BỘ GIA
́
O DU
̣
C VA
̀
ĐA
̀
O TA
̣
O
TRƯỜNG ĐẠI HỌC ...
KHOA ...
Báo cáo tốt nghiệp
Đề tài:
“Những thời cơ và thách thức
khi xuất khẩu hàng may mặc
sang thị trường EU của ngành
dệt may Việt Nam”
Khoa: Quản trị kinh doanh
1
LỜI MỞ ĐẦU
Trong điều kiện tiến bộ khoa học công nghệ và của phân công lao động
quốc tế hiện nay, không thể có một nước phát triển bình thường mà không
cần sự giao lưu,phân công hợp tác quốc tế. Do vậy, quan hệ kinh tế quốc tế
là nhân tố, là biện pháp để thúc đẩy phát triển nhanh, bền vững, có hiểu quả.
Mặt khác, phát triển công nghiệp sẽ góp phần thúc đẩy quan hệ kinh tế quốc
tế, làm cho đất nước có thể hội nhập vào nền kinh tế thế giới.
Một trong những chiến lược phát triển công nghiệp Việt Nam đó là hoạt
động xuất nhập khẩu, là kết quả tất yếu của quá trình tự do hoá thương mại,
còn hạn chế; nguồn tài liệu còn hạn hẹp nên đề tài không tránh khỏi những
sai sót. Vì vậy, em rất mong nhận được ý kiến đóng góp của các thầy, cô
giáo và cùng bạn đọc.
Em xin chân thành cảm ơn Giảng viên chính Nguyễn Thị Tứ đã dầy công
hướng dẫn em làm đề án môn học Kinh tế và quản lý công nghiệp. Em xin
chân thành cảm ơn nhiều.
Sinh viên thực hiện
Lê Thiết Ngọc.
Khoa: Quản trị kinh doanh
3
CHƯƠNG I: CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA HOẠT ĐỘNG XUẤT KHẨU.
I. Khái niệm và vai trò của hoạt động xuất khẩu:
1. Khái niệm và đặc điểm:
a. Khái niệm
Hoạt động xuất khẩu là sự trao đổi hàng hoá, dịch vụ giữa các nước
thông qua hành vi mua bán. Sự trao đổi đó là một hình thức của mối quan hệ
xã hội và phản ánh sự phụ thuộc lẫn nhau về nền kinh tế giữa những người
sản xuất hàng hoá riêng biệt của các quốc gia khác nhau trên thế giới.
Hoạt động kinh doanh xuất nhập khẩu có một vị trí và vai trò vô cùng to
lớn trong quá trình phát triển kinh tế của mỗi một quốc gia nói chung và
công nghiệp nói riêng. Xuất khẩu là hoạt động kinh doanh đem lại lợi nhuận
lớn và là phương tiện thúc đẩy phát triển nền kinh tế. Nhà nước ta luôn coi
trọng và thúc đẩy các ngành kinh tế hướng theo xuất khẩu.
b. Đặc điểm
- Xuất khẩu hàng hoá thể hiện sự kết hợp chặt chẽ và tối ưu các khoa
học quản lý kinh tế với các nghệ thuật kinh doanh, giữa nghệ thuật kinh
doanh với các yếu tố khác của từng quốc gia như yếu tố luật pháp, kinh tế
văn hoá. Hơn nữa, hoạt động xuất khẩu hàng hoá nhằm khai thác lợi thế so
sánh của từng nước, khai thác các nguồn lực cho phát triển, góp phần cải
thiện đời sống nhân dân gia tăng tiến bộ xã hội và góp phần đẩy nhanh quá
nhanh cơ cấu kinh tế, cơ cấu lao động theo hướng công nghiệp hoá, hiện đại
hoá...”. Như vậy, để làm được điều đó tât yếu phải cần một lượng vốn lớn để
thực hiện. Cho nên vốn là một nhân tố không thể thiếu được, là vấn đề sống
còn với tiến trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước. Bởi vì khi có một
Khoa: Quản trị kinh doanh
5
lượng vốn lớn chúng ta có thể xây dựng cơ sở hạ tầng, nhập khẩu máy móc
thiết bị, kỹ thuật công nghệ sản xuất hiện đại... phục vụ cho phát triển kinh
tế.
