Luận Văn
“Thực trạng và những giải pháp nhằm nâng cao tính bắt buộc
trong nghiệp vụ BHTNDS của chủ xe cơ giới đối với người thứ ba
tại Công ty Cổ phần Bảo hiểm PJICO”
MỤC LỤCLỜI MỞ ĐẦU
CHƯƠNG I
NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG VỀ BHTNDS CỦA CHỦ XE CƠ GIỚI
ĐỐI VỚI NGƯỜI THỨ BA
I. Sự cần thiết phải triển khai BHTNDS của chủ xe cơ giới đối với người thứ ba
1. Đặc điểm hoạt động của xe cơ giới trong giao thông đường bộ
1.1. Tình hình phát triển phương tiện cơ giới
1.2. Tình hình tai nạn giao thông và nguyên nhân
2. Sự cần thiết khách quan phải triển khai BHTNDS của chủ xe cơ giới đối với người thứ
ba
3. Tác dụng của BHTNDS của chủ xe cơ giới đối với người thứ ba
3.1. Đối với chủ xe
3.2. Đối với người thứ ba
3.3. Đối với xã hội
II. Nội dung cơ bản của BHTNDS chủ xe cơ giới đối với người thứ ba
1. Đối tượng bảo hiểm
1.1. Đối tượng được bảo hiểm
1.2. Điều kiện để phát sinh bảo hiểm trách nhiệm dân sự
2. Phạm vi bảo hiểm
2.1. Các rủi ro được bảo hiểm
2.2. Các rủi ro loại trừ: theo điều 13 chương II QĐ 299/1998/QĐ - BTC
3. Phí bảo hiểm
NHIỆM DÂN SỰ CHỦ XE CƠ GIỚI ĐỐI VỚI NGƯỜI THỨ BA TẠI CÔNG TY CỔ
PHẦN
BẢO HIỂM PETROLIMEXX (PJICO)
I. Những khó khăn, thuận lợi và tồn tại của Công ty PJICO
1. Những thuận lợi
2. Khó khăn cơ bản
3. Những tồn tại
II. Những giải pháp thực hiện bắt buộc BHTNDS của chủ xe cơ giới đối với người thứ ba
của một số Công ty tại Hội thảo lần 2 (20/10/2000)
1. Công ty Cổ phần Bảo hiểm Bưu điện (PTI)
2. Giải pháp của Công ty Bảo hiểm thành phố Hồ Chí Minh
3. Giải pháp của The Tokyo Marine and fire insurace Co, Ltd. nhằm bắt buộc các chủ
phương tiện xe máy
4. Giải pháp của PJICO trong việc thực hiện nghiệp vụ bảo hiểm bắt buộc trách nhiệm dân
sự chủ xe cơ giới
5. Đánh giá lại toàn bộ giải pháp của công ty
6. Một số kiến nghị
6.1. Công tác khai thác
6.2. Công tác đề phòng và hạn chế tổn thất
6.3. Công tác giám định bồi thường
6.4. Công tác khác
KẾT LUẬN
TÀI LIỆU THAM KHẢO
LỜI MỞ ĐẦU
Cùng với sự phát triển ngày càng cao của khoa học kỹ thuật, phương tiện sử dụng trong ngành
giao thông vận tải cũng được cải tiến đến chóng mặt cả về số lượng lẫn chất lượng. Hàng năm có hàng
nghìn phương tiện hoạt động được điều khiển từ con người thu: xe đạp, xe máy, ôtô
Song song với sự tiến bộ này là tình hình giao thông đường bộ ngày càng phức tạp, tai nạn giao
thông ngày càng nhiều gây thiệt hại lớn về tài sản tính mạng cho con người cũng như cho toàn xã hội.
Để giảm bớt những thiệt hại đó nhằm đảm bảo an toàn cho xã hội đồng thời bảo vệ lợi ích hoạt
I. Sự cần thiết phải triển khai BHTNDS của chủ xe cơ giới đối với người thứ ba
1. Đặc điểm hoạt động của xe cơ giới trong giao thông đường bộ
Trong nhịp độ phát triển không ngừng về kinh tế thì giao thông đóng vai trò quan trọng trong mọi
sự phát triển, là huyết mạch, là một ngành kinh tế kỹ thuật có vị then chốt. Giao thông ảnh hưởng trực
tiếp hoặc gián tiếp đến các ngành kinh tế, kỹ thuật, an ninh, quốc phòng
1.1. Tình hình phát triển phương tiện cơ giới
Trong những năm gần đây, giao thông nước ta có sự phát triển vượt bậc với các hình thức vận
chuyển ngày càng phong phú, từ vận chuyển bằng phương tiện thô sơ đến vận chuyển bằng phương tiện
vận tải cơ giới. Do sự phát triển của cơ chế thị trường, hàng loạt xe cơ giới các loại được tham gia lưu
hành trong giao thông. Có thể nhận xét sự gia tăng phương tiện cơ giới đường bộ của Việt Nam trong 10
năm qua ở những nét cơ bản sau:
- Số lượng phương tiện tăng tương đối nhanh đặc biệt là ô tô. Từ năm 1990 đến năm 2000 bình
quân hàng năm phương tiện cơ giới đường bộ tăng 17,8% trong đó ô tô tăng 7,6%, xe máy là xấp xỉ 19,5.
