TIỂU LUẬN:
Thực trạng xuất khẩu của ngành dệt
may Việt nam sang thị trường Mỹ
trong những năm gần đây và những
vấn đề đặt ra
A/ Lời mở đầu
Nêu tầm quan trọng và mục đích của vấn đề cần nghiên cứu.
B/ Nội dung:
ChươngI: Vài nét tổng quan quản lý xuất khẩu ngành dệt may ở nước ta
I/ Vị trí vai trò của ngành dệt may trong nền kinh tế
Tăng cường nghiên cứu thị trường và xây dựng chính sách phù
hợp. Thu hút và sử dụng có hiệu quả vốn đầu tư kết hợp với việc nâng
cấp và đổi mới công nghệ.
C/ Kết luận : Khái quát một lần nữa về xuất khẩu hàng may mặc Việt
Nam.
Lời nói đầu
Kể từ khi chuyển đổi thành công từ nền kinh tế bao cấp bảo hộ sang
nên kinh tế thị trường mở cửa và nhất là đang trên đà tăng trưởng của nền kinh
tế,Việt nam ta đã và đang gặt háI được nhiều thành tựu đáng kể trong hoạt
động thương mại quốc tế:thị trường xuất khẩu được mở rộng tốc độ tăng
trưởng xuất khẩu bình quân hơn 24%, đã có những biến chuyển tích cực trong
cơ cấu xuất khẩu. Những thành tựu đó đã chứng tỏ chiến lược phát triển ngoại
thương "Hướng về xuất khẩu, thay thế nhập khẩu có chọn lọc những mặt hàng
trong nước sản xuất có hiệu quả" mà Đảng và nhà nước ta lựa chọn là hoàn
toàn đúng đắn.Để phát huy những thành tựu đã đạt được, khắc phục những
khó khăn mà nền kinh tế nước ta nói chung và hoạt đông thương mại quốc tế
nói riêng còn đang phải đương đầu đồng thời cải biến cơ cấu hàng xuất khẩu
theo hướng tích cực việc đẩy mạnh hoạt động xuất khẩu các sản phẩm chế
biến trong đó có hàng dệt may là rất cần thiết.
ở Việt nam, cùng với quá trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước,
ngành dệt may đang chứng tỏ là một ngành mũi nhọn trong nền kinh tế quốc
dân. Điều này được thể hiện qua kim ngạch xuất khẩu liên tục gia tăng trong
những năm gần đây, số lượng lao động thu hút ngày càng nhiều chiếm tỷ trọng
lớn trong các ngành công nghiệp, đóng góp vào nguồn thu ngân sách và tạo
nguồn thu ngoại tệ đáng kể thông qua hoạt động xuất khẩu, các thị trường
quốc tế đã không ngừng mở rộng.
Ngành dệt may là một ngành công nghiệp nhẹ có vị trí quan trọng trong
Trung quốc… Hàng dệt may của các nước này chiếm 1/4 hàng dệt và 1/3 tổng
khối lượng buôn bán hàng dệt may trên thế giới.
Việt nam vốn đi lên từ một nước có nền kinh tế nông nghiệp lạc hậu,
thu nhập quốc dân tính theo đầu người rất thấp, phần lớn dân cư sống ở nông
thôn với nguồn sống chính dựa vào nông nghiệp_một khu vực phát triển năng
suất và hiệu quả đều thấp.
Để thúc đẩy nền kinh tế phát triển, chúng ta cần phải thực hiện công
cuộc công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước. Lợi thế lớn của nhiều nước đang
phát triển trong đó có Việt nam trong giai đoạn đầu công nghiệp hoá là giá rẻ,
nguyên liệu dồi dào. Vì vậy trong giai đoạn đầu lấy công nghiệp hoá là trọng
tâm, các nước có hoàn cảnh tương tự như Việt nam cần phát triển mạnh các
ngành có khả năng tận dụng những lợi thế có sẵn bởi lẽ chính các ngành này
sẽ nhanh chóng tạo ra một tiềm lực công nghiệp mới, nhanh chóng tạo ra
nhiều việc làm góp phần đẩy lùi tình trạng thất nghiệp cao, nhanh chóng có
thêm nguồn thu nhập và tích luỹ lớn hơn để chuẩn bị cho việc phát triển các
tiềm lực lớn hơn. Điều này thể hiện rã nét ở ngành dệt may.
