1vài Giải pháp nhằm nâng cao khả năng cạnh tranh của Cty ELẺCTOLEX trên thị trường VN - Pdf 11

Đề tài: Biện pháp tăng tính cạnh tranh của hoạt động phát
hành thẻ tại Ngân hàng Ngoại thơng Việt Nam.
Chơng 1: Lý thuyết chung về thẻ
I. Hai hình thức thanh toán tiền tệ
Tiền tệ vừa là sản phẩm vừa là công cụ phát triển của nền kinh tế hàng
hoá. Trong nền kinh tế thị trờng, các quan hệ thanh toán chi trả lẫn nhau phải
dùng tiền tệ. Vì vậy, thanh toán tiền tệ là một yêu cầu khách quan, là điều kiện
cần thiết để phục vụ cho quá trình tái sản xuất xã hội.
Thanh toán tiền tệ đợc thực hiện dới hai hình thức: thanh toán bằng tiền
mặt và thanh toán không dùng tiền mặt.
1. Thanh toán tiền mặt
Thanh toán dùng tiền mặt là việc chi trả trực tiếp bằng tiền mặt trong
các quan hệ thanh toán thu chi. Đặc điểm của mối quan hệ thanh toán này là
việc thanh toán đợc thực hiện trực tiếp giữa ngời mua- ngời bán, không có sự
xuất hiện của bên thứ ba, do đó các ngân hàng thơng mại không có vai trò gì
trong mối quan hệ thanh toán này. Trong thanh toán tiền mặt, sự vận động của
hàng hoá gắn liền với sự vận động của tiền tệ và tiền tệ đóng vai trò làm vật
môi giới trong quá trình lu thông. Nhng khi sản xuất và trao đổi phát triển đến
một trình độ cao hơn thì việc thanh toán trực tiếp bằng tiền mặt không còn giữ
địa vị độc tôn, không những thế nó còn tỏ ra có nhiều điểm không thích hợp.
Sự hạn chế của nó thể hiện ở chỗ giao dịch thờng có giá trị lớn hơn trớc, do đó
cần phải có một khối lợng lớn tiền mặt. Điều đó làm cho các đơn vị kinh
doanh tốn nhiều chi phí và chịu nhiều rủi ro, đặc biệt là khi không gian sản
xuất đợc mở rộng, nhiều đơn vị kinh doanh có mối quan hệ làm ăn ở rất xa
nhau, đồng thời gây ra nhiều khó khăn cho nhà nớc trong việc quản lý tiền tệ.
Những bất tiện của việc sử dụng tiền mặt trong thanh toán đòi hỏi phải
có thêm những hình thức thanh toán thuận lợi hơn. Bên cạnh đó, với sự phát
triển vợt bậc của hệ thống ngân hàng, các dịch vụ, các công cụ thanh toán đã
đợc ngân hàng nghiên cứu đa ra để khách hàng lựa chọn cho mình một hình
thức thanh toán thích hợp thay cho thanh toán tiền mặt. Thanh toán không
dùng tiền mặt phát sinh từ đó và càng ngày càng đóng vai trò quan trọng trong

