Báo cáo thực tập Đại Học Kinh Doanh Và Công Nghệ Hà Nội
LỜI MỞ ĐẦU
Trên thế giới hiện nay xu hướng tự do hóa thương mại đang phát triển
mạnh mẽ, thúc đẩy thương mại hàng hóa phát triển. Việt Nam cũng không nằm
ngoài xu thế đó, đang từng bước mở cửa để hội nhập. Năm 2006, Việt Nam gia
nhập WTO và thực hiện lộ trình mở cửa hội nhập trên mọi mặt của nền kinh tế.
Điều này làm cho hoạt động ngoại thương phát triển sôi động, nhu cầu xuất
nhập khẩu tăng cao kéo theo đó nhu cầu sử dụng các dịch vụ giao nhận, vận tải
cũng tăng theo, và loại hình này đã tạo ra một nguồn thu tương đối lớn cho nền
kinh tế đất nước. Trong những năm qua, Vinatrans luôn là đơn vị dẫn đầu của
ngành giao nhận Việt Nam về tất cả các mặt của hoạt động kinh doanh như: thị
trường, uy tín, lợi nhuận, bề dày hoạt động, và các về các sản phẩm dịch vụ phong
phong phú đa dạng. Hơn thế, công ty còn được nhà nước trao tặng huy chương
đơn vị anh hùng lao động thời kì đổi mới, đây cũng là lý do em chọn công ty
Vinatrans HàNội để thực tập. Em hy vọng có thế gắn kết các kiến thức em học
được ở nhà trường với thực tiễn và tăng cường hiểu biết của em về ngành giao
nhận Việt Nam.
Mặc dù thời gian thực tập có hạn nhưng nhờ sự giúp đỡ tận tình của anh,
chị cán bộ công nhân viên Công ty, đặc biệt là Phòng Tài chính kế toán đã giúp
em hiểu được công tác kế toán trong thực tế, vận dụng lý thuyết vào thực tế
doanh nghiệp. Tuy nhiên với kinh nghiệm thực tế hầu như chưa có nên bài viết
của em không thể tránh khỏi sai sót. Vì vậy, em rất mong được sự chỉ bảo và
góp ý của các thầy, cô giáo để bài báo cáo của em được hoàn thiện hơn, và có
kinh nghiệm để hoàn thành tốt bài Luận văn sau này.
Em xin chân thành cảm ơn các anh, chị cán bộ Công ty Vinatrans Hà Nội và
cô giáo Ths. Đỗ Thị Phương đã tận tình chỉ bảo và giúp đỡ em trong quá trình
thực tập.
Đào Thị Hồng Thắm Lớp Kế toán 11-23
1
Báo cáo thực tập Đại Học Kinh Doanh Và Công Nghệ Hà Nội
CHƯƠNG 1
Tại khu vực phía Bắc, Vinatrans Hà Nội là đơn vị đại lý vận tải đường không có
lượng hàng xuất hàng năm lớn nhất. Về Dịch vụ giao nhận vận tải đường biển,
trong nhiều năm liền, Vinatrans Hà Nội được đánh giá là 1 trong 5 doanh nghiệp
hàng đầu của ngành. Đặc biệt, dịch vụ thu gom hàng lẻ đóng container chung
chủ đi các cảng trên thế giới, Vinatrans Hà Nội luôn duy trì, phát triển và dẫn
đầu thị trường miền Bắc. Đối với Dịch vụ đại lý tàu, hiện tại, Công ty làm đại lý
cho hai hãng tàu lớn là Hãng tàu container RCL Singapore từ năm 1993 và Hãng
tàu Richmer của Đức. Đây là hai hãng tàu có quy mô lớn và uy tín trên thị
trường quốc tế, góp phần làm tăng uy tín của Vinatrans Hà Nội và đem lại
nguồn cầu dịch vụ ổn định và tiềm năng cho Công ty.