Sau nhiều năm phát triển với tốc độ tăng trưởng bình quân khá cao
ngành dệt may nước ta trở thành một ngành mũi nhọn trong nền kinh tế. Hiện
may, ngành không chỉ thoả mãn nhu cảu của thị trường nội địa mà còn là
ngành có kim ngạch xuất khẩu cao đem lại một nguồn thu ngoại tệ lớn phục
vụ đắc lực cho công cuộc xây dựng và đổi mới đất nước.
Hơn nữa, đối với một nước dân số khoảng 78 triệu người có nguồn lao
động gần 40 triệu người, chúng ta còn hàng chục triệu người thiếu việc làm và
hàng triệu người chưa có việc, ngành dệt may có vai trò quan trọng trong việc
giải quyết việc làm. Ngành dệt may (Nhất là lĩnh vực may) có nhiều công
đoạn sản xuất thủ công không đòi hỏi tay nghể cao… nên có khả năng giải
quyết viếc làm cho người lao động.
quốc gia vào ành sản xuất trong nước trong quan hệ cạnh tranh với thị trường
quốc tế nhằm phát huy những lợi thế so sánh, buộc các nhà sản xuất trong
nước. Phải luôn đổi mới công nghệ nâng cao năng xuất chất lượng sản phẩm
… đẩy mạnh việc tiêu thụ sản phẩm trên thị trường thế giới và đem lại nguồn
ngoại tệ cho đất nước.
Điều này thể hiện rõ ở ngành dệt may Việt nam: xuất khẩu hàng dệt
may Việt nam đã và đang sẽ là ngành xuất khẩu quan trọng hàng đầu của Việt
nam trong những năm cuối thế kỷ 20 và đầu thế kỷ 21. Với mức tăng trưởng
cao và ổn định từ 30% đến 40%. Suốt chục năm qua, xuất khẩu hàng dệt may
đã lần lượt vượt qua các mặt hàng xuất khẩu chủ lực khác. Gần chục năm qua,
xuất khẩu hàng dệt may đã lần lượt vượt lên vị trí số một trong danh sách 10
mặt hàng xuất khẩu chủ lực của Việt nam(1998) và đứng thứ 2 (1999) với giá
trị xuất khảu gần 1,7 tỉ USD ( Tăng 16% so với năm 1998)là mặt hàng có kim
ngạch xuát khảu sau dầu thô_mặt hàng có mức sản lướng xuất khẩu 14,7
nghìn tấn và kim ngạch đạt tới gần 2 tỉ USD.
Xuất khẩu hàng dệt may Việt nam hàng năm đem lại nguồn thu ngoại tệ
cho đất nước khoảng 300 triệu USD ngành này còn góp phần tích cực giải
quyết công ăn việc làm cho hàng triệu người lao động trên mọi miền đất nước.
Điều đó có ý nghĩa trong lúc chúng ta đang thiếu vốn thừa lao động .
Với đường lối mở cửa và hội nhập vào cộng đồng thế giới nói chung
và các nước trong khu vức nói riêng , ngành dệt may phải trực tiếp tham gia
hợp tác về các lĩnh vức lao động mậu dịch tham gia tiến hành cắt giảm thuế
quan của khu vực mậu dịch tự do ASEAN (AFTA) và tham gia vào các tổ
chức quốc tế khác, ngành dệt may của chúng ta cần phải tích cực đổi mới với
mức chi phí sản xuất thấp công nhân cần cù sáng tạo cùng với việc nâng cao
chất lượng đặc biệt là quan tâm tới thị hiếu, mẫu mốt thời trang của thị trường
thế giới.
của người xuất khẩu cũng như kiểm tra các chứng từ có hợp pháp và đúng qui
định không.
Những qui định về thủ tục hải quan là đối tượng hàng đầu trong việc đơn
giản hoá các thủ tục thương mại quốc tế. Thời gian làm thủ tục các yêu cầu đối
với chứng từ là tiêu chuẩn hàng đầu để đánh giá công tác đơn giản hoá thủ tục
thương mại.