3. Một số công cụ thanh toán không dùng tiền mặt
Vì tính chất hoạt động thanh toán rất đa dạng, diễn ra trong các phạm vi
khác nhau, phục vụ cho các đối tợng khác nhau, do vậy các phơng tiện thanh
toán không dùng tiền mặt cũng có nhiều loại khác nhau. Sau đây chỉ đề cập
đến một số phơng tiện thanh toán không dùng tiền mặt có sự xuất hiện của
ngân hàng làm trung gian thanh toán:
Sec: là một tờ mệnh lệnh trả tiền vô điều kiện, do khách hàng của ngân
hàng ra lệnh cho ngân hàng trích ra một số tiền nhất định trên tài khoản của
mình mở tại ngân hàng, để trả cho ngời cầm séc hoặc cho ngời (tổ chức hay cá
nhân) đợc chỉ định trên tờ sec. Việc sử dụng séc cho phép việc thanh toán đợc
thực hiện ở xa và an toàn, tiện lợi hơn tiền mặt.
Uỷ nhiệm thu: là phơng tiện thanh toán mà tổ chức hoặc cá nhân uỷ
nhiệm cho ngân hàng thu hộ tiền hàng hoá đã giao hoặc dịch vụ đã cung ứng.
Việc thanh toán này yêu cầu bên bán phải hoàn toàn tin tởng vào bên mua.
Uỷ nhiệm chi- chuyển tiền: là lệnh chi tiền của chủ tài khoản ra lệnh
cho ngân hàng trích tài khoản của mình để trả cho đơn vị hoặc cá nhân đợc h-
ởng. Thanh toán bằng uỷ nhiệm chi đợc thực hiện với những đối tác có tín
nhiệm lẫn nhau, vì vậy cùng với uỷ nhiệm thu, nó không thích hợp đối với thị
trờng đông ngời mua và ngời bán và họ không có thông tin về nhau.
Th tín dụng: là phơng tiện thanh toán trong điều kiện đơn vị bán hàng
đòi hỏi đơn vị mua phải có đủ tiền để chi trả ngay và phù hợp với tổng số tiền
hàng hoá giao theo hợp đồng hoặc theo đơn đặt hàng đã ký. Hình thức này th-
ờng đợc sử dụng trong thanh toán quốc tế. Th tín dụng đợc ngân hàng bảo đảm
nhng việc thực hiện phức tạp, tốn kém.
Thẻ: là một phơng tiện thanh toán hiện đại do ngân hàng (hoặc công ty)
phát hành cho khách hàng của mình để thanh toán tiền hàng hóa, dịch vụ và
rút tiền mặt. Các công cụ khác, ngoài séc, đều yêu cầu một khoản phí khá lớn
cho từng giao dịch, đặc biệt là những giao dịch khối lợng không lớn, vì vậy đối
với những giao dịch xảy ra thờng xuyên thì thẻ tỏ ra có u thế hơn hẳn những
công cụ còn lại.

đến lợi nhuận, thẻ của mỗi hệ thống chỉ sử dụng đợc trong hệ thống đó nên
tính tiện lợi của thẻ không cao, nhiều đại lý nhỏ không đủ điều kiện và khả
4
năng cung cấp tín dụng cho các khách hàng của họ. Nhu cầu có một loại thẻ
chung để có thể sử dụng thanh toán tại các điểm bán hàng trở nên rất cấp thiết
và chính nó đã tạo điều kiện cho các tổ chức tài chính vào cuộc.
Năm 1946, dạng thẻ đầu tiên của thẻ ngân hàng là Charge-It của ngân
hàng John Biggins xuất hiện tại Mỹ, cho phép các khách hàng thực hiện các
giao dịch nội địa bằng các phiếu có giá trị do ngân hàng phát hành. Các đại lý
nộp các phiếu giao dịch cho ngân hàng Biggins, ngân hàng sẽ thanh toán các
giao dịch đó cho các đại lý và thu lại tiền từ các khách hàng.
Những năm sau đó, ngày càng có nhiều tổ chức tài chính tham gia vào
thị trờng thẻ. Thẻ Charge-It đã mở đờng cho sự ra đời của thẻ vào năm 1951
do ngân hàng Franklin National, New York phát hành. Tại đây, khách hàng
xin cấp hạn mức tín dụng và đợc thẩm định khả năng thanh toán, tình hình tài
chính thông qua hoạt động tín dụng trớc đó của họ với ngân hàng. Những
khách hàng đủ tiêu chuẩn sẽ đợc cấp thẻ để thực hiện giao dịch tại các đại lý
chấp nhận thẻ. Các cơ sở này khi nhận đợc giao dịch sẽ liên hệ với ngân hàng,
nếu đợc phép chuẩn chi họ sẽ thực hiện giao dịch và đòi tiền sau đối với ngân
hàng. Các chủ thẻ phải trả toàn bộ d nợ vào cuối tháng.
Năm 1955, hàng loạt thẻ mới nh Trip Charge, Golden Key, Gourmet
Club rồi đến Carte Blanche và American Express (1958), JCB (1961) ra đời.
Năm 1960, ngân hàng Bank of America giới thiệu sản phẩm thẻ ngân hàng của
riêng mình, the Bank Americard, và đã đạt đợc nhiều thành công. Với những
lợi ích của hệ thống thanh toán này, ngày càng có nhiều tổ chức tín dụng tham
gia thanh toán. Nhiều tổ chức phát hành thẻ khác bắt đầu liên kết để cạnh
tranh với Bank of America. Năm 1966, 14 ngân hàng Mỹ liên kết thành tổ
chức Interbank (Interbank Card Association-ICA), một tổ chức mới có khả
năng trao đổi thông tin các giao dịch thẻ tín dụng. Năm 1967, bốn ngân hàng
California đổi tên từ California Bankcard Association thành Western States

