giáo viên và cho học sinh vay để tiếp
tục sự nghiệp giáo dục. Trong số các nguồn lực tài chính đầu tư cho giáo dục đào
tạo thì chi từ NSNN là quan trọng, đóng vai trò chủ đạo trong việc nâng cao chất
lượng và hiệu quả giáo dục bởi:
- Thứ nhất: Trong hệ thống tài chính nước ta thì tài chính Nhà nước chiếm
một tỷ trọng lớn. Mà trong tài chính Nhà nước bao gồm NSNN và tín dụng Nhà
nước thì NSNN có tỷ trọng lớn nhất. NSNN đảm bảo nhu cầu tiêu dùng xã hội
theo chủ trương đường lối của Đảng và Nhà nước, trong đó nhu cầu giáo dục đào
tạo đứng hàng đầu. Mặt khác, giáo dục đào tạo là dịch vụ công cộng, tạo ra những
ngoại ứng tích cực và có vai trò quyết định đến sự phát triển nguồn nhân lực -
nhân tố quyết định sự phát triển kinh tế xã hội của một quốc gia. Đầu tư từ NSNN
cho giáo dục nhằm đảm bảo điều kiện tài chính cần thiết để giải quyết vấn đề phát
triển của hệ thống giáo dục quốc dân ở tầm vĩ mô như về phát triển rộng khắp
mạng lưới các cơ sở giáo dục, xây dựng các cơ sở giáo dục trọng điểm quốc gia,
điều chỉnh quy mô và cơ cấu, nâng cao chất lượng và hiệu quả giáo dục. Bởi vậy,
NSNN là nguồn tài chính cơ bản, to lớn nhất để duy trì và phát triển hệ thống giáo
dục quốc dân theo đúng chủ trương, đường lối của Đảng và Nhà nước.

trình mục tiêu quốc gia như chống mù chữ, phổ cập giáo dục, xây dựng hệ thống
trường dân tộc nội trú, khuyến khích phát triển giáo dục ở vùng núi và dân tộc ít
người, tăng cường cơ sở vật chất các trường học…
- Thứ năm, chi từ NSNN cho giáo dục nhằm đảm bảo công bằng xã hội trong
giáo dục. Ở các quốc gia không phải mọi công dân đều có khả năng chi trả các
khoản chi phí trực tiếp hay gián tiếp liên quan đến việc trực tiếp hưởng thụ giáo
dục. Nếu giáo dục được cung cấp hoàn toàn theo cơ chế thị trường mà không có sự
đầu tư từ NSNN thì bộ phận dân cư không có khả năng chi trả các khoản chi phí
giáo dục sẽ không có cơ hội được học tập, từ đó dẫn đến mất công bằng xã hội
trong giáo dục. Hơn nữa, công bằng xã hội trong giáo dục còn là điều kiện quan
trọng để đạt đến công bằng xã hội nói chung.
- Thứ sáu, chi của Nhà nước cho giáo dục nhằm để khắc phục khiếm khuyết
của thị trường vốn. Nghiên cứu kinh tế học giáo dục, các nhà kinh tế đều cho rằng,
thị trường vốn cho việc đầu tư vào giáo dục là không hoàn hảo. Có nhiều rủi ro
cho cả người vay và người cho vay khi đầu tư vào giáo dục. Hầu như không có cơ
sở cho việc xác định khả năng chắc chắn có việc làm và có được mức thu nhập sau
khi đã kết thúc khóa học để có thể trả được các khoản nợ vay cho việc học tập của
các cá nhân. Do vậy, các chủ thể cho vay vốn không dễ dàng chấp nhận bỏ vốn để
cho vay đầu tư vào việc học tập của các cá nhân. Khắc phục khiếm khuyết của thị
trường vốn cần thiết phải có sự can thiệp và đầu tư của Nhà nước cho giáo dục.
1.1.2. Cơ chế quản lý chi ngân sách nhà nước cho giáo dục, đào tạo
1.1.2.1 Quan niệm về cơ chế quản lý chi ngân sách nhà nước cho giáo dục,
đào tạo
- Khái niệm: Cơ chế là thuật ngữ chỉ phương thức hoạt động của một hệ
thống, trong đó có sự tương tác giữa các bộ phận, các yếu tố cấu thành của hệ
thống nhờ đó mà hệ thống có thể tồn tại, vận hành và phát triển.
Quản lý là yêu cầu tất yếu để đảm bảo sự hoạt động bình thường của mọi quá