2. Hạn ngạch xuất khẩu:
Đối với hàng hoá có hạn ngạch và có giấy phép của Bộ thương mại:
Thương nhân có đủ điều kiện theo qui định tại khoản 1, điều 9 nghị
định số 57 /1998 /NĐ - CP chỉ được uỷ thác xuất khẩu, nhạp khẩu hàng hoá có
hạn ngạch và hàng hoá xuất khẩu, nhập khẩu có giấy phép của bộ thương mại
trong phạm vi số lượng hoặc trị giá ghi tại văn bản pham bổ hạn ngạch của cơ
quan có thẩm quyền hoặc giấy phép của bộ thương mại.
Thương nhân có đủ điều kiện theo qui định tại khoản 2, điều 9 nghị
định số 57 /1998/ NĐCP chỉ được nhận uỷ thác xuất nhập khẩu hàng hoá có
hạn ngạch và hàng hoá xuất khẩu, nhập khẩu có giấy phép của bộ thương mại
trong phạm vi số lượng hoặc giá trị ghi tại văn bản phân bổ hạn ngạch của cơ
quan có thẩm quyền hoặc giấy phép của bộ thương mại cấp cho thương nhân
uỷ thác. Không được sử dụng hạn ngạch hoặc giấy phép do bộ thương mại cấp
cho mình để nhận uỷ thác xuất khẩu, nhập khẩu.
Trường hợp bộ thương mại có qui định riêng về việc uỷ thác xuất khẩu,
nhập khẩu một số mặt hàng có hạn ngạch hoặc có giấy phép thì việc uỷ thác
được thức hiện theo quy định đó.
Đối với hàng xuất khẩu, nhập khẩu có giấy phép của bộ quản lý chuyên
ngành.
Thương nhân có đủ điều kiện theo quy định tại khoản 1 và khoản 2 điều
9 nghị định số 57 /1998 /NĐCP được uỷ thác hoặc nhận uỷ thác xuất khẩu,
nhập khẩu hàng dệt.
Mặt hàng 1995 1996 1997
Hàng dệt thường 22247 22870 25993
Hàng dệt kim 13886 15060 18653
Tổng 36103 37930 44646
Bảng 1:
Kim ngạch nhập khẩu hàng may mặc của Mỹ qua các năm
Đơn vị tính: Triệu USD
Từ khi Mỹ bỏ cấm vận với Việt nam, Mỹ đang dần trở thành thị trường
nhập khẩu lớn hàng dệt may của Việt nam. Hàng dệt may Việt nam xuất khẩu
Mỹ bao gồm các chủng loại như là sơ mi nam, quần âu, găng tay, áo jacket…
trong các năm từ 1994_1999 xuất khẩu dệt may Viêt nam vào thị trường Mỹ
tăng với tốc độ cao. Năm 1998 kim ngạch xuất khẩu hàng dệt may Việt nam
sang thị trường Mỹ đạt 26,3 triệu USD tăng 12,5% so với năm 1997 và tới
năm 1999 kim ngạch xuất khẩu mặt hàng này đã lên tới 33,02 triệu USD
Năm 1994 1995 1996 1997 1998 1999
Trị giá 2,436 15,092 20,013 23,041 26,343 33,026
Bảng 2:
Kim ngạch xuất khẩu hàng dệt may của Việt nam vào thị trường Mỹ
Đơn vị tính: Triệu USD
Tuy nhiên so với lượng hàng dệt may Mỹ nhập qua các năm thì giá trị
hàng dệt may của Việt nam xuất vào Mỹ chỉ chiếm một tỷ lệ rất nhỏ.
