Giải pháp nâng cao năng lực cạnh tranh của công ty cổ phần bóng đèn và phích nước Rạng Đông - Pdf 11


MỤC LỤC
DANH MỤC BẢNG BIỂU, ĐỒ THỊ
1. Bảng 1.1: Tổng hợp “12 trụ cột” cho năng lực cạnh tranh quốc gia của Việt
2. Đồ thị 1.1: Thang điểm các yếu tố phản ánh năng lực cạnh tranh của Việt
3. Bảng 2.1: Kết quả sản xuất kinh doanh năm 2007.
4. Bảng 2.2: Kết quả sản xuất kinh doanh năm 2008.
5. Bảng 2.3: Doanh thu bán hàng, thị phần tương đối của Rạng Đông và
Điện Quang.
6. Bảng 2.4: Lợi nhuận sau thuế của Rạng Đông và Điện Quang.
7. Bảng 2.5: Tỷ suất lợi nhuận của Rạng Đông và Điện Quang.
8. Bảng 2.6: Sản lượng sản phẩm công ty qua các năm.
9. Bảng 2.7: Sản lượng công ty Rạng Đông và Điện Quang.
10. Bảng 2.8: Giá sản phẩm của Rạng Đông và các đối thủ trên thị trường.
11. Bảng 3.1: Trị giá gói cứu trợ ở các nước trên thế giới.
12. Bảng 3.2: Tốc độ đô thị hoá các nước trên thế giới.
SVTH: Phạm Văn Lực GVHD:TS.Nguyễn Thị Kim Dung

Lời nói đầu
Cạnh tranh là một trong những vấn đề lớn đối với mỗi quốc gia, doanh
nghiệp trên thế giới, nhất là trong giai đoạn quốc tế hoá, toàn cầu hoá hiện
nay. Các quốc gia cũng như doanh nghiệp trong mỗi quốc gia đều phải chấp
nhận cạnh tranh với các đối thủ khác để giành những lợi ích cho mình.
Trong nền kinh tế thị trường, cạnh tranh có vai trò cực lỳ quan trọng
đối với sự tồn tại và phát triển của mỗi doanh nghiệp, muốn giành chiến thắng
trong cạnh tranh doanh nghiệp phải có năng lực cạnh tranh đủ mạnh so với
các đối thủ trong ngành. Muốn được như vậy, mỗi doanh nghiệp phải tự đề ra
những chiến lược cụ thể cho doanh nghiệp của mình.
Rạng Đông là một doanh nghiệp được thành lập trong giai đoạn những
năm 60 của thế kỷ trước với mục tiêu cùng với những doanh nghiệp khác xây
dựng một nền công nghiệp vững mạnh phục vụ cho sự nghiệp xây dựng và

1.1.1.Khái niệm cạnh tranh.
Cạnh tranh là một thuật ngữ phổ biến trong mọi lĩnh vực của đời sống xã
hội, đó là hành động ghanh đua, đấu tranh chống lại các cá nhân hay nhóm,
các loài vì mục đích giành sự tồn tại, sống còn, lợi nhuận, địa vị, sự kiêu
hãnh, hay các phần thưởng khác.
Trong lĩnh vực kinh tế, cạnh tranh xuất hiện khi tiền tệ ra đời, đặc biệt
trong thời kỳ nền sản xuất hàng hoá của chế độ Tư bản chủ nghĩa phát
triển mạnh.
Cùng với thời gian cũng như theo các cách tiếp cận khác nhau, có nhiều
quan điểm khác nhau về cạnh tranh.
Theo K.Mark, “Cạnh tranh là sự ganh đua, đấu tranh gay gắt của các nhà
Tư bản nhằm tìm kiếm lợi nhuận siêu ngạch, cạnh tranh là quy luật điều chỉnh
tỷ suất lợi nhuận, các nhà Tư bản luôn cạnh tranh với nhau và tìm đến nơi nào
có tỷ suất lợi nhuận cao hơn, qua đó hình thành nên hệ thống giá cả thị
trường”.
Theo Kinh tế chính trị học, “Cạnh tranh là sự thôn tính lẫn nhau giữa các
đối thủ nhằm giành giật thị trường, khách hàng cho doanh nghiệp của mình”.
Theo quan điểm Marketing, “Cạnh tranh là việc đưa ra những chiến thuật,
chiến lược phù hợp với tiềm lực của doanh nghiệp, xử lý tốt các chiến lược,
chiến thuật của đối thủ, giành được lợi thế trong kinh doanh hàng hóa và dịch
vụ nhằm tối đa hoá lợi nhuận”.
Dù hiểu theo cách tiếp cận nào đi chăng nữa, bản chất của cạnh tranh
vẫn là sự ganh đua của các chủ thể với nhau nhằm mang lại lợi ích cho chủ
SVTH: Phạm Văn Lực GVHD:TS.Nguyễn Thị Kim Dung

thể. Đối với các doanh nghiệp thì cạnh tranh là hoạt động nhằm đối phó lại
với các đối thủ khác trên thị trường, với mục đích chiếm lĩnh thị phần, nâng
cao vị thế của doanh nghiệp nhằm mục đích cao nhất là lợi nhuận.
Hiện nay, khi tình hình kinh tế thế giới có nhiều chuyển biến, người ta
hiểu cạnh tranh không đơn thuần chỉ là cuộc chiến giữa các đối thủ nhằm