2. Một số nội dung liên quan đến thẻ
2.1. Khái niệm
Thẻ là một tấm nhựa chứa băng từ hoặc chip điện tử để lu giữ các thông
tin, số liệu cần thiết đã đợc mã hoá. Nói một cách ngắn gọn, thẻ là một phơng
tiện thanh toán không dùng tiền mặt do ngân hàng hoặc tổ chức tài chính phát
hành cấp cho khách hàng và đợc sử dụng để rút tiền mặt tại các ngân hàng đại
lí, các máy rút tiền tự động hoặc thanh toán tiền hàng hoá, dịch vụ tại những
cơ sở chấp nhận thẻ trong phạm vi số d tài khoản tiền gửi hoặc hạn mức tín
dụng đợc ký kết giữa ngân hàng phát hành thẻ và chủ thẻ.
6
Đối với ngân hàng, việc phát hành và thanh toán thẻ là hoạt động bao
gồm các nghiệp vụ cho vay, huy động vốn (đặt cọc hoặc có tiền trong tài
khoản), thanh toán trong nớc và ngoài nớc.
2.2. Mô tả thẻ về kĩ thuật
Hầu hết các loại thẻ thanh toán quốc tế làm bằng nhựa cấu tạo với 3 lớp
đợc ép với kĩ thuật cao. Thẻ có kích thớc: 84mm x 54mm x 0,76mm có góc
tròn gồm 2 mặt có in đầy đủ các yếu tố nh: nhãn hiệu thơng mại của thẻ, tên
và logo của nhà phát hành thẻ, số thẻ, tên chủ thẻ và ngày hiệu lực và một
số yếu tố khác tuỳ theo quy định của các tổ chức thẻ quốc tế hoặc hiệp hội
phát hành thẻ.
Mặt trớc của thẻ gồm:
-Tên và biểu tợng của ngân hàng phát hành thẻ, của tổ chức thẻ: Mỗi loại thẻ
có một biểu tợng riêng, mang tính đặc trng của tổ chức phát hành thẻ. Đây đợc
xem nh một yếu tố an ninh, chống lại sự giả mạo.
-Số thẻ (đợc in nổi): số này dành riêng cho mỗi chủ thẻ, đợc dập nổi trên thẻ
và đợc in lại trên hoá đơn khi chủ thẻ thanh toán bằng thẻ. Tuỳ theo từng loại
thẻ mà có chữ số, cách cấu trúc theo nhóm khác nhau.
-Họ tên chủ thẻ: in chữ nổi, là tên của cá nhân nếu là thẻ cá nhân, tên của ngời
đợc uỷ quyền nếu là thẻ công ty.
-Ngày hiệu lực của thẻ (đợc in nổi): là thời hạn mà thẻ đợc phép lu hành. Tuỳ

mới chỉ phổ biến ở các nớc phát triển dù các tổ chức thẻ vẫn đang khuyến
khích các ngân hàng thành viên đầu t để phát hành và chấp nhận loại thẻ này
nhằm giảm tỷ lệ rủi ro do giả mạo thẻ.
2.3.2. Theo chủ thể phát hành:
1. Thẻ do ngân hàng phát hành: giúp khách hàng sử dụng linh động tài
khoản của mình tại ngân hàng, hoặc sử dụng một số tiền do ngân hàng cấp tín
dụng. Loại thẻ này đợc sử dụng phổ biến nhất hiện nay. Nó không chỉ lu hành
trong một quốc gia mà còn có thể lu hành trên toàn cầu nh thẻ Visa, Master,..
8
2. Thẻ do các tổ chức phi ngân hàng phát hành: là các loại thẻ du lịch và
giải trí của các tập đoàn kinh doanh lớn phát hành nh Diners Club, Amex,.. và
cũng lu hành trên toàn cầu.
2.3.3. Theo tính chất thanh toán của thẻ:
1. Thẻ tín dụng: là loại thẻ đợc sử dụng phổ biến nhất, theo đó ngời chủ
thẻ đợc phép sử dụng một hạn mức tín dụng tuần hoàn để mua sắm hàng hoá,
dịch vụ tại những cơ sở chấp nhận loại thẻ này. Thẻ tín dụng thờng do ngân
hàng phát hành và thờng đợc quy định một hạn mức tín dụng nhất định trên cơ
sở khả năng tài chính, tài sản thế chấp của chủ thẻ. Chủ thẻ chỉ đợc phép chi
tiêu trong phạm vi hạn mức đã cho và phải thanh toán cho ngân hàng phát
hành thẻ theo kỳ hàng tháng, lãi suất tín dụng tuỳ thuộc vào quy định của mỗi
ngân hàng phát hành. Thẻ tín dụng đợc coi là một công cụ tín dụng trong lĩnh
vực cho vay tiêu dùng.
2. Thẻ ghi nợ: có quan hệ trực tiếp và gắn liền với tài khoản tiền gửi của
chủ thẻ. Chủ thẻ cũng có thể đợc ngân hàng cấp cho một mức thấu chi theo sự
thoả thuận giữa hai bên. Những giao dịch thực hiện bằng thẻ này sẽ đợc khấu
trừ vào tài khoản của chủ thẻ và ghi có vào tài khoản của cơ sở chấp nhận thẻ
(CSCNT). Thẻ ghi nợ có hai loại cơ bản là thẻ on-line và thẻ off-line. Thẻ on-
line là thẻ ghi nợ mà những thông tin về giao dịch đợc kết nối trực tiếp từ thiết
bị điện tử đặt tại CSCNT hoặc điểm rút tiền mặt tới ngân hàng phát hành. Giá
trị những giao dịch đợc khấu trừ ngay lập tức vào tài khoản chủ thẻ. Thẻ off-