Để có được một lượng vốn cho nhập khẩu có thể được hình thành từ
nhiều nguồn như: liên doanh đầu tư nước ngoài với nước ta; vay nợ, viện
trợ, tài trợ; hoạt động du lịch, dịch vụ; xuất khẩu hàng hoá, lao động...
Nhưng vẫn quan trọng hơn cả là xuất khẩu hàng hoá. Bởi vì các nguồn vốn
đầu tư nước ngoài, vay nợ, viện trợ... tuy quan trọng nhưng rồi cũng phải trả
bằng cách này hoặc cách khác. Ngoại tệ thu được qua các hoạt động du lịch,
dịch vụ hiện nay chỉ là rất nhỏ so với nhu cầu về vốn của tiến trình công
nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước. Xuất khẩu lao động không ổn định đang
có xu hướng giảm dần. Do vậy, nguồn ngoại tệ quan trọng nhất chi dùng cho
nhập khẩu chính là từ xuất khẩu.
- Đóng góp vào việc chuyển dịch cơ cấu kinh tế, thúc đẩy sản xuất phát
triển:
Việc coi thị trường và đặc biệt là thị trường quốc tế là hướng quan trọng
để tổ chức sản xuất chính là xuất phát từ nhu cầu của thị trường thế giới để
tổ chức sản xuất. Điều này tác động tích cực đến chuyển dịch cơ cấu kinh tế,
thúc đẩy sản xuất phát triển. Sự tác động đến sản xuất thể hiện ở chỗ:
+ Xuất khẩu tạo điều kiện cho các ngành khác phát triển thuận lợi. Chẳng
hạn, khi phát triển ngành dệt xuất khẩu sẽ tạo cơ hội đầy đủ cho việc phát
triển ngành sản xuất nguyên liệu như bông hoặc thuốc nhuộm.. Mặt khác sẽ
kéo theo sự phát triển của ngành công nghiệp chế tạo thiết bị phục vụ cho
nó.
7
Điều này làm cho hoạt động xuất khẩu cùng với các mối quan hệ kinh tế
quốc tế khác làm cho nền kinh tế nước ta gắn chặt với nền kinh tế thế giới
và tham gia vào phân công lao động quốc tế. Chính nhờ thông qua xuất khẩu
và các quan hệ đối ngoại khác nhau mà hiện nay nước ta đã thiết lập mối
quan hệ thương mại với hơn 140 nước trên thế giới, ký các hiệp định thương
mại với hơn 70 nước là thành viên của tổ chức kinh tế của thế giới và khu
vực.
II. Các nhân tố tác động đến hoạt động xuất khẩu.
1. Nhân tố kinh tế.
- Sản phẩm xuất khẩu của doanh nghiệp ảnh hưởng rất lớn đến tốc độ
xuất khẩu. Đối tượng của các nhà xuất khẩu là xuất khẩu hàng hoá cho các
khách hàng, bạn hàng và các tổ chức kinh tế nước ngoài. Cho nên việc đáp
ứng được nhu cầu của họ là một thành công lớn trong hoạt động xuất khẩu.
Do vậy đòi hỏi phải có được sản phẩm có vị thế trong lòng người tiêu dùng
đặc biệt là người nước ngoài. Yếu tố thị trường cũng tác động không nhỏ
đến hoạt động xuất khẩu. Việc lựa chọn đúng đắn thị trường cho xuất khẩu
là một nhân tố đòi hỏi phải tính toán dự báo chính xác thị trường đó phải là
thị trường tiềm năng, có triển vọng trong tương lai. Còn yếu tố đối tác cũng
không kém phần quan trọng bởi đây là đầu mối để lưu thông sản phẩm xuất
khẩu. Cho nên việc lập mối quan hệ tốt hay tìm hiểu kỹ đối tác đem lại lợi
ích to lớn cho hoạt động xuất khẩu.