Cạnh tranh giúp loại bỏ những những doanh nghiệp làm ăn thua lỗ,
không có khả năng ra khỏi thị trường, tạo điều kiện thuân lợi hơn cho các
doanh nghiệp còn lại của nền kinh tếcó điều kiện thuân lợi hơn để phát triển.
Cạnh tranh giúp nâng cao sức đề kháng của nền kinh tế, giúp đất nước
phát triển đi lên, không tụt lại sau so với sự phát triển chung của kinh tế thế giới.
1.1.2.2. Đối với doanh nghiệp.
Cạnh tranh giúp doanh nghiệp nhận thức rõ vị trí hiện tại của mình trên
thị trường, từ đó doanh nghiệp buộc phải có những đối sách nhằm nâng cao vị
thế của mình.
Trong cơ chế thị trường, doanh nghiệp không còn nhận được sự bảo hộ
của Nhà nước, để tồn tại và phát triển, doanh nghiệp buộc phải tự cứu lấy
chính mình trước sự cạnh tranh của các đối thủ khác trong việc giành giật và
đáp ứng nhu cầu khách hàng.
Bất kỳ một doanh nghiệp tồn tại trong một phân đoạn thị trường nào
đều muốn mình là người chiếm lĩnh các lợi thế của thị trường đó, nhằm thu
lợi nhuận tối đa. Để đạt được mục đích đó, doanh nghiệp buộc phải làm tốt
nhất việc phục vụ nhu cầu của khách hàng. Đó là động lực để doanh nghiệp
không ngừng cải tiến công nghệ sản xuất sản phẩm, năng động, linh hoạt hơn
trong việc tìm ra các tính năng mới cũng như các sản phẩm mới. Doanh
SVTH: Phạm Văn Lực GVHD:TS.Nguyễn Thị Kim Dung

nghiệp phải tìm cách tối thiểu hoá chi phí sản xuất, hoàn thiện hơn dịch vụ
bán hàng và sau bán hàng…
Vì thế cạnh tranh là động lực mang lại sự phát triển cho doanh nghiệp.
1.1.2.3. Đối với sản phẩm.
Thành công của doanh nghiệp trong cạnh tranh thể hiện một phần qua
các sản phẩm, dịch vụ mà doanh nghiệp tạo ra. Để giành chiến thắng trong
cạnh tranh, doanh nghiệp phải tạo ra các sản phẩm có chất lượng cao hơn, giá
thành thấp hơn, mẫu mã đa dạng hơn, phù hợp hơn với thị hiếu của người tiêu
dùng. Cạnh tranh của các doanh nghiệp trong ngành là động lực để tạo nên sự

trên các phương tiện thông tin đại chúng, bản chất của năng lực cạnh tranh là
khả năng hay những lợi thế so sánh mà chủ thể có được so với đối thủ của
mình để duy trì và nâng cao vị thế của mình so với các đối thủ.
Khi nghiên cứu về năng lực cạnh tranh, người ta thường chia thành 3
cấp độ là năng lực cạnh tranh của quốc gia, năng lực cạnh tranh của doanh
nghiệp, năng lực cạnh tranh của sản phẩm.
1.2.1. Năng lực cạnh tranh của quốc gia.
Theo quan điểm của diễn đàn kinh tế thế giới WEF(Wold Economic
Forum) thì “Năng lực cạnh tranh của một quốc gia là sức mạnh thể hiện trong
hiệu quả kinh tế vĩ mô, là năng lực một nền kinh tế đạt được và duy trì tăng
trưởng kinh tế bền vững, thu hút đầu tư, đảm bão ổn định kinh tế xã hôi, nâng
cao đời sống nhân dân”.
Theo quan điểm của Asian Development 2003, “Năng lực cạnh tranh
của quốc gia là khả năng cạnh tranh của một nước đế sản xuất các hàng hóa
dịch vụ, đáp ứng được thử thách của thị trường quốc tế đồng thời duy trì và
mở rộng thu nhập thực tế của người dân nước đó”.
SVTH: Phạm Văn Lực GVHD:TS.Nguyễn Thị Kim Dung