Theo hướng tiêu cực có nghĩa là cơ chế quản lý đó là hợp lực của các hình
thức, phương thức, biện pháp có tác động ngược chiều nhau, cản trở lẫn nhau và
nảy sinh các mặt tiêu cực trong quá trình thực hiện các hoạt động đào tạo, kìm
hãm sự phát triển của nền giáo dục.
- Vai trò cơ chế quản lý chi ngân sách cho giáo dục:
+ Cơ chế quản lý chi ngân sách cho giáo dục có vai trò cân đối giữa việc tạo
lập, phân phối và sử dụng các nguồn lực tài chính đáp ứng nhu cầu phát triển nền
giáo dục quốc dân nói chung. Cơ chế chi ngân sách cho giáo dục có tác dụng khơi
dậy và huy động các nguồn tài chính trong xã hội, ngân sách nhà nước và ngoài
NSNN đầu tư vào phát triển giáo dục. Do đó các trường chủ động thu hút, khai
thác, tạo lập nguồn NSNN và ngoài NSNN, sử dụng hiệu quả các nguồn lực tài
chính đầu tư cho nhà trường.
+ Cơ chế quản lý chi ngân sách cho giáo dục tác động đến quá trình chi tiêu
ngân quỹ quốc gia, ảnh hưởng lớn đến việc thực hiện và hoàn thành nhiệm vụ của
đơn vị vì vậy các trường chịu sự kiểm tra giám sát tài chính của các cơ quan chủ
quản cấp trên, cơ quan tài chính trong quá trình tạo lập, phân phối và sử dụng các
nguồn tài chính, đảm bảo tuân thủ theo qui định của Nhà nước và điều chỉnh, ngăn
chặn các sai phạm, lành mạnh hoá và nâng cao hiệu quả các hoạt động tài chính
của các trường học.
+ Phát huy quyền tự chủ, tự chịu trách nhiệm của các trường trong việc tạo
lập, quản lý và sử dụng nguồn lực tài chính đầu tư từ ngân sách nhà nước và ngoài
NSNN cho nhà trường một cách tiết kiệm và hiệu quả, lành mạnh hoá các hoạt
động tài chính nhằm đảm bảo các nguồn kinh phí được đầu tư, được sử dụng đúng
mục đích, ngăn chặn các hiện tượng tham nhũng về tài chính trong các trường học.
1.1.2.2. Cấu trúc của cơ chế quản lý chi ngân sách nhà nước cho giáo dục,
đào tạo
Cấu trúc của hệ thống là hình thức cấu tạo bên trong của hệ thống, bao gồm

đối, bao gồm các cơ quan nhà nước thực hiện các chức năng quản lý nhà nước về
chi ngân sách cho giáo dục từ Trung ương đến địa phương. Bộ máy đó tuân thủ
những nguyên tắc của khoa học tổ chức nói chung và cả những nguyên tắc chính
trị- xã hội phản ánh đặc trưng riêng của mỗi Nhà nước.
Không có cách duy nhất để xây dựng bộ máy quản lý nhà nước về chi
NSNN cho giáo dục. Ngược lại mô hình được lựa chọn phụ thuộc vào nhiều yếu tố
khác nhau. Tuy nhiên, tính đa dạng của bộ máy quản lý không ngăn cản việc sử
dụng một quy trình thống nhất cho việc xây dựng và hoàn thiện cơ cấu bộ máy
quản lý nhà nước về chi NSNN.
Bộ máy quản lý chi NSNN cho giáo dục theo điều 52 của Nghị định số
60/2003/NĐ-CP ngày 06/06/2003 của Chính phủ đã qui định trách nhiệm của các
cơ quan và cá nhân trong việc quản lý chi NSNN, cụ thể như sau:
- Cơ quan tài chính:
+ Thẩm tra việc phân bổ dự toán ngân sách cho các đơn vị sử dụng ngân
sách giáo dục.
+ Bố trí nguồn để đáp ứng các nhu cầu chi, trường hợp các đơn vị sử dụng
ngân sách giáo dục chi vượt quá khả năng thu và huy động của quỹ ngân sách thì
cơ quan tài chính phải chủ động thực hiện các biện pháp vay tạm thời theo qui
định để đảm bảo nguồn.
+ Kiểm tra, giám sát việc thực hiện chi tiêu và sử dụng ngân sách ở các cơ
quan chức năng, đơn vị sử dụng ngân sách giáo dục.
+ Trường hợp phát hiện các khoản chi vượt nguồn cho phép, sai chính sách
chế độ hoặc đơn vị không chấp hành báo cáo thì có quyền yêu cầu kho bạc nhà
nước tạm dừng thanh toán. Trường hợp phát hiện việc chấp hành ảnh hưởng kết
quả nhiệm vụ thì có quyền yêu cầu các cơ quan nhà nước và các đơn vị dự toán
cấp trên có giải pháp kịp thời hoặc điều chỉnh nhiệm vụ, dự toán chi của các cơ
quan, đơn vị trực thuộc để đảm bảo thực hiện ngân sách theo mục tiêu và tiến độ