- Chính sách quốc gia, quốc tế ảnh hưởng to lớn đến hoạt động xuất
khẩu. Việc xuất khẩu với số lượng ít hay nhiều phụ thuộc rất lớn vào chính
sách quốc gia của từng nước. Khi mối quan hệ kinh tế với các nước đối tác
không còn thuận lợi thì sẽ có các chính sách hạn nghạch xuất khẩu làm cho
việc xuất khẩu trở nên khó khăn hơn.
Khoa: Quản trị kinh doanh
8
- Hàng hoá xuất khẩu của doanh nghiệp phải chịu rất nhiều sức ép từ
tế, đặc biệt là xuất khẩu.
4. Nhân tố liên minh, liên kết về kinh tế – chính trị:
Việc mở rộnh ngoại giao, hình thành các khối liên kết kinh tế, chính trị,
quân sự góp phần tạo điều kiện thuận lợn cho hoạt độnh kinh doanh buôn
bán giữa các quốc gia thành viên. Tăng cường tích cựctiến hành ký kết với
các quốc gia ngoài khối những hiệp định, thoả ước để từng bước nới lỏng
hàng rào vô hình, tạo điều kiện cho hoạt độnh kinh doanh phát triển và đôi
bên cùng có lợi.
Khoa: Quản trị kinh doanh
10
CHƯƠNG II : THỰC TRẠNG XUẤT KHẨU HÀNG DỆT MAY VIỆT
NAM SANG THỊ TRƯỜNG EU
I. Vị trí của ngành dệt may và thị trường EU:
1. Vị trí của ngành dệt may
- Nhận thức được tầm quan trọng của xuất khẩu nên nước ta hiện nay
áp dụng chiến lược: Hướng vào xuất khẩu, chuyển dịch cơ cấu hàng xuất
khẩu sang dạng chế biến sâu, mở ra những mặt hàng mới và có lợi nhuận
cao. Đặc biệt ngành dệt may xuất khẩu là một ngành đang được coi trọng và
đóng vai trò chủ lực trong nền kinh tế Việt Nam hiện nay.
Là một ngành công nghiệp nhẹ, ngành dệt may xuất khẩu đã đem lại cho
đất nước những nguồn thặng dư đáng kể. Do vậy việc tăng cường xuất khẩu
hàng dệt may là rất cần thiết, phù hợp với xu thế phát triển chung của thế
giới và yêu cầu của hoạt động xuất khẩu trong nước.
- Ngành dệt may góp phần đảm bảo nhu cầu tiêu dùng của nhân dân,
giải quyết một số lượng lớn công ăn việc làm. ở Việt Nam hiện nay, nhu cầu
về may mặc đang ngày càng được nâng cao, từ ăn chắc mặc bền đang
chuyển dần sang ăn ngon mặc đẹp hợp thời trang và hiện đại. Do vậy việc
phát triển ngành dệt may đang là một trong những ngành có triển vọng mang
lại hiệu quả cao. Mặt khác ngành dệt may cũng thu hút được một lượng
nhân công lớn, tạo việc làm, tạo phúc lợi cho xã hội.
trong khuôn khổ WTO.
Đối với hàng may mặc của Việt Nam, việc đáp ứng thị hiếu người Châu
Khoa: Quản trị kinh doanh
12
Âu là đẹp nhưng phải rẻ. Đây là cả một vấn đề lớn. Nếu như Mỹ là một thị
trường đa chủng khổng lồ dễ dàng du nhập các kiểu mốt thậm chí trái ngược
nhau thì EU lại được coi là một thị trường khá kỹ tính và chọn lọc đối với
hàng may mặc. “Miếng bánh” của thị phần xuất khẩu hàng dệt may Việt
Nam vào thị trường EU có tăng được hàng năm hay không là cả một vấn đề
lớn về việc đổi mới công nghệ và quá trình hội nhập vào ngành công nghiệp
thời trang thế giới.
b. EU: trung tâm kinh tế hùng mạnh, có vai trò lớn trong nền kinh tế
thế giới.