Năm 2000 so với 1990 phương tiện cơ giới đường bộ tăng 4,5 lần; ôtô tăng 2,14 lần; xe máy tăng 4,63 lần
trong đó năm 1993 phương tiện tăng cao nhất. Từ năm 1998 đến nay tỷ lệ này giảm khoảng 7%.
- Vài năm gần đây mức độ tăng của các phương tiện cơ giới đường bộ của Việt Nam khá
cao song mức cơ giới hoá vẫn còn thấp so với các nước trong khu vực.
Việt Nam có 75 xe/1.000 dân trong khi Thái Lan 190 xe/1.000 dân, Malasia 340 xe/1.000 dân.
- Tỷ lệ xe cũ nát cao, điều kiện an toàn thấp, tổng số phương tiện ô tô vào kiểm định so với thực
tế lưu hành còn qúa thấp (số phương tiện chạy bằng xăng là 45%,dicsel là 55%).
Số lượng xe theo đăng ký chênh lệch với số xe thực tế hoạt động. Theo số liệu đăng ký thì tổng số
ôtô năm 2000 là 750.000 xe nhưng số xe vào kiểm định (lưu hành trên đường) là chưa đến 500.000 xe.
Theo dự đoán của các chuyên gia thì trong thập kỷ tới phương tiện cơ giới của nước ta vẫn tăng cao, mức
tăng trưởng chỉ căn cứ dự báo theo GDP thì cứ mỗi năm khi GDP tăntg 1% thì tổng lượng vận tải đường
bộ tăng từ 1.2% đến 1.5%, đặc biệt trong giai đoạn tới (2.006) nước ta thực hiện các cam kết cắt giảm
thuế thì lượng xe tung ra càng nhiều.
Bảng 1: Viện chiến lược bộ GTVT dự báo phương tiện cơ giới đường bộ
Năm 2000 2010 2020
Như vậy tai nạn giao thông là mối đe dọa từng ngày từng giờ đối với các chủ phương tiện, mặc
dù nhà nước ta đã có nhiều biện pháp ngăn ngừa, hạn chế tai nạn một cách tích cực song vẫn không thể
tránh khỏi. Khi tai nạn xảy ra thì việc giải quyết hậu quả thường phức tạp, kéo dài, cho dù nhà nước có
quy định rõ chủ phương tiện phải có trách nhiệm bồi thường thiệt hại về sức khoẻ, tính mạng và tài sản do
việc lưu hành xe của mình gây ra theo nguyên tắc “gây thiệt hại bao nhiêu thì phải bồi thường bấy nhiêu”.
Phần lớn các vụ tai nạn xảy ra đều được bồi thường theo thoả thuận giữa chủ phương tiện và
người bị hại nên dẫn đến nhiều khúc mắc trong việc bồi thường (hoặc bồi thường không xứng đáng hoặc
bồi thường không đúng thiệt hại thực tế), có những vụ tai nạn chủ xe không có điều kiện để giải quyết bồi
thường, nhiều trường hợp lái xe bị chết trong vụ tai nạn đó cho nên việc giải quyết tai nạn trở nên khó
khăn hơn.
Nhằm đảm bảo lợi ích cho người bị hại và giảm bớt gánh nặng cho chủ xe BHTNDS của chủ xe
cơ giới đối với người thứ ba ra đời và đáp ứng kịp thời nhu cầu của xã hội. Chính phủ đã ban hành
NĐ30/HĐBT và hiện nay được thay bằng NĐ 115/CP/1997 “về chế độ thực hiện bảo hiểm bắt buộc
TNDS của chủ xe cơ giới”. Như vậy càng khẳng định quyết tâm của Chính phủ thực hiện triệt để loại
hình bảo hiểm này. Đây là cơ sở pháp lý cao nhất để các công ty bảo hiểm đẩy mạnh công tác bảo hiểm
cho chủ xe cơ giới tại Việt Nam.
3. Tác dụng của BHTNDS của chủ xe cơ giới đối với người thứ ba
3.1. Đối với chủ xe
BHTNDS của chủ xe cơ giới không chỉ đóng vai trò to lớn đối với người bị thiệt hại mà còn đối
với cả xã hội, nó là tấm lá chắn vững chắc cho các chủ xe khi tham gia giao thông.
- Tạo tâm lý yên tâm, thoải mái, tự tin, khi điểu khiển các phương tiện tham gia giao thông.
- Bồi thường chủ động, kịp thời cho chủ xe khi phát sinh TNDS, trong đó có lỗi của chủ xe thì
công ty bảo hiểm nơi mả chủ xe tham gia ký kết bảo hiểm tiến hành bồi thường nhanh chóng để các chủ
xe phục hồi lại tinh thần, ổn định sản xuất., phát huy quyền tự chủ về tài chính, tránh thiệt hại về kinh tế
cho chủ xe.