các công cụ quản lý khác, chủ yếu là: tính chủ thể, tính mục đích và tính hệ thống.
Công cụ quản lý chi ngân sách cho giáo dục chủ yếu là hệ thống chế độ tài
chính, kế toán do Nhà nước ban hành và hệ thống số sách báo cáo tài chính, chứng
từ … phản ánh các hoạt động thu, chi của các tổ chức, cơ sở giáo dục sử dụng
ngân sách Nhà nước. Nó ràng buộc và tạo môi trường tài chính cho tất cả hoạt
động giáo dục trong trật tự kỷ cương, luật pháp. Nhà nước vận dụng các đòn bẩy
ngân sách, các chính sách để kích thích, tác động thông qua lợi ích riêng của các
cơ sở và tổ chức giáo dục, đảm bảo lợi ích chung của toàn xã hội.
 Phương pháp quản lý chi NSNN cho giáo dục:
Con người là nhân tố trung tâm của bộ máy quản lý, là khâu trọng yếu trong
việc xử lý các thông tin để đề ra các quyết định quản lý. Trình độ cán bộ quản lý là
nhân tố có ảnh hưởng trực tiếp đến tính kịp thời, chính xác của các quyết định
quản lý, do đó nó ảnh hưởng trực tiếp đến chất lượng hoạt động của bộ máy quản
lý, quyết định sự thành bại của công tác quản lý nói chung cũng như công tác quản
lý NSNN cho giáo dục nói riêng.
Đối với cơ quan quản lý cấp trên, nếu cán bộ quản lý tài chính có kinh
nghiệm và trình độ chuyên môn nghiệp vụ sẽ đưa ra được những biện pháp quản
lý phù hợp, xử lý thông tin quản lý kịp thời, chính xác làm cho hoạt động quản lý
ngày càng đạt kết quả tốt.
Đối với các cơ sở và tổ chức giáo dục, một đội ngũ cán bộ kế toán tài chính
có trình độ chuyên môn nghiệp vụ, có kinh nghiệm công tác là một điều kiện hết
sức cần thiết để đưa công tác quản lý tài chính kế toán của các cơ sở giáo dục ngày
càng đi vào nề nếp, tuân thủ các chế độ quy định về tài chính kế toán của Nhà
nước, góp phần vào hiệu quả của công tác quản lý tài chính trong toàn ngành giáo
dục.
Như vậy, trình độ và phương pháp quản lý có tác động rất lớn đến hiệu quả
của công tác quản lý nói chung và quản lý NSNN cho giáo dục nói riêng. Nếu

chính quốc gia. Trước tiên nó giúp ngân sách cấp tỉnh, Trung ương giảm được
khối lượng công việc, bên cạnh đó nó cũng giúp các cấp chính quyền có thể nắm
bắt được tình hình kinh tế nói chung và tài chín nói riêng từ cơ sở.
Ngân sách quận, huyện mang bản chất của NSNN, đó là mối quan hệ giữa
ngân sách quận, huyện với các tổ chức, cá nhân trên địa bàn quận, huyện trong quá
trình phân bổ sử dụng các nguồn lực kinh tế của quận, huyện. Mối quan hệ đó
được điều chỉnh, điều tiết sao cho phù hợp với bản chất Nhà nước XHCN. Đó là
nhà nước của dân, do dân và vì dân dưới sự lãnh đạo của Đảng cộng sản Việt
Nam. Nhà nước Việt Nam là nhà nước của công nhân và nhân dân lao động, bộ
phận chiếm tuyệt đối đại đa số trong xã hội. Do vậy lợi ích của Nhà nước XHCN
Việt Nam không có gì hơn ngoài mong muốn được phục vụ tổ quốc, phục vụ nhân
dân.
Có thể nói việc ngân sách quận, huyện trở thành một cấp ngân sách đã làm
cho bộ mặt NSNN mang một diện mạo, sắc thái mới, nền tài chính quốc gia trở
nên lành mạnh hơn. Thực tế đã chứng minh trong những năm qua, xét ở cấp độ
quận, huyện tình hình kinh tế- kinh tế tài chính có những bước tiến đáng kể. Ngoài
ra, Ngân sách quận, huyện còn thể hiện bản chất chính trị của Nhà nước ta thông
qua việc thực hiện đúng đắn, hiệu quả, có sáng tạo các chủ trương chính sách cña
Đảng và Nhà nước. Tuy nhiên bên cạnh những điểm đã phát huy được là một loạt
những hạn chế cần khắc phục kịp thời, đòi hỏi sự quan tâm, tâm huyết của các cá
nhân, ban, ngành phối hợp cùng giải quyết.