Hiên nay, hiệp định thương mại Việt_Mỹ vừa được ký kết tạo ra những cơ
nước ta hiện nay đa phần được sản xuất và xuất khẩu theo mẫu mã của khách
hàng nước ngoài. Tuy nhiên chất lượng hàng dệt may của Việt nam có phần
được cải thiện từ chỗ sản xuất các loại sợi chỉ số trung bình (NM40) nay đã
nâng lên đến chỉ số bình quân (NM61,22) từ chỗ chúng ta chỉ sản xuất các mặt
hàng
may mặc trung bình cho Liên xô cũ và các nước Đông âu nay chúng ta đã
vươn sang thị trường tư bản và đòi hỏi chất lượng cao như Mỹ, EU…
Đặc biệt sản phẩm dệt kim từ chỗ vài loại vải sản phẩm đơn giản mặc nót
trong thì nay đã có nhiều chủng loại màu sắc phong phú dùng cho mặc trong,
mặc ngoài như áo pull Thành Công, áo T_shirt, áo polo shirt Hà nội, dệt kim
Đông Xuân, dệt kim Phương Đông, các loại tất dệt Xuân Đình, dệt Nha
Trang….Chất lượng sản phẩm may (áo jacket, sơ mi) và dệt kim (T_shirt, polo
shirt) cạnh tranh được với sản phẩm cùng loại so với các nước trong khu vực
như giá cả chưa cạnh tranh được ( đặc biệt so với hàng Trung quốc) vì chi phí
sản xuất cao thiết bị nguyên vạt liệu đều nhập khẩu trong khi đó tỷ lệ vải phụ
liệu sản xuất trong nước thấp, giá công nhân tuy thấp nhưng năng suất không
cao, chi phí khác trong giá thành khá lớn.
3. Khả năng cạnh tranh của hàng dệt may Việt nam:
Theresa Guerro_ chuyên viên thuế quan phân ban dệt may tại cửa khẩu Los
Angeles, dự kiến hàng khổng lồ từ Việt nam sẽ thâm nhập vào thị trường Mỹ.
Khi Campuchia khởi động thương mại với Mỹ trên quy chế quan hệ thương
mại bình thường (NTR) đã bùng nổ số hàng dệt may xuất khẩu từ Campuchia
vào thị trường Mỹ với nức kim ngach 7,7 triệu USD năm 1996_1997 lên 171
triệu USD năm 1997_1998 , trong khi đó so với Campuchia hàng dệt may Việt
nam có nhiều ưu thế hơn…
Lạc quan nhưng dè dặt vụ khoa học bộ thương mại cho rằng mặc dù thị
trường nhập khẩu hàng dệt may của Mỹ lớn hơn cả EU, song lâu nay Việt nam
chịu hai bất lợi lớn so với các nước xuất khẩu là thành viên WTO còn bị hạn
chế bằng hạn ngạch theo các hiệp định song phương kể cả sau năm 2004 ( thời
điểm chế độ kiểm soát nhập khẩu hàng dệt may bằng hạn ngạch được bãi bỏ
hoàn toàn cho các nước thành viên WTO ) chịu thuế suất nhập khẩu cao hơn ở
nhiều thị trường Do các nước phát triển sẽ tăng cường loại hàng rào phi thuế
quan khác để hạn chế bớt việc nhập khẩu sản phẩm từ những quốc gia đang
phát triển_ ông Lê Quốc Ân phân tích.
Do vậy, từ cơ sở của hiệp định thương mại Việt_Mỹ đích sắp tới phải là
gia nhập WTO có như vậy mới giúp tăng được khả năng xuất khẩu sản phẩm
dệt may với số lượng lớn trong tương lai.
II. Đánh gía chung tình hình thực hiện hoạt động xuất khẩu hàng
dệt may sang thị trường Mỹ
1. Những thuận lợi và cơ hội xuất khẩu hàng dệt may sang thị trường
Mỹ.
1.1/ Về mặt cơ chế chính sách:
Công cuộc đổi mới kinh tế bắt đầu từ năm 1986 đã giúp cho nền kinh tế
Việt nam có những phương hướng và động lực phát triển mới. Và trong thời
kỳ đổi mới này đã có những chính sách tác động tích cực đến ngành dệt may:
Thứ nhất, đó là chính sách phát triển kinh tế nhiều thành phần và đặc
biệt là sự nới lỏng quy chế thương mại cho phép một số xí nghiệp tổ chức kinh
doanh các địa phương được quyền xuất khẩu trực tiếp tạo ra môi trường thuận
lợi trong sản xuất và kinh doanh đối với ngành dệt may.