Để đánh giá năng lực cạnh tranh của quốc gia, thường dựa vào các tiêu
chí: Thể chế kinh tế, Cơ sở hạ tầng, Kinh tế vĩ mô, Hệ thống giáo dục và Y tế
phổ thông, Giáo dục đại học, Hiệu quả của cơ chế thị trường, Mức độ sẵn
sàng về công nghệ, Mức độ hài lòng doanh nghiệp, Mức độ sáng tạo.
Theo báo cáo của diễn đàn kinh tế thế giới WEF năm 2008 thì 10 nước
có năng lực canh tranh lớn nhất của thế giới bao gồm: Mỹ, Thụy Sỹ, Đan
Mạch, Thụy Điển, Singapo, Phần Lan, Đức, Hà Lan, Nhật Bản, Canada. Cũng
theo đánh giá của diễn đàn này, năng lực cạnh tranh của Việt Nam giảm từ vị
trí 68 năm 2007 xuống vị trí 70.
Trong nhóm các yếu tố đánh giá thì nhóm các yếu tố căn bản của Việt
nam bị đánh giá thấp nhất.
Bảng1.1: Tổng hợp “12 trụ cột” cho năng lực cạnh tranh quốc gia của Việt Nam

biến rõ rệt trong việc cải thiện các thủ tục hành chính, giảm thời gian doanh
nghiệp phải chờ đợi hoàn thành thủ tục đăng ký kinh doanh, thủ tục gia nhập
thị trường, các văn bản pháp lý được công khai minh bạch hơn. Bên cạnh đó
vẫn còn tồn tại nhiều điểm đen ở các tỉnh nhóm cuối về các chỉ tiêu như đào
tạo lao động, thủ tục về hóa đơn giá trị gia tăng, vệ sinh an toàn thực phẩm,
phòng chống cháy nổ…
1.2.2. Năng lực cạnh tranh của Doanh nghiệp.
Năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp là khả năng doanh nghiệp sản
xuất và cung cấp sản phẩm, dịch vụ đáp ứng nhu cầu của người tiêu dùng với
chi phí thấp hơn, chất lượng sản phẩm tốt hơn các đối thủ khác trên thị
trường.
Một doanh nghiệp có năng lực cạnh tranh tốt là doanh nghiệp có khả
năng tạo ra và duy trì vị thế của mình trên thị trường một cách vững chắc ở
hiện tại lẫn tương lai.
Năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp được đánh giá thông qua các chỉ
tiêu nội tại của doanh nghiệp như vốn, lao động, công nghệ, quản lý, chất
lượng sản phẩm, hệ thống phân phối…
Một đất nước có năng lực cạnh tranh tốt đòi hỏi các doanh nghiệp trong
đó phải có năng lực cạnh tranh tốt.
SVTH: Phạm Văn Lực GVHD:TS.Nguyễn Thị Kim Dung

Theo đánh giá của WEF thì năng lực cạnh tranh của các doanh nghiệp
Việt Nam được xếp hạng ở mức thấp 79/120. Do các doanh nghiệp Việt Nam
mới chỉ chú trọng công tác sản xuất sản xuất sản phẩm mà chưa chú ý nhiều
đến các hoạt động tạo giá trị gia tăng cao như R&D(nghiên cứu và triển khai),
P&M( xúc tiến và tiếp thị).
Các cấp độ cạnh tranh có mối quan hệ khăng khít với nhau, theo đó,
cấp độ cạnh tranh thấp sẽ góp phần tạo nên năng lực cạnh tranh cho cấp cao
hơn và ngược lại. Một doanh nghiệp sẽ có được năng lực cạnh tranh tốt so với
các đối thủ của mình khi sản phẩm của họ có khả năng cạnh tranh với các sản

1.3.1. Đánh giá theo thị phần sản phẩm.
Thị phần (Market Share) là phần thị trường tiêu thụ sản phẩm mà
doanh nghiệp chiếm lĩnh.

Si =
Trong đó: Si: Thị phần của công ty trên thị trường.
Qi: Doanh số bán hàng của doanh nghiệp.
∑Qi: Tổng doanh số của cả thị trường.
Hay
Sj=
Trong đó: Sj: Thị phần của doanh nghiệp trên thị trường
Qj: Số sản phẩm bán ra của doanh nghiệp
∑Qj: Tổng sản phẩm tiêu thụ của thị trường.
Thị phần thể hiện rõ phần sản phẩm tiêu thụ của riêng doanh nghiệp so với
tổng sản phẩm tiêu thụ trên thị trường.
SVTH: Phạm Văn Lực GVHD:TS.Nguyễn Thị Kim Dung

Ngoài ra, khi xem xét thị phần, người ta cũng thường sử dụng thị phần
tương đối ( Relative Market Share).
Sx=
Trong đó: Sx: Thị phần tương đối của doanh nghiệp trên thị trường.
Mx: Phần doanh số của doanh nghiệp.
∑Mx: Phần doanh số của đối thủ cạnh tranh.
Hay
Sy=
Trong đó: Sy: Thị phần tương đối của doanh nghiệp trên thị trường
My: Số sản phẩm bán ra của doanh nghiệp.
∑My: Số sản phẩm bán ra của đối thủ cạnh tranh.
Nếu thị phần tương đối lớn hơn 1 thì lợi thế cạnh tranh thuộc về doanh
nghiệp.