thế giới bởi những tổ chức tài chính lớn nh Visa, Master hoặc công ty điều
hành hoạt động thống nhất và đồng bộ. Thẻ quốc tế đợc a chuộng bởi tính an
toàn, tiện lợi của nó.
2.4. Quy trình phát hành, sử dụng và thanh toán thẻ
2.4.1. Các chủ thể chính tham gia hoạt động kinh doanh thẻ
Tổ chức thẻ quốc tế là tổ chức đứng ra liên kết với các thành viên, đặt ra các
qui định bắt buộc đối với các thành viên phải áp dụng và tuân theo thống nhất
thành một hệ thống toàn cầu. Bất cứ ngân hàng nào hiện nay hoạt động trong
lĩnh vực thẻ thanh toán quốc tế đều phải gia nhập vào ít nhất là một tổ chức thẻ
quốc tế. Tổ chức thẻ đợc tổ chức dới hai hình thức: hiệp hội và ngân hàng (hay
công ty).
10
Hình thức hiệp hội: do một nhóm ngân hàng liên kết với nhau thành lập
ra. Hiệp hội soạn thảo các quy định riêng về cách tổ chức, cấp phép, bù trừ,
thanh toán áp dụng cho tất cả các thành viên của hiệp hội, đồng thời tổ chức về
vấn đề cạnh tranh trên thị trờng và vấn đề pháp lý. Hiệp hội không trực tiếp
phát hành thẻ mà giao việc này cho các ngân hàng thành viên và thu phí thờng
niên. Điển hình của loại hình này là các tổ chức Visa và Master.
Hình thức ngân hàng (hay công ty): do một hoặc hai ngân hàng hay
công ty đứng ra tổ chức và độc quyền phát hành loại thẻ của họ. Họ trực tiếp
phát hành thẻ và đứng ra quản lý chủ thẻ. Việc mở rộng thị trờng đợc thực
hiện bằng cách lập ra các chi nhánh hay văn phòng đại diện phát hành thẻ, do
vậy phạm vi hoạt động thờng nhỏ hơn so với hình thức hiệp hội. JCB và
American Express là điển hình của hình thức tổ chức này.
Ngân hàng phát hành thẻ: là thành viên chính thức của tổ chức thẻ và đợc
phép phát hành thẻ. Ngân hàng này có trách nhiệm tiếp nhận, xử lý hồ sơ xin
cấp thẻ, thiết kế các tiêu chuẩn kĩ thuật, mật mã, kí hiệu,.. cho các loại thẻ để
bảo đảm an toàn trong quá trình sử dụng thẻ, sau đó phát hành thẻ cho khách
hàng, mở và quản lí tài khoản thẻ, chịu trách nhiệm việc thanh toán số tiền mà
khách hàng trả cho ngời bán bằng thẻ.