Thứ hai, thông qua các đại hội VI, VII, VIII, Đảng cộng sản Việt nam
đã xác định sản xuất hàng tiêu dùng và hàng xuất khẩu là những mục tiêu quan
trọng trong chiến lược đầu tư để chuyển dịch cơ cấu kinh tế hướng về xuất
khẩu. Luật đầu tư nước ngoài tại Việt nam ra đời tháng 2/1987 và được sửa
đổi đã tạo ra khả năng cho toàn bộ nền kinh tế nói chung và ngành dệt may nói
Ba là, với luật khuyến khích đầu tư trong nước đã được quốc hội sửa
đổi bổ sung vào tháng 5/1998 đã giành thêm một số ưu đãi cho sản xuất hàng
hoá xuất khẩu, trong đó có việc thành lập quỹ hỗ trợ xuất khẩu.
1.2/ Về vốn đầu tư và khả năng thu hút vốn đầu tư nước ngoài:
Hiện nay có 165 dự án FDI đầu tư vào lĩnh vực dệt may với tổng số vốn
đạt gần 1900 triệu USD, vốn thực hiện 738 triệu USD. Trong đó có 71 dự án
về dệt với số vốn đăng ký là 1.577 triệu USD,94 dự án dệt may, vốn đăng ký
269 triệu USD. Đã có 98 dự án đi vào sản xuất tạo việc làm cho 4 vạn lao
động với mục tiêu đẩy mạnh phát triển ngành công nghiệp mũi nhọn.
Chính phủ cùng bản thân các doanh nghiệp ngành dệt may đã có những
chính sách thoả đáng trong thời gian qua. Một mặt, nhà nước tạo mọi điều
kiện thuận lợi khuyến khích mọi thành phần kinh tế tham gia sản xuất , dùng
các chính sách hỗ trợ sản xuất và đầu tư chiều sâu (khoa học công nghệ, trình
độ quản lý) cho ngành dệt may. Mặt khác thống nhất quản lý các hoạt động
xuất nhập khẩu hàng hoá đã tạo ra hành lang thông suốt vững chắc cho ngành
dệt may phát triển đồng bộ và hiệu quả. Việc đầu tư cho ngành dệt may không
khó khăn về là ngành có xuất đầu tư không lớn thời gian thu hồi vốn nhanh, có
điều kiện huy động vốn.Việc đầu tư có điều kiện huy động vốn của các thành
phần kinh tế cùng tham gia.
Hiện nay có 19 nước đầu tư trong lĩnh vực dệt may chủ yếu là các nước
Châu á trong đó Đài Loan đứng đầu với 23 dự án, tổng số vốn 56,430 triệu
USD, Hàn Quốc 14 dự án với số vốn 21,843 triệu USD, Hồng Kông 11 dự án
với mức vốn đầu tư là 19,206 triệu USD.
1.3/ Những thuận lợi về nguồn nhân lực:
Nước ta hiện nay có nguồn nhân lực hết sức dồi dào, phong phú. Với dân
số cả nước gần 80 triệu người, số người trong tuổi lao động xấp xỉ 34 triệu
trong đó phụ nữ chiếm 52% ngành dệt may có nhiều công đoạn thủ công,
không đòi hỏi sức lực cao nên rất phù hợp bới nữ giới, với đức tính lao động
Trong khi đó hiện nay Việt nam vẫn chưa được hưởng ưu đãi GSP.
Việc ưu đãi GSP chỉ được thực hiện sau khi Việt nam đạt được quy chế tối
huệ quốc với Mỹ và là thành viên của WTO và IMF.
Bên cạnh trở ngại thuế quan để tăng cường xuất khẩu sang thị trường
Mỹ hàng dệt may Việt nam phải đủ sức cạnh tranh với các sản phẩm của Mỹ
và các nước xuất khẩu truyền thống vào Mỹ như: Trung Quốc, ấn Độ, và các
nước nam Mỹ , đặc biệt là Trung Quốc đang có rất nhiều thế mạnh. Một bất
lợi nữa là trong số các mặt hàng của Việt nam xuất khẩu vào thị trường Mỹ thì
hàng dệt may phải chịu mức thuế phí NTR rất cao, gần gấp 2,5 lần so với các
nước khác.
Thêm nữa cũng cần phải nói lên rằng chất lượng hàng dệt may của Việt
nam chưa cao nên đã gặp rất nhiều khó khăn khi thâm nhập vào thị trường
Mỹ.