- Có tác dụng giúp cho chủ xe có ý thức hơn trong việc đề ra các biện pháp hạn chế, ngăn ngừa tai
nạn bằng cách thông qua bảo hiểm TNDS của chủ xe.
- Góp phần xoa dịu, làm giảm bớt căng thẳng giữa chủ xe và người bị nạn. Đây là mục đích cao
cả trong nghiệp vụ bảo hiểm TNDS của chủ xe đối với người thứ ba.
3.2. Đối với người thứ ba
Đối tượng bảo hiểm không được xác định trước, chỉ khi nào việc lưu hành xe gây tai nạn có phát
sinh trách nhiệm dân sự của chủ xe cơ giới đối với người thứ ba thì đối tượng này mới được xác định cụ
thể.
1.2. Điều kiện để phát sinh bảo hiểm trách nhiệm dân sự
Thông thường phải có đủ bốn điều kiện sau:
- Điều kiện thứ nhất: Phải có thiệt hại về tài sản, tính mạng hay sức khoẻ của bên thứ ba.
- Điều kiện thứ hai: Chủ xe (lái xe) phải có hành vi trái pháp luật. Có thể do vô tình hay cố ý mà
lái xe vi phạm luật giao thông đường bộ, hoặc vi phạm quy định khác của Nhà nước.
- Điều kiện thứ ba: Phải có mối quan hệ nhân quả của hành vi trái pháp luật của chủ xe (lái xe)
với những thiệt hại của người thứ ba.
- Điều kiện thứ tư: Chủ xe (lái xe) phải có lỗi.
Thực tế chỉ cần thực hiện ba điều kiện thứ 1,2,3 là phát sinh trách nhiệm dân sự đối với người thứ
ba của chủ xe (lái xe). Nếu thiếu một trong ba điều kiện trên trách nhiệm dân sự của chủ xe sẽ không phát
sinh, và do đó sẽ không phát sinh trách nhiệm của bảo hiểm. Điều kiện thứ tư có thể có hoặc có thể không
vì nhiều khi tai nạn xảy ra là do tính nguy hiểm cao độ của xe cơ giới mà không hoàn toàn do lỗi của chủ
xe. Ví dụ ôtô đang chạy với tốc độ lớn trên đường thì bị làm văng lốp xe ra ngoài làm bắn vào người đi
đường gây tai nạn chết người. Trong trường hợp này trách nhiệm dân sự có thể phát sinh nếu có đủ 3
điều kiện đầu tiên.
Trong BHTNDS chủ xe cơ giới đối với người thứ ba, khi xảy ra tai nạn thiệt hại cho người thứ ba
thì người được bảo hiểm bồi thường là chủ xe hoặc người đi diện chi chủ xe được pháp luật công nhận.
Người thứ ba của BHTNDS chủ xe cơ giới có thể là người đi bộ hay đi xe đạp hoặc các phương
tiện cơ giới khác nhưng không bao gồm những trường hợp sau đây:
- Thiệt hại xảy ra do bản thân phương tiện được bảo hiểm.
- Thiệt hại về tính mạng sức khoẻ xảy ra do bản thân người được bảo hiểm, người điều khiển xe
hay bất kỳ người nào khác đi trên đường.
- Thiệt hại mà phương tiện gây ra cho những người mà chủ xe có nghĩa vụ nuôi dưỡng.
- Thiệt hại do hai xe cùng chủ đâm vào nhau.
- Trách nhiệm hành chính, trách nhiệm hình sự của lái xe.
- Các khoản phạt mà lái xe hoặc chủ xe phải chịu.
2. Phạm vi bảo hiểm
- Lái xe sử dụng không được sự đồng ý của chủ xe.
- Xe được sử dụng để chuyên chở chất cháy, chất nổ trái phép.
- Xe trở quá trọng tải hoặc quá số khách quy định.
- Xe có hệ thống lái ben phải.
- Xe sử dụng để tập lái hoặc đua thể thao.
- Xe đang sửa chữa hay đang trong thời gian chạy thử sau khi sửa chữa.
- Xe không đủ điều kiện kỹ thuật và thiết bị an toàn để lưu hành.
- Đồ vật trở trên xe rơi xuống đường gây thiệt hại cho người thứ ba.
- Thiệt hại đối với tài sản bị mất cắp, bị cướp trong tai nạn.
- Thiệt hại đối với người không phải là người thứ ba như đã nêu ở phần đối tượng bảo hiểm.
- Thiệt hại gián tiếp do xe bị tai nạn làm ngưng trệ hoạt động sản xuất kinh doanh, giảm giá
thương mại.
- Chiến tranh và các nguyên nhân tương tự khác chiến tranh.
- Tai nạn xảy ra ngoài phạm vi lãnh thổ nước sở tại tham gia bảo hiểm (trừ một số trường hợp có
thoả thuận từ trước)
- Lái xe gây tai nạn bỏ trốn.