các tổ chức thẻ quốc tế.
Dựa trên các cơ sở này, mỗi ngân hàng sẽ có những quy chế riêng về
nghiệp vụ thẻ do Tổng Giám đốc ngân hàng quy định.
2.4.3. Trình tự các bớc của nghiệp vụ thẻ
Hoạt động phát hành và thanh toán thẻ khác nhau ở mỗi quốc gia, mỗi
ngân hàng về thủ tục và các điều kiện do các yếu tố ràng buộc về pháp luật,
chính trị, trình độ phát triển dân trí hay điều kiện kinh tế xã hội. Song về tổng
thể, quy trình này gồm có những nội dung cơ bản đợc thể hiện trong sơ đồ sau:
(8)
(6)
(7)
(2)
12
Ngân hàng phát
hành
(1)
(4) (6) (7) (8)

(5) (3)
(4) (6) (7) (8)
(4)

(6)
(7)
:Quy trình phát hành :Quy trình đòi tiền
:Quy trình cấp phép :Quy trình thanh toán
:Quy trình khiếu nại và xử lý tranh chấp
(1) Ngân hàng phát hành yêu cầu khách hàng phát hành thẻ cung cấp các
hồ sơ cần thiết theo quy định chứng minh nhân thân của khách hàng,
khả năng thanh toán của họ và các tổ chức cá nhân có quan hệ.

Bớc 1: Khách hàng nộp hồ sơ yêu cầu phát hành thẻ và hoàn thành một
số thủ tục cần thiết nh điền vào giấy tờ xin cấp thẻ, trình một số giấy tờ khác
nh: giấy thông hành, biên lai trả lơng, nộp thuế thu nhập,..
Bớc 2: Ngân hàng phát hành nhận kiểm tra hồ sơ theo quy định.
Trong vòng 4 ngày kể từ ngày nhận đợc bộ hồ sơ đầy đủ, ngân hàng
phát hành có trách nhiệm thẩm định bộ hồ sơ và ra quyết định chấp nhận hoặc
từ chối phát hành thẻ.
Đối với những hồ sơ đợc chấp thuận, ngân hàng phát hành tiến hành
phân loại khách hàng. Đối với thẻ ghi nợ, việc phát hành thẻ đơn giản vì khách
14
hàng đã có tài khoản tại ngân hàng. Còn đối với thẻ tín dụng, ngân hàng phải
xác định các yếu tố sau:
-Hạng thẻ phát hành: thẻ vàng hay thẻ chuẩn.
-Hạn mức tín dụng.
-Thời hạn thẻ.
-Phân loại chủ thẻ để xác định hạn mức tiêu dùng của mỗi chủ thẻ.
Bớc 3: Cấp thẻ cho khách hàng.
Sau khi xác định các yếu tố, bộ phận quản lý thẻ lập hồ sơ khách hàng
để quản lý. Hồ sơ gồm: tên chủ thẻ, địa chỉ nơi ở và làm việc, số CMND, số hộ
chiếu, số thẻ, loại thẻ, ngày hiệu lực, số tài khoản chỉ định để thanh toán sao
kê, ngời thanh toán sao kê, tài sản thế chấp (nếu có).
Sau đó, ngân hàng tiến hành mã hoá thẻ và in thẻ, xác định mã số cá
nhân (PIN) của chủ thẻ, nhập dữ liệu về chủ thẻ vào tập tin quản lý, giao thẻ và
số PIN cho chủ thẻ. Chủ thẻ nhận thẻ, ký vào hợp đồng sử dụng thẻ và băng
chữ ký ở mặt sau của thẻ.
2.5. Một số thiết bị sử dụng
Thanh toán bằng thẻ là phơng thức thanh toán không dùng tiền mặt và
nó đòi hỏi phải có số thiết bị kĩ thuật hỗ trợ cho việc thanh toán đợc đơn giản,
nhanh gọn và an toàn. Các thiết bị hỗ trợ rất nhiều nhng hiện nay chủ yếu là
các loại sau:

Máy rút tiền tự động bên trong có chứa nhiều tiền mặt, khi sử dụng đút
thẻ vào khe, sau đó trên máy sẽ xuất hiện những yêu cầu nh nhập mã số cá
nhân, số tiền cần rút,.. Thông tin về giao dịch này sẽ đợc truyền về ngân hàng
phát hành, nếu ngân hàng cho phép, máy sẽ đa tiền ra cho khách hàng. Nếu
khách hàng nhập mã số cá nhân sai đến 3 lần thì máy sẽ tự động giữ lại thẻ
luôn để đề phòng việc sử dụng thẻ bị mất cắp.
2.6. Ưu nhợc điểm của việc thanh toán bằng thẻ
2.6.1. Đối với ngời sử dụng thẻ
Tiện lợi, linh hoạt và nhanh chóng trong thanh toán ở trong và
ngoài nớc: Tiện ích nổi bật cho ngời sử dụng thẻ là sự tiện lợi và tính linh hoạt
hơn hẳn các phơng tiện thanh toán khác của thẻ. Chủ thẻ có thể thực sự cảm
16
nhận thấy điều này khi di du lịch hay công tác ở nớc ngoài. Thẻ thanh toán nh
Visa, Master và trong phạm vi hẹp hơn là Amex, Diners Club đợc chấp nhận
trên toàn thế giới. Điều này có nghĩa là khi dự định ra nớc ngoài, thay vì phải
chuẩn bị trớc một lợng ngoại tệ hay sec du lịch, chủ thẻ có thể mang theo thẻ
để thanh toán cho mọi nhu cầu chi tiêu của mình. Chủ thẻ cũng có thể thấy
điều này khi sử dụng thẻ để thanh toán tiền hàng hoá, dịch vụ thông qua một
mạng lới rộng rãi các CSCNT trong và ngoài nớc hay rút tiền mặt khi cần thiết
tại các tổ chức tài chính hay ngân hàng trên thế giới hoặc tại các máy rút tiền
tự động ATM với loại tiền phù hợp của nớc sở tại.
Với kích thớc gọn nhẹ của thẻ, chủ thẻ có thể dễ dàng mang theo ngời,
tạo cảm giác thoải mái khi đi mua sắm, đặc biệt với khối lợng chi trả lớn. Khi
mua sắm hàng hoá, dịch vụ, khách hàng chỉ cần xuất trình thẻ và ký vào hoá
đơn thanh toán thì việc mua bán hàng hoá coi nh đã hoàn thành. Với việc sử
dụng thẻ, một cách gián tiếp khách hàng đã tiết kiệm đợc chi phí vận chuyển
và kiểm đếm tiền. Với việc sử dụng thẻ, khách hàng có thể thực hiện giao dịch
bằng bất cứ loại tiền tệ nào trên thế giới nhng chỉ phải thanh toán cho ngân
hàng phát hành thẻ bằng đồng bản tệ.
Bên cạnh đó, với một tấm thẻ trong tay, chủ thẻ không còn gặp tình

trong tơng lai.
Văn minh: Thanh toán bằng thẻ ngoài tính thuận tiện, gọn nhẹ, nhanh
chóng, an toàn và hiệu quả đối với chủ thẻ còn tạo thêm vẻ văn minh lịch sự,
sang trọng cho khách hàng khi thanh toán. Mặt khác, nó còn giúp khách hàng
tiếp cận với các phơng thức mua hàng gián tiếp hiện nay nh đặt hàng qua th
hay điện thoại, mua hàng qua mạng.
2.6.2. Đối với đơn vị chấp nhận thẻ
Các CSCNT là điều kiện không thể thiếu đối với sự phát triển thanh
toán thẻ. Thẻ sẽ trở nên vô dụng nếu nh không có hay thiếu chủ thể này. Khi
tham gia thanh toán thẻ, lợi ích mà các đại lý chấp nhận thẻ sẽ lớn hơn rất
nhiều so với các chi phí mà họ phải bỏ ra.
Với việc chấp nhận thẻ, sự sang trọng cũng nh uy tín của đại lý sẽ tăng
lên vì thẻ là một phơng tiện thanh toán hiện đại . Nó đại diện cho một xã hội
văn minh, tiến bộ. Trong điều kiện đời sống của ngời dân đợc nâng cao thì du
lịch quốc tế trở thành một nhu cầu không thể thiếu. Ngày nay thẻ đã đợc sử
dụng rộng rãi trên thế giới và khách nớc ngoài thờng rất thích dùng thẻ nên
18
chấp nhận thẻ cũng là một cách giúp các đại lý thu hút khách hàng, tăng
doanh số bán hàng.
Việc chấp nhận thẻ sẽ giúp các đơn vị này đa dạng hoá phơng thức
thanh toán, giảm tình trạng chậm trả của khách hàng cũng nh công tác kiểm
đếm, thu giữ tiền mặt, tránh nhận phải tiền giả trong thanh toán, qua đó giảm
đợc các chi phí kinh doanh không cần thiết.
Một điều quan trọng khác là khi chấp nhận thanh toán thẻ, các CSCNT
hởng lợi rất nhiều từ ngân hàng. Các đại lý sẽ đợc ngân hàng cung cấp các
máy móc cần thiết cho việc thanh toán bằng thẻ, họ không phải mất tiền đầu t
cho hình thức thanh toán này. Các CSCNT nhờ đó cũng thiết lập đợc mối quan
hệ mật thiết với ngân hàng, điều này đồng nghĩa với việc ngân hàng sẽ dành
cho họ những khoản u đãi trong những giao dịch khác, đặc biệt là trong các
quan hệ tín dụng. Trong nền kinh tế thị trờng, hầu hết các cơ sở kinh doanh