III. Bàn về phương hướng và giải pháp nhằm tăng cường khả năng xuất khẩu
hàng dệt may vào thị trường Mỹ trong những năm tới
1. Định hướng xuất khẩu hàng dệt may vào Mỹ
1.1 Phương hướng tổng quát:
Đảng và nhà nước cùng các cấp lãnh đạo ngành công nghiệp dệt may đã
xây dựng được những quan điểm chủ đạo và các mục tiêu quan rrọng về phát
triển xuất khẩu hàng dệt may trong thời gian tới. Với mục đích tạo công ăn
việc làm cho người lao động và đóng góp một mức tăng trưởng nhanh về
doanh thu xuất khẩu . Tổng công ty dệt may và toàn ngành dệt may cần phải
thực hiện theo các bước:
Một là, phải hoàn thành nhanh chóng kế hoạch tổng thể phát triển ngành
dệt may đến năm 2010, xây dựng một chiến lược kinh doanh của toàn công ty
trong đó kết hợp với chiến lược thị trường và chiến lược sản phẩm để tập trung
đầu tư vào việc thực hiện chiến lược.
Tăng cường kiểm tra kiểm soát đánh giá thực chất việc thực hiện hạn
ngạch. Liên bộ chỉ cấp hạn ngạch các chủng loại hàng các năm qua sử dụng
hết hạn ngạch
Nhà nước cần có chính sách hỗ trợ tài chính, cơ sở hạ tầng đất đai, lao
động… đối với các doanh nghiệp nhỏ , vừa và mới thành lập vì loại hình này
thích hợp với kinh doanh xuất khẩu.
Hàng năm tổ chức các cuộc tiếp xúc giữa các cơ quan quản lý và các doanh
nghiệp dệt may có doanh số xuất khẩu hàng năm trên 1 triệu USD để trao đổi
thông tin, tìm kiếm giải pháp đẩy mạnh xuất khẩu hàng dệt may.
2. Một số giải pháp và chiến lược Marketing
Trong năm 2001 ,ước tính kim ngạch xuất khẩu hàng dệt may nước ta
đạt 2,1 tỷ USD ,trong đó tập trung chủ yếu vào thị trường Eu và Nhật Bản
.Còn với thị trường mỹ thì rất khiêm tốn (chỉ khoảng vào 70 triệu
USD).Nguyên nhân cơ bản khiến các doanh nghiệp việt nam khá trầy trật khi
xuất khẩu vào mỹ là do chưa được hưởng qui chế tối huệ quốc cho nên thuế
nhập khẩu rất cao . Hơn nữa xuất khẩu vào mỹ từ trườc đến nay chủ yếu thông
qua các đối tác thứ ba như hồng kông ,đài loan ,hàn quốc Hiện phần lớn
hàng dệt may việt nam xuất khẩu theo hình thức gia công ,trong khi đó thi
trường mỹ lại ưa chuộng hình thức mua bán với số lương lớn,mua đứt bán
đoạn đây là cái khó cho các doanh nghiệp việt nam .Làm sao tận dụng được
lợi thế và hạn chế nhưng nhược điểm trước mắt đây là vấn đề lớn đặt ra .Các
doanh nghiệp vốn trong nươc phải khac phục yếu kém ,nâng khả năng cạnh
tranh để tăng lượng hàng bán vào mỹ,các doanh nghiẹp liên doanh cũng có
nhiều cơ hội thâm nhập vào thị trường này đặc biệt ,các doanh nghiệp 100%
vốn nước ngoài trước đây tập trung xuất khẩu nhiều vào EU và nhật bản nay
tăng cường đưa sản phẩm của minh vào thi trường mỹ. Bên cạnh đó các nước
koanh nghiệp vẫn tìm kiếm các hợp đồng thầu cung cấp cho các công ty bán lẻ
sẽ là phương án tối ưu đối với các nhà xuất khẩu Việt Nam. Xu hướng tìm
nguồn cung ứng từ nước ngoài của các công ty bán lẻ và chuyển dịch sản xuất
sang các bước có chi phí nhân công thấp của các nhà sản cuất Mỹ hiện nay sẽ
là một cơ hội tốt để các doanh nghiệp Việt Nam tìm kiếm đối tác và tiếp cận