Ngoài ra người bảo hiểm không chịu trách nhiệm đối với tài sản đặc biệt như: vàng, bạc, đá, quý,
tiền đồ cổ, tranh ảnh quý, thi hài, hài cốt
Sở dĩ các công ty bảo hiểm phải đưa ra các điều khoản loại trừ như vậy là để tránh tình trạng
những lái xe ẩu, vô trách nhiệm coi thường pháp luật đặc biệt là coi thường luật lệ giao thông của các chủ
xe và lái xe. Hơn nữa các công ty bảo hiểm còn tránh tình trạng trục lợi bảo hiểm, làm như vậy thì bảo
hiểm mới có tác dụng theo đúng nguyên tắc “chỉ bảo hiểm cho những rủi ro ngẫu nhiên”.
3. Phí bảo hiểm
3.1. Phí bảo hiểm
Phí bảo hiểm là một khoản tiền mà chủ xe phải nộp cho nhà bảo hiểm để thành lập nên một quỹ
tiền tệ tập trung đủ lớn để bồi thường thiệt hại xảy ra trong năm nghiệp vụ theo pham vi bảo hiểm. Có thể
coi phí bảo hiểm là giá cả của sản phẩm bảo hiểm nên nó có thể tăng giảm phụ thuộc vào tình hình cung,
cầu trên thị trường.
Biểu phí nghiệp vụ BHTNDS do Bộ Tài Chính quy định ngoài ra doanh nghiệp bảo hiểm có thể
thoả thuận với chủ xe cơ giới để đảm bảo theo biểu phí cao hơn hoặc phạm vi rủi ro bảo hiểm rộng theo
nặng thì tính thêm tỷ lệ phụ phí so với mức phí cơ bản.
Đối với các phương tiện hoạt động ngắn (dưới 1 năm) thời gian tham gia bảo hiểm được tính tròn
tháng và phí bảo hiểm được xác định như sau:
Pngắn hạn = {eq f (Pnăm * số tháng xe không hoạt động; 12 tháng }
Trường hợp đã tham gia đóng phí cả năm nhưng vào một thời điểm nào đó xe không hoạt động
nữa hoặc chuyển quyền sở hữu cho người khác mà không chuyển bảo hiểm thì chủ phương tiện sẽ được
hoàn trả lại phí bảo hiểm tương ứng với số thời gian còn lại của năm (làm trong tháng) với điều kiện như
sau:
Phí hoàn lại = { eq f ( Phí năm * số tháng xe hoạt động; 12 tháng) }
Nộp phí bảo hiểm là trách nhiệm của chủ phương tiện, tuỳ theo số lượng phương tiện, người bảo
hiểm sẽ quy định thời gian, số lần nộp mức phí tương ứng có xét giảm phí theo tỷ lệ tổn thất và giảm phí
theo số lượng phương tiện tham gia bảo hiểm (tối đa thường giảm 20%). Nếu không thực hiện đúng quy
định sẽ bị phạt ví dụ như:
- Chậm từ 1 ngày đến 2 tháng phải nộp thêm 100% mức phí cơ bản.
- Chậm từ 2 tháng 4 tháng phải nộp thêm 200% mức phí cơ bản.
- Chậm từ 4 tháng trở lên nộp thêm 300% phí cơ bản.
- Hoặc huỷ hợp đồng bảo hiểm.
3.3. Các yếu tố làm tăng phí
Phí bảo hiểm là một khoản tiền mà chủ xe cơ giới phải đóng cho nhà bảo hiểm khi tham gia bảo
hiểm và phí bảo hiểm được tính theo đầu phương tiện.
- Phí thuần tăng:
+ Do số đầu phương tiện tham gia bảo hiểm tròn năm thấp.
+ Do số vụ tai nạn xảy ra có phát sinh trách nhiệm dân sự của chủ xe được bảo hiểm bồi thường
trong năm là nhiều.
+ Số tiền bồi thường bình quân một vụ tai nạn lớn.
- Phu phí tăng:
+ Do các chi phí trong quản lý nghiệp vụ tăng.
+ Chi phí khai thác, giám định bồi thường tăng.
- Do chủ xe tham gia bảo hiểm nhưng quá thời hạn đóng phí.
- Ngoài ra: Những lái xe không có kinh nghiệm, không thuộc đường, không thuộc các biển báo xe
- Có quyền yêu cầu công ty bảo hiểm bổ sung hay sửa đổi hợp đồng, đề xuất công ty mở rộng
phạm vi trách nhiệm bảo hiểm.
- Khi tai nạn xảy ra thuộc phạm vi bảo hiểm, chủ xe được công ty bảo hiểm bồi thường tuỳ thuộc
vào mức độ thiệt hại thực tế và mức độ lỗi của chủ xe.
- Chủ xe có quyền yêu cầu đòi bồi thường trong vòng 6 tháng kể từ ngày xảy ra tai nạn trừ trường
họp do nguyên nhân khách quan hay bất khả kháng theo quy định của pháp luật.