Liên minh Châu Âu EU bao gồm 15 quốc gia (Anh, Pháp, Đức, Hà Lan,
Italia, Thuỵ Điển, Bỉ...) với tốc độ tăng trưởng rất mạnh so với thế giới. EU
không chỉ lớn mạnh về quy mô mà còn vững mạnh về cơ cấu, tăng trưởng
ổn định nắm giữ đồng tiền mạnh EURO có khả năng chuyển đổi trên toàn
thế giới. EU không chỉ có nguồn nhân lực có trình độ cao, lành nghề còn có
thị trường nội địa với sức mua lớn. Các chính sách của EU đều được đưa ra
sao cho phù hợp và thuận lợi cho các nước thành viên cùng có lợi, góp phần
phát triển chung nền kinh tế thế giới.
Do vậy khi chúng ta thiết lập mối quan hệ thương mại Việt Nam –EU,
Việt Nam càng có điều kiện đẩy mạnh xuất khẩu, trao đổi hàng hoá với
nước ngoài, đặc biệt là hàng dệt may vào thị trường tiềm năng EU. Hàng dệt
may Việt Nam có những cơ hội phát triển cao hơn cả về số lượng và chất
lượng khi xuất khẩu sang thị trường này.
c. EU: nền ngoại thương phát triển thứ hai thế giới
Chỉ thua kém sau Mỹ với một tỷ lệ rất nhỏ, EU hàng năm xuất khẩu
một lượng lớn hàng hoá từ khắp thế giới cũng từ đó EU nhập khẩu một
lượng hàng hoá không nhỏ trong đó có hàng dệt may chiếm tỷ lệ cao.
14
Hai năm gần đây, tốc độ tăng trưởng hàng dệt may xuất khẩu đã chững
lại. Điều này đòi hỏi cần phải có sự phân tích và điều chỉnh hợp lý trong thời
gian tới để ngành dệt may đứng vững trong điều kiện cạnh tranh ngày càng
khốc liệt. Mặc dù hàng dệt may của Việt Nam là một mặt hàng xuất khẩu
trọng yếu nhưng so với các nước trong khu vực và với tiềm năng của nó thì
kim ngạch đạt được còn khiêm tốn. Năm 1994, riêng Trung Quốc đã xuất
khẩu được 15 tỷ USD hàng dệt may, Ấn Độ là 5,9 tỷ USD và Thái Lan là
4,2 tỷ USD.
Thị trưòng xuất khẩu hàng dệt may có hạn ngạch chủ yếu của Việt
Nam là các nước thuộc khối EU. EU được coi là thị trường xuất khẩu trọng
điểm của nước ta và đang được tập trung khai thác có hiệu quả các tiềm
năng của thị trường này. Hàng năm EU nhập khẩu trên 63 tỷ USD quần áo
các loại và trong đó chỉ khoảng 10-15% là tiêu dùng còn lại 85-90% là sử
dụng theo mốt. Từ năm 1980, Việt Nam đã xuất khẩu hàng dệt may sang
một số nước EU như Đức, Pháp... nhưng do thay đổi về chính trị thế giới
nên quan hệ buôn bán đã bị hạn chế. Từ năm 1991, xuất khẩu hàng dệt may
sang EU đã có những bước tiến mới, đặc biệt phát triển mạnh từ sau Hiệp
định buôn bán hàng dệt may giữa Việt Nam và EU ký kết ngày 15/12/1992
và có hiệu lực từ ngay 1/1/1993 với tốc độ tăng trưởng bình quân hàng năm
là 23% trong thời kỳ 1993-1997. Theo H
iệp định mới, Việt Nam còn được tự do chuyển đổi Quota giưa các mặt
hàng một cách rộng rãi và dễ dàng hơn, đồng thời EU cũng dành cho phía
Việt Nam quy chế tối huệ quốc (MFN), nhiều mặt hàng của Việt Nam xuất
khẩu vào EU đựoc hưởng thuế quan với mức 0% theo chế độ ưu đãi phổ cập
( GSP).
Kim ngạch xuất khẩu hàng dệt may sang EU
Đơn vị: triệu USD
Khoa: Quản trị kinh doanh
15