Vai trò của Ngân sách quận, huyện
Ngân sách quận, huyện có vai trò đảm bảo chức năng Nhà nước an ninh-
quốc phòng, thúc đẩy phát triển ổn định kinh tế xã hội, bù đắp những khiếm
khuyết của thị trường, giữ vững ổn định công bằng xã hội và bảo vệ môi trường.
* Ngân sách quận, huyện bảo đảm thực hiện chức năng Nhà nước, bảo vệ

kích thích phát triển. Đồng thời các quận, huyện phải cung cấp kinh phí, vốn đầu
tư, hỗ trợ về cơ sở hạ tầng và tạo môi trường thuận lợi cho các doanh nghiệp hoạt
động.
Quận, huyện phải xây dựng cho mình một tiềm lực kinh tế riêng. Đó là các
doanh nghiệp Nhà nước do cấp quận, huyện quản lý. Loại hình doanh nghiệp này
đóng vai trò chủ đạo trong nền kinh tế quận, huyện và cũng giúp quận, huyện chủ
động trong việc xây dựng và phát triển kinh tế.
* Ngân sách quận, huyện là phương tiện bù đắp khiếm khuyết thị trường
đảm bảo công bằng xã hội và các vấn đề môi trường rên địa bàn quận, huyện.
Đây là vai trò không thể thiếu đối với Ngân sách mỗi quốc gia. Nó có tác
dụng xoa dịu nền kinh tế thị trường. Như chúng ta đã biết, kinh tế thị trường là
chạy theo lợi nhuận. Do vậy mà để lại một loạt các hậu quả như: Thất nghiệp,
phân cấp giàu nghèo, các vấn đề xã hội, đời sống của nhân dân không được quan
tâm, môi trường bị ô nhiễm … Những điều đó tạo ra cho nền kinh tế- xã hội một
vực thẳm phía trước. Cấp quận, huyện theo dõi các báo cáo tổng hợp từ cấp xã,
phường phải có biện pháp quản lý giải quyết cụ thể.
Ngoài việc quan tâm đến đời sống vật chất của người lao động, quận và
huyện phải thường xuyên quan tâm đến đời sống văn hóa, tinh thần của quần
chúng nhân dân trong quận, huyện; xây dựng và cải tạo các khu vui chơi, giải trí
lành mạnh tiến bộ phục vụ cho nhân dân; các dịch vụ công cộng như giáo dục, y tế
phải giảm được chi phí cho người dân giúp cho đời sống của nhân dân ngày càng
được đảm bảo và nâng cao.
* Nội dung chi của ngân sách quận, huyện
Nếu như thu ngân sách là quá trình tạo lập hình thành Ngân sách thì chi ngân
sách lại là quá trình sử dụng ngân sách. Nó không hoàn toàn ngược lại với quá
trình thu nhưng lại chịu sự điều khiển của quá trình thu tức là không thể chi nhiều
trong khi thu ít và ngược lại, đồng thời tạo thêm nguồn thu nhờ việc chi vào đầu tư