- Chủ xe có quyền khiếu nại nhà bảo hiểm trong trường hợp bồi thường không thoả đáng hay
không bồi thường mà không rõ lý do.
Thời hạn thanh toán của công ty bảo hiểm là 15 ngày kể từ khi nhận hồ sơ bồi thường đầy đủ, hợp
lệ và không kéo dài quá 30 ngày. Thời hạn khiếu nại đòi bồi thường của chủ xe là 3 tháng kể từ ngày công
ty bảo hiểm thanh toán hay từ chối bồi thường.
4.2. Trách nhiệm và quyền lợi của công ty bảo hiểm
* Công ty bảo hiểm có trách nhiệm.
- Cung cấp đủ cho chủ xe cơ giới những quy tắc, biểu phí và mức trách nhiệm có liên quan tới
BHTNDS của chủ xe cơ giới đối với người thứ ba.
- Hướng dẫn tạo điều kiện thuận lợi cho chủ xe cơ giới tham gia bảo hiểm.
- Công ty bảo hiểm có trách nhiệm giám định tai nạn và hậu quả tai nạn khi nhận được giấy yêu
cầu bảo hiểm. Nếu qua xác minh thấy vụ tai nạn thuộc phạm vi trách nhiệm của công ty thì công ty xúc
tiến các công việc như sau:
+ Phối hợp với công an, cảnh sát giao thông tiến hành giám định hiện trường, xác định mức lỗi
của mỗi bên.
+ Tranh thủ ý kiến của chủ xe và lời khai báo của nhân chứng qua tờ khai tai nạn kết hợp với hiện
trường nghiên cứu các tài liệu cần thiết và xem xét lại một lần nữa nguyên nhân tai nạn.
+ Tiến hành xác định minh thiệt hại đối với người thứ ba.
- Sau khi giám định xong công ty bảo hiểm phải có trách nhiệm bồi thường cho người bị hại khi
rủi ro thuộc phạm vi bảo hiểm theo phần lỗi của chủ xe (bồi thường thiệt hại về người, về tài sản).
- Các công ty bảo hiểm phải có các biện pháp đề phòng hạn chế tổn thất, xây dựng cải tạo đường
xá cầu cống, hoàn chỉnh hệ thống đèn báo, biển báo giao thông. Ngoài ra còn giáo dục ý thức cho chủ xe
(lái xe) thực hiện tốt an toàn giao thông.
* Quyền lợi của công ty bảo hiểm.
trường hợp bệnh nhân điều trị nội trú do hậu quả của tai nạn. Nếu không xác định được mức thu nhập
này, sẽ căn cứ vào mức lương tối thiểu hiện hành. Khoản thiệt hại về thu nhập này không bao gồm những
thu nhập do làm ăn phi pháp mà có.
+ Khoản tiền bù đắp tổn thất về tinh thần.
- Trong trường hợp nạn nhân bị chết.
+ Chi phí hợp lý cho việc chăm sóc, cứu chữa cho người thứ ba trước khi chết (xác định tương tự
như ở phần thiệt hại về sức khoẻ).
+ Chi phí hợp lý cho việc mai táng người thứ ba (những chi phí do thủ tục sẽ không được thanh
toán).
+ Tiền trợ cấp cho những người mà người thứ ba phải cung cấp nuôi dưỡng (vợ, chồng, con cái
đặc biệt trong trường hợp người thứ ba là lao động chính trong gia đình). Khoản tiền trợ cấp này được xác
định tuỳ theo quy định của mỗi quốc gia, tuy nhiên sẽ được tăng thêm nếu hoàn cảnh gia đình thực sự khó
khăn.
5.2. Tính toán mức bồi thường của người gây thiệt hại
+ Mức độ lỗi của người gây thiệt hại.
+ Thiệt hại thực tế của bên thứ ba.
Công thức xác định mức bồi thường.
Trách nhiệm bồi thường = lỗi của người gây thiệt hại x thiệt hại của bên thứ ba.
Trường hợp cả hai bên đều gây thiệt hại và bên thiệt hại cùng có lỗi thì bên gây thiệt hại vẫn phải
bồi thường phù hợp với mức lỗi của họ. Nếu hai xe đâm nhau với mức lỗi ngang nhau thì bảo hiểm có
trách nhiệm bồi thường cho mỗi bên với mức bằng 50% thiệt hại của bên kia.
Trong trường hợp chủ xe còn có một bên thứ khác cùng có lỗi gây ra tai nạn đó:
Số tiền bồi thường = (lỗi của chủ xe + lỗi của chủ xe khác) x thiệt hại của bên thứ ba.
Việc bồi thường được tính theo thực tế thiệt hại bao nhiêu thì bồi thường bấy nhiêu, nhưng số tiền
bồi thường tối đa không vượt quá số tiền bảo hiểm đã ghi trên giấy chứng nhận bảo hiểm.
- Nếu hai xe cùng một chủ đâm và nhau và hai xe đều bị thiệt hại đồng thời gây thiệt hại cho
người đi đường thì phần thiệt hại của hai xe không phát sinh trách nhiệm bồi thường của bảo hiểm.