còn là uy tín, là danh tiếng của ngân hàng, mà trong hoạt động kinh doanh
ngân hàng thì uy tín cũng nh danh tiếng là điều tối quan trọng quyết định sự
tồn tại, phát triển của ngân hàng cũng nh khả năng cạnh tranh của ngân hàng
trong tơng lai.
2.6.4. Đối với phát triển kinh tế- xã hội
Nhờ những thành tựu rực rỡ trong lĩnh vực công nghệ thông tin những
năm gần đây, công dụng của thẻ ngày càng đợc phát triển, mở rộng và càng
thể hiện vai trò to lớn của mình trong sự phát triển kinh tế- xã hội.
Thứ nhất, thẻ góp phần làm giảm khối lợng tiền mặt trong lu thông. ở
những nớc phát triển, thanh toán tiêu dùng bằng thẻ chiếm tỷ trọng lớn nhất
trong các phơng tiện thanh toán. Nhờ vậy mà khối lợng cũng nh áp lực tiền
mặt trong lu thông giảm đáng kể, từ đó làm giảm các chi phí vận chuyển, phát
hành, kiểm kê tiền trong nền kinh tế, đồng thời cũng giúp ngăn chặn đợc nạn
làm tiền giả.
Thứ hai là tăng nhanh tốc độ chu chuyển, thanh toán. Hầu hết mọi giao
dịch thẻ trong phạm vi quốc gia hay toàn cầu đều đợc thực hiện và thanh toán
trực tuyến, vì vậy tốc độ chu chuyển, thanh toán nhanh hơn nhiều so với những
giao dịch sử dụng các phơng tiện thanh toán khác. Thay vì thực hiện các giao
dịch trên giấy tờ, với giao dịch thẻ, mọi thông tin đều đợc xử lý qua hệ thống
máy móc điện tử thuận tiện, nhanh chóng.
20
Thứ ba là thực hiện chính sách quản lý vĩ mô của nhà nớc. Việc sử dụng
thẻ đợc thực hiện thông qua mạng trực tuyến dới sự kiểm soát của ngân hàng
đã tạo điều kiện quan trọng cho việc kiểm soát khối lợng giao dịch thanh toán
của dân c và của cả nền kinh tế, do đó hạn chế và giảm thiểu tác động tiêu cực
của các hoạt động kinh tế ngầm, đồng thời tạo tiền đề cho việc tính toán lợng
tiền cung ứng, tăng cờng tính chủ đạo của nhà nớc trong điều tiết nền kinh tế,
điều hành, thực thi các chính sách kinh tế tài chính, tiền tệ, ngoại hối và thực
hiện quản lý thuế có hiệu quả.
Thứ t là cải thiện môi trờng văn minh thơng mại, thu hút khách du lịch