thị trường Mỹ dễ hơn; các cơ quan quản lý nhà nước, hiệp hội các nhà sản
xuất may mặc Việt nam cần có vai trò tích cực hơn nữa trong việc hỗ trợ cung
cấp thông tin và tìm kiếm thị trường giới thiệu đối tác cho các doanh nghiệp
Một số giải pháp cụ thể như sau:
-Tăng cường nghiên cứu và mở rộng thị trường tiêu thụ : Đây là một
việc làm cần thiết đầu tiên cho bất cứ công ty nào muốn tham gia vào thị
trường mỹ .Hoạt động nghiên cứu thị trường đòi hỏi phải nắm bắt được những
thông tin thiết yếu về nhu cầu ,khả năng tiêu thụ cũng như các điều kiện thâm
nhâp thị trương của hàng dêt may việt nam .Việc thâm nhạp thị trường lớn như
mỹ thông qua các chuyến viến thăm cấp chính phủ ,các chuyến du lịch hay là
các chuyến khảo sat ,thu nhập các thông tin về những qui địng về hạn ngạch
nhập khẩu ,thuế ,phí buôn bán ,các thủ tục và chính sách khác của thi trường
mỹ;tìm hiểu sở thích ,tập quán ,thị hiếu tiêu dùng ,khả năng tiêu thụ của từng
thị trường để có những giải pháp kịpp thời và thìch hợp .Khai thác hiệu quả
hơn các thị trường hiẹn có như EU ,nhật bản
-Thu hút và sử dụng có hiệu quả vốn đầu tư ,kết hợp với việc nâng cấp và
đổi mới công nghệ : Ngành dệt may hiện nay đang cần rất nhiều vốn đẻ đầu tư
đổi mới công nghệ nhằm phát triển đòng bộ ,thực hiện với mục tiêu chiến lược
phát triẻn đến năm 2010.Trong những năm này, nhu cầu về nâng cấp máy móc
hiện đại là rất lớn đêr sản xuất ra vải có chất lượng cao ,mẫu mã đa dạng ,thực
hiện tốt mục tiêu đặt ra lả tăng tỷ lệ mua bán đứt đoạn chiếm khoảng
60%.Việc sử dụng nguồn vốn huy động phải được phân bổ một cách hợp lý
Ngành công nghiệp dệt may là một ngành truyền thống lâu đời của
nhân dân ta từ trồng dâu nuôi tằm, ươm tơ,dệt vải đã trở thành những làng
nghề từ xa xưa và đến nay không ít trong số đó vẫn tồn tại và phát triển, nhiều
mặt hàng dệt may đã có uy tín trên thị trường trong nước và nước ngoài. Ngày
nay trong công cuộc đổi mới đẩy mạnh công nghiệp hoá hiện đại hoá và tăng
cường hội nhập dưới sự lãnh đạo của đảng và nhà nước, ngành công nghiệp
dệt may đã được chú trọng ưu tiên phát triển và được coi là một trong ngành
phát triển trong cả nước trong quá trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá của
nước ta.
Ngành công nghiệp dệt may nước ta có những bước nhảy vọt từ những
năm giữa thập kỷ 90, hiện nay kim ngạch xuất khẩu của ngành được xếp vào
vị trí số 1 trong các mặt hàng chủ lực của đất nước. Và ngày càng mở rộng thị
trường đặc biệt sang những thị trường rộng lớn như Mỹ. Song để xuất khẩu
sang thị trường Mỹ chúng ta gặp rất nhiều khó khăn như thuế suất cao, trình
độ sản xuất thấp, việc quản lý chưa được hợp lý máy móc lạc hậu…
Trên cơ sở nhận thức được tầm quan trọng cũng như quá trình quản lý
của nhà nước trong hoạt động quản lý xuất nhập khẩu đưa ra những mặt mạnh
và những mặt còn hạn chế trên con đường thâm nhập vào thị trường Mỹ. Từ
đó bài viết đã đưa ra một số giải pháp cần thiết để phát triển xuất khẩu hàng
dệt may Việt nam vào Mỹ trong những năm tới.
tài liệu tham khảo
1. Báo công nghiệp số 1,2,5 năm 2000