- Được nhà nước đầu tư cơ sở vật chất, đảm bảo chi phí hoạt động thường
xuyên để thực hiện nhiệm vụ chính trị, chuyên môn được giao.
- Đơn vị sự nghiệp được nhà nước cho phép thu một số loại phí, lệ phí được
tiến hành hoạt động cung ứng dịch vụ để bù đắp chi phí hoạt động tăng thu nhập
cho cán bộ, viên chức.
- Có tư cách pháp nhân, con dấu và tài khoản riêng
Theo Thông tư liên tịch số 90/2009/TTLT-BTC-BNV ngày 06/5/2009 của
liên bộ Tài chính, Bộ Nội vụ “Hướng dẫn chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ
cấu tổ chức của cơ quan chuyên môn về lĩnh vực tài chính thuộc Uỷ ban nhan dân
cấp tỉnh, cấp huyện”, quản lý chi ngân sách cho giáo dục cấp quận, huyện bao gồm
các chức năng, nhiệm vụ và phạm vi như sau:
+ Uỷ ban nhân dân cấp quận, huyện ban hành các quyết định, chỉ thị; quy
hoạch, kế hoạch dài hạn, 5 năm và hàng năm về ngân sách cho giáo dục thuộc
phạm vi quận, huyện quản lý.
+ Tổ chức thực hiện các văn bản quy phạm pháp luật, cơ chế, chính sách,
các quy hoạch, kế hoạch, chương trình ngân sách cho giáo dục đã được UBND cấp
quận, huyện phê duyệt; thông tin, tuyên truyền, phổ biến, giáo dục pháp luật về
lĩnh vực tài chính tới các cơ sở giáo dục do huyện quản lý.
+ Hướng dẫn các cơ sở giáo dục xây dựng kế hoạch tài chính hàng năm;
trình Uỷ ban nhân dân cấp quận, huyện phê duyệt.
+ Phòng Ngân sách quận, huyện có trách nhiệm lập dự toán chi ngân sách và
tổng hợp dự toán ngân sách, xây dựng phương án phân bổ ngân sách cho các cơ sở
giáo dục để trình Uỷ ban nhân dân cấp quận, huyện; tổ chức thực hiện dự toán ngân
sách đã được quyết định.
+ Hướng dẫn, kiểm tra việc quản lý tài chính, ngân sách, thực hiện chế độ
kế toán của các cơ sở giáo dục thuộc quân, huyện quản lý.
+ Thẩm tra quyết toán các dự án đầu tư cho giáo dục do quận, huyện quản

nhiên trường công lập vẫn giữ vai trò chủ đạo. Cùng với quá trình cải cách hành
chính thì việc đổi mới phương thức hoạt động và cơ chế chi ngân sách cấp quận,
huyện đối với các trường công lập là một nhu cầu cấp thiết với xã hội
Thứ nhất: Cơ chế quản lý chi ngân sách hiện hành vẫn mang nặng cơ chế
của thời kỳ kế hoạch hoá tập trung bao cấp, không còn phù hợp với cơ chế thị
trường và hội nhập quốc tế.
Cơ chế thị trường và hội nhập quốc tế không những tác động đến mục tiêu,
nội dung và phương pháp của giáo dục - đào tạo mà còn đòi hỏi sự đổi mới của
quản lý giáo dục. Trong cơ chế thị trường, các cơ sở giáo dục đào tạo phải có tính
tự chủ cao, kể cả tự chủ tài chính để thực hiện chức năng nhiệm vụ. Với nguồn
kinh phí từ NSNN thì cơ sở giáo dục vẫn phải được chủ động sử dụng. Cơ chế tài
chính cũ với những qui định quá chặt chẽ, chi tiết và cứng nhắc đã hạn chế, cản trở
sự chủ động của đơn vị khi thực hiện nhiệm vụ, sử dụng kinh phí kém hiệu quả và
đôi khi phải vận dụng để qua mặt các cơ quan quản lý tài chính nên dễ nảy sinh
tiêu cực.
Thứ hai: Trong cơ chế thị trường và hội nhập quốc tế, sản phẩm của giáo
dục – đào tạo ở một khía cạnh nhất định phải được xem như hàng hoá dịch vụ.
Chi ngân sách cho giáo dục phải được xem là chi đầu tư nâng cao chất lượng sản
phẩm đầu ra của giáo dục. Vì vậy cần có cơ chế vừa linh hoạt vừa chặt chẽ trong
quản lý chi ngân sách cho giáo dục.
Hàng hoá dịch vụ cũng có chi phí và giá cả. Người sản xuất đòi hỏi phải bù đắp
được chi phí và có lãi cần thiết để tồn tại và phát triển. Người mua hàng hoá dịch
vụ phải trả đúng giá cả của hàng hoá. Đối với các trường ngoài công lập thì đây
chính là cơ sở để xác định mức học phí, lệ phí hàng tháng phai đóng góp. Đối với
các trường công lập thì nguồn kinh phí chủ yếu vẫn là ngân sách nhà nước. Song,
do yêu cầu phát triển nhanh chóng của giáo dục - đào tạo đặc biệt là trong thời đại
bùng nổ của cách mạng khoa học công nghệ hiện đại đòi hỏi phải đầu tư cho giáo


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status