Nhưng phần thiệt hại của người đi đường lại phát sinh trách nhiệm dân sự do đó bảo hiểm sẽ bồi thường
theo thiệt hại thực tế.
- Nếu hai hay nhiều xe cùng gây thiệt hại cho một hoặc một số người thì các công ty bảo hiểm
tiền bồi thường. Sau khi đã hoàn chỉnh hồ sơ, tính toán số tiền bồi thường cụ thể, nhà bảo hiểm sẽ trừ đi
số tiền mà chủ xe đã ứng trước đây.
Trường hợp bảo hiểm trùng, người được bảo hiểm có thể được quyền lợi từ các hợp đồng đã ký,
xong số tiền bồi thường không vượt quá mức trách nhiệm bồi thường của người được bảo hiểm đối vơí
người thứ ba.
Ngoài ra nhà bảo hiểm có thể bồi thường trợ cấp tối đa không vượt quá 50% mức trách nhiệm của
chủ xe đã tham gia đối với những trường hợp xe không gây tai nạn có thể tham gia bảo hiểm nhưng
không thuộc phạm vi bảo hiểm như:
+ Lái xe không có bằng lái hợp lệ.
+ Xe chở quá trọng tải hoặc vượt quá số hành khách quy định
Nói chung, trách nhiệm của các công ty bảo hiểm là giúp đỡ các đơn vị, chủ xe có tai nạn xảy ra,
động viên thường xuyên có khen thưởng xứng đáng đối với những đơn vị thực hiện tốt công tác phòng
ngừa, hạn chế tổn thất. Đồng thời công ty bảo hiểm là người đảm bảo thanh toán, bồi thường chính xác
đầy đủ, kịp thời. Bảo hiểm luôn phối hợp cùng với các cơ quan chức năng thực hiện tuyên truyền giác
ngộ người tham gia bảo hiểm cũng như việc chấp hành nghiêm chỉnh luật lệ giao thông, thực hiện.CHƯƠNG II
TÌNH HÌNH TRIỂN KHAI NGHIỆP VỤ BHTNDS CỦA CHỦ XE CƠ GIỚI
ĐỐI VỚI NGƯỜI THỨ BA TẠI CÔNG TY CỔ PHẦN BẢO HIỂM PETROLIMEX-PJICO GIAI
ĐOẠN 1996-2000
I. Vài nét sơ lược về Công ty Cổ phần Bảo hiểm PJICO
Thực hiện Nghị định 100/CP ngày 18/12/1993 của Chính phủ về kinh doanh bảo hiểm, ngày
15/6/1995 Công ty Cổ phần Bảo hiểm PJICO, sự hội tụ của 7 thành viên sáng lập gồm:
+ Ngân hàng Ngoại thương Việt Nam
+ Tổng Công ty Xăng Dầu Việt Nam
+ Công ty Tái Bảo hiểm Quốc gia
+ Tổng Công ty Thép Việt Nam
+ Công ty Vật tư và Thiết bị toàn bộ
PJICO phá vỡ thế độc quyền của Bảo Việt, giúp cho khách hàng có sự lựa chọn để mua bảo hiểm theo
yêu cầu chính đáng của mình.
II. Thực tế công tác triển khai
Tuy mới được thành lập trên 6 năm nhưng PJICO đã vươn lên đứng thứ 4 với thị phần nghiệp vụ
bảo hiểm PJICO ngày một tăng
+ Bảo Việt chiếm khoảng 53% thị phần bảo hiểm
+ Bảo Minh chiếm khoảng 26% thị phần bảo hiểm
+ PVIC chiếm khoảng 8% thị phần bảo hiểm
+ PJICO chiếm độ khoảng 5,6% thị phần bảo hiểm.
+ Các Công ty khác 7,4% thị phần bảo hiểm.
Với sức mạnh nhỏ bé và nguồn tài chính hạn hẹp nhưng kỹ thuật đến với PJICO ngày càng nhiều
bằng sự cạnh tranh đầy thuyết phục của đội ngũ nhân viên có nhiều kinh nghiệm. Số lượng khách hàng
tăng dẫn đến tổng doanh thu các nghiệp vụ cũng tăng theo
Bảng 2: Chỉ tiêu doanh thu bộ phận hoạt động kinh doanh của Công ty Cổ phần Bảo hiểm PJICO
thời kỳ 1996 - 2000
Chỉ tiêu
Năm
1996 1997 1998 1999 2000
Doanh thu B H con
người (tr.đ)
24.160 35.105 42.698 45.253 48.253
Doanh thu B H TNDS
(tr.đ)
16.029 24.115 31.410 32.160 36.160
Doanh thu B H tài sản
(tr.đ)
21.130 33.055 35.087 38.144 41.144
Doanh thu khác 1.075 1.805 1.445 2.433 3.443
Tổng 62.400 94.080 111.360 118.000 129.000
Nguồn: Theo báo cáo tổng kết của PJICO năm 1996-2000
đại diện ở các tỉnh, thành phố lớn, hàng trăm tổng đại lý được mở rộng ở các khu vực đông dân cư, nhiều
người qua lại thuận tiện cho việc mua bán bảo hiểm để thực hiện khai thác tốt nhất. Triệt để nhằm bám sát
khách hàng, tạo điều kiện cho khách hàng tiếp cận và tham gia bảo hiểm tại Công ty. Phối hợp với các cơ
quan hành chính như Bộ tài chính, Bộ giao thông vận tải, Bộ công an, cảnh sát cùng tiến hành triển khai
nghiệp vụ.