Cùng với các đơn vị liên doanh liên kết là Vinafreight, Vinalink,
Vinatrans Đà Nẵng, Vinatrans Hà Nội đã tạo nên tập đoàn Vinatrans Group lớn
mạnh nhất hiện nay về giao nhận với mạng lưới phủ khắp cả nước
Đào Thị Hồng Thắm Lớp Kế toán 11-23
2
Báo cáo thực tập Đại Học Kinh Doanh Và Công Nghệ Hà Nội
1.2 . Chức năng, lĩnh vực kinh doanh và nhiệm vụ chính của công ty
* Chức năng:
Là một trong những đơn vị dẫn đầu trong lĩnh vực giao nhận vận tải ngoại
thương, Công ty đang ngày một khẳng định uy tín và đáp ứng được nhu cầu của
khách hàng trong nước và quốc tế với các chức năng vận chuyển giao nhận vận
tải, kinh doanh,tư vấn, môi giới cho các doanh nghiệp trong và ngoài nước hoạt
động trên lĩnh vực xuất nhập khẩu, vận chuyển và giao nhận hàng hóa.
* Lĩnh vực kinh doanh chủ yếu:
- Kinh doanh các dịch vụ giao nhận vận tải hàng xuất nhập khẩu, bốc xếp,
giao nhận, vận chuyển hàng siêu trường, hàng quá khổ, quá tải theo đa phương thức;
- Đại lý giao nhận cho các hãng giao nhận và vận tải nước ngoài;
- Môi giới thuê và cho thuê tàu cho các chủ hàng và chủ tàu trong và
ngoài nước thuê;
- Kinh doanh vận tải hàng hoá nội địa và quá cảnh;
tăng lên qua các năm, cụ thể: Tổng tài sản của doanh nghiệp năm 2008
Đào Thị Hồng Thắm Lớp Kế toán 11-23
3
Báo cáo thực tập Đại Học Kinh Doanh Và Công Nghệ Hà Nội
tăng lên so với năm 2007 là 14.893 tỷ đồng tương ứng tăng 10.59%,
năm 2009 tăng lên 21.766 tỷ đồng tương ứng với 14% so với năm 2007.
- Do Công ty hoạt động trong lĩnh vực giao nhận vận tải hàng hoá nên
khoản mục tài sản ngắn hạn của Công ty luôn chiếm tỷ trọng lớn trong
tổng tài sản, cụ thể: năm 2007 là 79%, năm 2008 là 81%, năm 2009 là
79%.
- Với đặc thù hoạt động kinh doanh là chịu nhiều ảnh hưởng của những
biến động về giá cả dịch vụ đầu vào và từ các nhà cung cấp dịch vụ vận
tải trong và ngoài nước. Mặt khác, sự khủng hoảng kinh tế toàn cầu
trong năm 2008, 2009 đã gây ra ảnh hưởng không nhỏ đến sự phát triển
của công ty. Tuy nhiên, với sự nỗ lực của mình hoạt động kinh doanh
công ty vẫn có hiệu quả mặc dù doanh thu năm 2009 của công ty đã
giảm 30.404 tỷ đồng tương ứng giảm 9.37% so với năm 2008, nhưng lợi
nhuận sau thuế năm 2009 của công ty vẫn đạt tới 20.624 tỷ đồng.
- Công ty hoạt động trong một ngành nghề rất có triển vọng, đặc biệt tại
Việt Nam. Với đường bờ biển dài gần 2000 km cùng với thị trường xuất
khẩu cho các doanh nghiệp trong nước ngày càng mở rộng khiến cho
các dịch vụ hàng hải, kho bãi ngày càng tiềm năng. Việc công ty tập
trung làm đối tác với các hãng hàng không và các hảng tàu biển lớn trên
thế giới mang tầm nhìn chiến lược cho sự phát triển của mình. Theo đó,
công ty tiếp tục đẩy mạnh các mảng hoạt động truyền thống và thế mạnh
của mình như giao nhận hàng hoá, xuất nhập khẩu qua đường biển và
hàng không.
1.4. Quy trình kinh doanh, quy trình cung cấp dịch vụ
Là một đơn vị chủ yếu chỉ kinh doanh chứ không sản xuất, Công ty
Vinatrans Hà Nội cung cấp các sản phẩm dịch vụ như:
- Xử lý, cập nhật, chỉnh sửa các chứng từ này theo yêu cầu của khách hang.
- Cung cấp cho khách hàng các loại hình sản phẩm, dịch vụ giao nhận nội
địa khác nhau.