thể dẫn đến tổn thất cho cả chủ thẻ và NHPH và chiếm tỷ lệ xấp xỉ 59% trong
tất cả các loại rủi ro.
Chủ thẻ không nhận đợc thẻ do NHPH gửi: NHPH gửi thẻ cho chủ thẻ bằng
đờng bu điện nhng thẻ bị thất lạc hoặc bị đánh cắp trên đờng gửi. Thẻ bị sử
dụng trong khi chủ thẻ chính thức lại không hay biết gì về việc thẻ đã đợc gửi
cho mình. Trờng hợp này rủi ro do NHPH chịu.
Tài khoản của chủ thẻ bị lợi dụng: Đến kỳ phát hành lại thẻ, NHPH nhận đ-
ợc thông báo thay đổi địa chỉ của chủ thẻ. Do không kiểm tra tính xác thực của
thông báo đó, thẻ đợc gửi về địa chỉ mới không phải là địa chỉ của chủ thẻ đích
thực, dẫn đến tài khoản của chủ thẻ bị lợi dụng. Việc này sẽ chỉ đợc phát hiện
khi chủ thẻ hỏi NHPH về thẻ mới của mình hoặc khi nhận đợc sao kê thanh
toán nợ cho những khoản mà mình không hề chi tiêu. Rủi ro này chủ thẻ và
NHPH cùng phải chịu.
Thẻ bị giả mạo để thanh toán qua th, điện thoại: CSCNT cung cấp dịch vụ,
hàng hoá theo yêu cầu của chủ thẻ qua th hoặc điện thoại dựa vào các thông
tin về chủ thẻ: loại thẻ, số thẻ, ngày hiệu lực, tên chủ thẻ, mà không biết
rằng khách hàng đó có thể không phải là chủ thẻ chính thức. Khi giao dịch đó
bị NHPH từ chối thanh toán thì CSCNT phải chịu rủi ro.
Nhân viên CSCNT giả mạo hoá đơn thanh toán thẻ: Khi thực hiện giao
dịch, nhân viên CSCNT cố tình in ra nhiều bộ hoá đơn thanh toán cho một
giao dịch nhng chỉ đa cho chủ thẻ ký vào một bộ hoá đơn. Các hoá đơn còn lại
bị giả mạo chữ ký của chủ thẻ để thu đòi tiền từ NHTTT. Trờng hợp này dẫn
đến rủi ro cho CSCNT hoặc NHPH.
22
Tạo băng từ giả: Các tổ chức tội phạm dùng các thiết bị chuyên dụng thu
thập thông tin thẻ trên băng từ của thẻ thật tại CSCNT, sử dụng phần mềm
riêng để mã hoá, in và tạo băng từ trên thẻ giả và thực hiện các giao dịch giả
mạo. Loại thẻ này đang phát triển tại các nớc tiên tiến và gây thiệt hại cho chủ
thẻ, NHPH và NHTT.
2.7. Các nhân tố ảnh hởng đến sự phát triển thẻ thanh toán

ời dân, là điều kiện cần thiết của hoạt động kinh doanh thẻ.
2.7.1.4.Điều kiện về pháp lý
Hoạt động thẻ của các ngân hàng phụ thuộc rất nhiều vào môi trờng
pháp lý mỗi quốc gia. Một hành lang pháp lý thống nhất cho hoạt động thẻ tạo
cho các ngân hàng một sự chủ động khi tham gia thị trờng thẻ, trong việc đề ra
chiến lợc kinh doanh. Một môi trờng pháp lý đầy đủ hiệu lực, chặt chẽ, thống
nhất, đồng bộ mới có thể đảm bảo cho quyền lợi của tất cả các bên tham gia
phát hành, sử dụng và thanh toán thẻ, bảo đảm cạnh tranh lành mạnh giữa các
ngân hàng trên thị trờng thẻ, từ đó tạo nền tảng vững chắc cho phát triển thẻ
trong tơng lai.
2.7.1.5.Điều kiện về cạnh tranh
Mở rộng phát hành và thanh toán thẻ phụ thuộc rất nhiều vào cạnh tranh
trên thị trờng. Sự cạnh tranh lành mạnh buộc các ngân hàng phải có suy nghĩ
nghiêm túc cho việc đầu t phát triển loại hình thanh toán hiện đại, tạo cho
ngân hàng sự chủ động, sáng tạo trong việc cung cấp những sản phẩm thẻ chất
lợng tốt nhất đem lại lợi ích cao nhất cho khách hàng để thu lợi nhuận.
2.7.2. Các nhân tố chủ quan
2.7.1.3.Điều kiện khoa học công nghệ:
Các ứng dụng của tin học đã tạo nên những tiện ích kỳ diệu của thẻ.
Thanh toán thẻ gắn liền với các máy móc thiết bị hiện đại nên nếu hệ thống
này có trục trặc thì sẽ gây ách tắc trong toàn hệ thống. Vì vậy, đã đa ra dịch vụ
thẻ, ngân hàng phải đảm bảo một công nghệ thanh toán hiện đại theo kịp yêu
cầu của thế giới. Hơn nữa, chỉ khi có trình độ kỹ thuật cao thì việc vận hành,
bảo dỡng, duy trì hệ thống máy móc phục vụ phát hành, thanh toán thẻ mới có
hiệu quả, từ đó thu hút thêm ngời sử dụng nó.
24
2.7.2.1.Vốn
Hoạt động thẻ đòi hỏi một chi phí đầu t cao cho việc lắp đặt những thiết
bị và công nghệ hiện đại nh máy ATM, máy thanh toán thẻ tại các điểm bán
hàng (POS). Vì vậy, vốn đầu t là điều kiện đầu tiên và quan trọng nhất đối với


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status