Sau khi ra đời Nghị định 115 CP/1997 “Bàn về phạm vi bảo hiểm và trách nhiệm bảo hiểm”,
Nghị định này quy định phạm vi bảo hiểm rộng hơn so với Nghị định 30 của Hội đồng bộ trưởng, ngoài
BHTNDS của chủ xe cơ giới đối với người thứ ba, chủ xe còn phải tham gia bảo hiểm trách nhiệm dân sự
của chủ xe đối với hàng hoá trở trên xe theo hợp đồng bảo hiểm vận chuyển hành khách.
- Bổ sung quy định về trách nhiệm của cơ quan bảo hiểm
- Bổ sung quy định về quyền lợi của chủ xe cơ giới.
- Bổ sung quy định về trách nhiệm của các bộ và Uỷ Ban nhân dân các tỉnh, thành phố trực thuộc
Trung ương nhằm hướng dẫn thi hành và phối hợp triển khai thực hiện.
- Bổ sung các quyết định về xử lý vi phạm đối với các hành vi vi phạm chế độ bảo hiểm bắt buộc
nhằm đảm bảo thi hành Nghị định trong thực tế triển khai.
Kết quả đạt được qua tình hình thực tế triển khai theo Nghị định 115 CP/1997, sau 6 năm hoạt
động trên thị trường bảo hiểm cạnh tr anh gay gắt PJICO vẫn đứng vững và hoạt động với hiệu quả cao cụ
thể:
1.1. Về mặt số lượng xe cơ giới
Số lượng xe cơ giới tham gia vào lưu thông qua các năm tăng dần, năm 2000 lượng xe cơ giới
tham gia lưu thông là nhiều nhất đặc biệt là xe máy tăng 150% (thêm 50%). Số xe tham gia bảo hiểm
cũng như tỷ lệ xe tham gia bảo hiểm tăng dần từ năm 1996 đến năm 2000 (năm 1996 là 0,51%, đến năm
2000 là 0,685%), còn về số tuyệt đối năm 1996 số xe tham gia bảo hiểm là 23.418 xe, năm 2000 số xe
tham gia bảo hiểm là 41.420 xe.
Thực tế lượng xe máy trong lưu thông gấp gần 12 lần xe ô tô nhưng lượng xe máy lại tham gia
bảo hiểm ít hơn xe ô tô rất nhiều vì nước ta chưa bắt buộc được trực tiếp xe máy tham gia bảo hiểm trách
nhiệm dân sự mà chỉ bắt buộc được với ô tô (nhưng với số lượng chưa triệt để vẫn còn rất thấp).
Năm 1997, công ty đã thu hút được 33.426 chiếc xe tăng 10.008 chiếm 0,61% tổng lượng xe lưu
hành trên toàn quóc tăng 42,74% so với năm 1996.
Qua đây ta thấy được sự vươn lên của PJICO trên thị trường bảo hiểm, từ một công ty mới thành
hiểm tại Công ty ngày một tăng, còn trong cả nước số xe ô tô tham gia bảo hiểm 2000 giảm; số lượng xe
máy tham gia bảo hiểm cũng giảm cho đến năm 2000 chỉ còn 10,6T, chứng tỏ việc khai thác ở các Công
ty bảo hiểm khác chưa được tốt. Hiện cho đến năm 2001 còn tới 5,3 triệu xe máy chưa mua bảo hiểm.
* Nguyên nhân làm ảnh hưởng với công tác khai thác của PJICO
- Xét trên giác độ chủ quan là:
+ Công ty cổ phần bảo hiểm PJICO chưa nhạy bén, chưa thực sự đổi mới phương thức phục vụ
để phù hợp cơ chế thị trường đặc biệt là các dịch vụ có tính chất xã hội cao.
+ PJICO chưa thực sự hợp tác với các công ty bảo hiểm khác để cùng nhau thành lập hội liên hiệp
bảo hiểm tương hỗ lẫn nhau để thực hiện Nghị định 115 CP, mãi cho đến cuối năm 2000 (10/10/2000) thì
hiệp hội bảo hiểm gồm có (PJICO, PTI, bảo hiểm Thành phố Hồ Chí Minh, Bảo Việt họp bàn về việc
thực hiện Nghị định 115 CP).
+ PJICO chưa biết tranh thủ sự ủng hộ giúp đỡ của các cấp, các ngành có liên quan trong việc tạo
điều kiện thuận lợi để khai thác hết tiềm năng bảo hiểm.