- Thực hiện các dịch vụ hỗ trợ cho việc khai thuế xuất nhập khẩu hàng
hoá do khách hàng yêu cầu.
- Khai thuế xuất nhập khẩu uỷ thác.
- Kiểm kiện lại hangh hoá khi đến nơi/cập cảng.
1.5. Đặc điểm tổ chức hoạt động kinh doanh và tổ chức bộ máy quản lý
kinh doanh
1.5.1 Cơ cấu tổ chức hoạt động kinh doanh của công ty (Phụ lục A- 02)
Tại Miền bắc, Vinatrans Hà Nội cơ cấu được chia thành các bộ phận sau:
- Ban Giám Đốc: Gồm Tổng Giám Đốc và hai Phó Giám Đốc, Kế Toán
Trưởng. Đứng đầu là Tổng Giám đốc, là người điều hành công việc kinh doanh hàng
ngày của công ty. Mỗi Phó Giám Đốc được phân công phụ trách một hoặc một số
lĩnh vực công tác được giao. Khi Tổng Giám Đốc vắng mặt thì Phó Giám Đốc thứ
nhất là người thay mặt Tổng Giám Đốc điều hành mọi hoạt động của công ty.
- Phòng Tài chính kế toán: Quản lý các vấn đề tài chính, kế toán trong
công ty; Tổ chức, thực hiện và tính toán hiệu quả kinh tế cho các phương án
kinh doanh của công ty; Tham mưu cho Ban Giám Đốc trong công tác quản lý
hành chính công ty; Quản lý con dấu, giấy tờ, công văn, sổ sách hành chính.
- Phòng hành chính nhân sự: Tuyển dụng nhân viên và kí hợp đồng tuyển
dụng; Hoạch định nguồn nhân lực, thực hiện các chế độ liên quan tới người lao
động; Quản lý các tài sản của công ty và phục vụ một số mặt hậu cần cho sản
xuất kinh doanh.
- Phòng quản trị thông tin: Quản trị cơ sở vật chất, thiết bị công nghệ
thông tin; Đảm bảo và chịu trách nhiệm về cơ sở hạ tầng, hệ thống thông tin cho
toàn bộ công ty.
- Phòng quản trị chất lượng: Xây dựng hệ thống thực hiện, kiểm tra quy
trình cho mỗi sản phẩm dịch vụ; Kiểm tra, giám sát việc thực hiện đơn hàng.
- Phòng giao nhận đường biển: Gửi hàng lẻ từ Việt Nam đi mọi nơi trên
Báo cáo thực tập Đại Học Kinh Doanh Và Công Nghệ Hà Nội
CHƯƠNG 2
TÌNH HÌNH THỰC TẾ TỔ CHỨC CÔNG TÁC KẾ TOÁN TẠI CÔNG
TY VINATRANS HÀ NỘI
2.1Hình thức tổ chức công tác kế toán và tổ chức bộ máy kế toán tại công ty
2.1.1 Hình thức tổ chức công tác kế toán
Bộ máy kế toán của công ty Vinatrans Hà Nội là một công ty cổ phần
hoạt động có quy mô, có tổ chức địa bàn hoạt động theo hình thức tập trung tại
một địa điểm. Xuất phát từ đặc điểm đó, nên công ty tổ chức bộ máy kế toán
theo hình thức kế toán tập trung. Theo hình thức này, toàn bộ công việc hạch
toán kế toán được thực hiện tập trung tại phòng Kế toán của công ty. Phòng này
có nhiệm vụ theo dõi, tổng hợp toàn bộ kết quả hoạt động sản xuất kinh doanh,
quản lý vốn, lập báo cáo kế toán….
2.1.2 Tổ chức bộ máy kế toán của công ty
Hiện tại, phòng Tài chính kế toán của công ty có 20 nhân viên, trình độ
chuyên môn cử nhân kinh tế trở lên.
Trong số các phòng, ban chức năng thuộc bộ máy quản lý công ty, phòng
Tài chính kế toán có một vị trí trung tâm quan trọng nhất, nó đảm bảo về mặt tài
chính, giám sát toàn bộ quá trình kinh doanh và tính toán xác định kết quả kinh
doanh, tham mưu cho Chủ tịch HĐQT và Giám đốc về mọi mặt của quá trình
kinh doanh.
- Trưởng phòng Tài chính kế toán: Là người trực tiếp chỉ đạo mọi vấn
đề công tác chính của công ty, kí các văn bản có liên quan đến hoạt
động kinh doanh của công ty và các chi nhánh. Chịu trách nhiệm trước
Ban lãnh đạo và công ty về toàn bộ hoạt động tài chính.
- Kế toán tổng hợp: Tham mưu cho Kế toán trưởng về hoạt động của
phòng cũng như phụ trách chuyên môn, kiểm tra số liệu các, tập hợp
các nhật kí, bảng kê của kế toán viên để lập báo cáo quyết toán toàn
công ty.
- Kế toán hàng hoá: Có nhiệm vụ tổng hợp các số liệu, tình hình giao
- Phương pháp khấu hao TSCĐ được tính theo phương pháp đường
thẳng.
- Thuế GTGT được tính theo phương pháp khấu trừ.
- Hình thức sổ kế toán: Nhật kí chung. Được ứng dụng trên phần mềm
kế toán Fast Accouting 2008.
Hình thức kế toán nhật kí chung (Phụ lục A- 04)
2.3 Phương pháp kế toán một số phần hành kế toán chủ yếu tại Công ty
2.3.1 Kế toán TSCĐ
2.3.1.1 Phân loại TSCĐ
TSCĐ tại công ty gồm TSCĐ hữu hình và TSCĐ vô hình.
TSCĐ hữu hình tại công ty được chia thành một số loại như sau:
- Nhà cửa, vật kiến trúc
- Máy móc thiết bị
- Thiết bị dụng cụ quản lý
- Phương tiện vận tải, phương tiện truyền dẫn
TSCĐ vô hình bao gồm:
- Quyền sử dụng đất
- Phần mềm máy tính
2.3.1.2 Đánh giá TSCĐ
a. Phương pháp xác định nguyên giá:
Nguyên giá TSCĐ = Giá mua + Chi phí vận chuyển, lắp đặt, chạy thử -
các khoản giảm trừ
b. Xác định giá trị còn lại của TSCĐ:
Giá trị còn lại = Nguyên giá TSCĐ – Giá trị hao mòn luỹ kế
Ví dụ:
- Ngày 2/6/2008, công ty đi mua một máy kéo phục vụ cho việc giao nhận vận
tải với giá ghi trên hóa đơn chưa có thuế: 700.000.000VNĐ. Thuế GTGT 10%,
chi phí lắp đặt chạy thử là: 5.000.000VNĐ, phế liệu thu hồi do chạy thử đã
nhập về kho: 1.000.000VNĐ. Kế toán xác định NG TSCĐ ( theo phương pháp
gián tiếp) như sau:
Ngày 25/7/2008, công ty thanh lý một ô tô NG: 900.000.000VNĐ, giá trị hao
mòn lũy kế là 800.000.000VNĐ, chi phí vận chuyển đã trả bằng tiền mặt (cả
thuế VAT 10%) là: 2.200.000VNĐ. Người mua đã chấp nhận với giá chưa thuế
là: 89.000.000VNĐ. Kế toán hạch toán như sau:
BT 1: Xóa sổ TS khi thanh lý
Nợ TK 214 : 800.000.000
Nợ TK 811 : 100.000.000
Có TK 211 : 900.000.000
BT 2: Phản ánh chi phí thanh lý
Nợ TK 811: 2.000.000
Nợ TK 133: 200.000
Có TK 111: 2.200.000
BT 3: Phản ánh số thu về khi thanh lý
Nợ TK 111 : 97.900.000
Có TK 711 : 89.000.000
Có TK 333(1) : 8.900.000
2.3.2 Kế toán tiền lương và các khoản trích theo lương
2.3.2.1 Các hình thức trả lương và phương pháp tính lương:
Hiện nay công ty áp dụng hình thức trả lương theo thời gian, lương
khoán. Hàng tháng kế toán tiến hành tổng hợp tiền lương phải trả trong kì theo
Đào Thị Hồng Thắm Lớp Kế toán 11-23
9