- Trình độ nghiệp vụ khai thác của nhân viên công ty còn yếu, Công ty PJICO chưa quan tâm
đúng mức đến việc khai thác nên chưa thuyết phục được người tham gia bảo hiểm có hiệu quả.
- Nguyên nhân khách quan:
+ Đứng về phía người tham gia bảo hiểm thì tuyệt đại đa số là không tự giác tham gia bảo hiểm
(ý thức của người tham gia bảo hiểm (chủ xe) vẫn chưa cao), các chủ xe luôn muốn trốn tránh việc mua
bảo hiểm trách nhiệm dân sự ở các công ty bảo hiểm nói chung và PJICO nói riêng.
+ Do sự hiểu biết về trách nhiệm bản thân của chủ xe cơ giới còn hạn chế, sự hoài nghi về việc
được hưởng quyền lợi chưa cao.
+ Cơ chế kiểm tra, kiểm soát việc mua bảo hiểm chưa rõ ràng, chưa kết hợp được với công an
giao thông và các ngành có liên quan.
Những nguyên nhân chủ quan và khách quan đã dẫn tới hậu quả làm cho khâu khai thác nghiệp
vụ kém đi.
1.2. Về doanh thu phí bảo hiểm xe cơ giới
Theo số liệu bảng phần (4) cho thấy tốc độ tăng tỷ lệ xe máy tham gia bảo hiểm nhanh hơn tốc độ
tăng tỷ lệ ô tô tham gia bảo hiểm. Cụ thể là năm 1997 tỷ lệ xe tăng 38,09%, năm 2000 tăng 3,4%. Nhưng
do phí bảo hiểm bình quân/đầu xe máy thấp hơn rất nhiều so với phí bảo hiểm bình quân/đầu ô tô. Các
chủ xe máy tham gia bảo hiểm phần lớn là do bắt buộc nên không tham gia bảo hiểm với mức trách
Nhận xét bảng 4:
Năm 1996 đến năm 2000 số xe tham gia bảo hiểm tại công ty ngày một tăng từ 23.418 chiếc lên
43.350 (năm 2000) làm cho lượng phí thu được cũng tăng lên và vượt kế hoạch.
- Năm 1996 công ty thu được 2.414,99 triệu đạt 119,8% kế hoạch, vượt kế hoạch 398,99 triệu
đồng.
- Năm 1997 công ty thu được 3.449,25 triệu đồng đạt 128,32% kế hoạch, vượt kế hoạch là 761,25
triệu đồng.
- Năm 1998 công ty thu được 3.760,04 triệu đồng đạt 130,6% kế hoạch, vượt kế hoạch 880,04
triệu đồng.
- Năm 1999 công ty thu được 3.909,04 triệu đạt 112% kế hoạch, vượt kkf là 409,54 triệu.
- Năm 2000 công ty thu được 4.212,84 triệu đạt 109,4% kế hoạch, vượt kế hoạch là 362,84 triệu.
Thông qua bảng 4 trên thì tình hình thực hiện kế hoạch thu phí là một vấn đề mà công ty đang
phải xem xét trong thời gian tới, bởi số lượng xe cơ giới tại Việt Nam tham gia giao thông ngày càng
nhiều, thì lượng xe tham gia bảo hiểm sẽ nhiều càng tạo ra doanh thu phí cao cho các công ty bảo hiểm,
cũng như PJICO.
Đối với PJICO thì nghiệp vụ BHTNDS của chủ xe cơ giới đối với người thứ ba chưa phải là
nghiệp vụ chính nhưng nó đóng góp một phần doanh thu không nhỏ vào trong doanh thu bảo hiểm gốc
toàn công ty.
Biểu 5: Tỷ trọng doanh thu nghiệp vụ BHTNDS của chủ xe cơ giới đối với người thứ ba
Năm
Doanh thu nghiệp vụ
(tr.đ)
Doanh thu bảo hiểm gốc toàn
Công ty (tr.đ)
Tỷ trọng doanh thu
BHTNDS (%)
1996 2.414,99 62.400 3,87
1997 3.449,25 94.080 3,67
1998 3.760,04 111.360 3,38
1999 3.909,54 118.000 3,33
an toàn và trật tự chung của xã hội, đem lại sự ổn định về tài chính cho người thứ ba và chủ xe cơ giới.
Đây là một công tác không thể thiếu được trong quá trình hoạt động kinh doanh của bất kỳ Công
ty bảo hiểm nào. Hàng năm Công ty luôn theo dõi thống kê tình trạng tổn thất và tìm ra nguyên nhân gây
tai nạn trên cơ sở đó để nghiên cứu đề suất những biện pháp phòng ngừa hữu hiệu nhằm giảm chi xuống
mức thấp nhất khả năng tổn thất xảy ra.
Cụ thể công tác đề phòng hạn chế tổn thất của Công ty như là:
- Xây dựng các đường lánh nạn ở một số đoạn đường nguy hiểm, cho dựng các Phanô, áp phíc
ở các đèo Măng Găng, Cù Mông, đèo Hải Vân