Lợi nhuận là số tiền mà doanh nghiệp thu được sau hoạt động đầu tư
sau khi đã trừ đi các chi phí. Một doanh nghiệp có khả năng cạnh tranh trên
thị trường sẽ có cơ hội đạt được mức lợi nhuận cao nhờ việc bán được nhiều
hàng hoá, dịch vụ cũng như khả năng giảm chi phí sản xuất.
Khi xem xét tỷ suất lợi nhuận thường đề cập đến 3 chỉ tiêu:
Tỷ suất lợi nhuận so với doanh thu = .
Thể hiện lợi nhuận đạt được trên một đồng doanh thu.
Tỷ suất lợi nhuận so với vốn chủ sở hữu ROE:
ROE=
SVTH: Phạm Văn Lực GVHD:TS.Nguyễn Thị Kim Dung

Thể hiện lợi nhuận đạt được trên một đồng vốn.
Tỷ suất lợi nhuận so với tài sản ROA:
ROA =
Thể hiện lợi nhuận đạt được trên tổng tài sản doanh nghiệp.
Doanh nghiệp có năng lực cạnh tranh so với đối thủ thể hiện qua chỉ số
tỷ suất lợi nhuận lớn hơn.
1.3.4. Đánh giá theo sản lượng sản phẩm
Sản lượng sản phẩm là số sản phẩm, dịch vụ được sản xuất ra trong một
thời kỳ nhất định, thường tính theo năm.
Sản lượng sản phẩm thể hiện năng lực sản xuất cũng như quy mô của doanh
nghiệp. Doanh nghiệp có năng lực cạnh tranh lớn là doanh nghiệp có khả
năng sản xuất ra số lượng sản phẩm lớn, đủ sức cung ứng cho thị trường.
1.3.5. Đánh giá theo chủng loại sản phẩm.
Chủng loại sản phẩm thể hiện quy mô sản xuất cũng như chiến lược
cạnh tranh của doanh nghiệp trên thị trường. Sự đa dạng hoá của chủng loại
sản phẩm giúp cho doanh nghiệp phân tán được rủi ro cũng như mở rộng hơn
thị trường tiêu thụ sản phẩm.
Một doanh nghiệp có khả năng sản xuất ra nhiều loại sản phẩm sẽ tăng
khả năng cạnh tranh của doanh nghiệp trên thị trường, nhờ khả năng đáp ứng

kỳ doanh nghiệp nào tham gia vào thị trường đều phải chấp nhận quy luật
này. Theo quy luật này, doanh nghiệp muốn tồn tại, phát triển phải đối phó lại
các đối thủ khác trên thị trường. Trong cạnh tranh luôn có người yếu, kẻ
mạnh, kẻ thắng người thua, muốn giành chiến thắng trong cuộc chiến này, đòi
hỏi doanh nghiệp phải nâng cao năng lực cạnh tranh của mình.
2.2. Nâng cao năng lực cạnh tranh là cần thiết để doanh nghiệp và nền kinh
tế tham gia vào hội nhập kinh tế khu vực và thế giới.
SVTH: Phạm Văn Lực GVHD:TS.Nguyễn Thị Kim Dung

Trong xu thế quốc tế hoá, toàn cầu hóa của kinh tế thế giới cạnh tranh
là một tất yếu, một doanh nghiệp không chỉ phải cạnh tranh với các doanh
nghiệp trong nước mà còn phải cạnh tranh với các đối thủ khác đến từ các
nước khác trên thế giới. Việt Nam đã là thành viên chính thức của Tổ chức
thương mại thế giới WTO, cơ hội để hàng hóa Việt Nam xâm nhập sâu rộng
vào thị trường thế giới trở nên dễ dàng hơn, bên cạnh đó, doanh nghiệp trong
nước cũng phải đối mặt với những khó khăn đến từ các doanh nghiệp nước
ngoài. Nâng cao năng lực cạnh tranh không chỉ giúp doanh nghiệp giành
chiến thắng trong thị trường nội địa mà còn giúp doanh nghiệp vươn ra thị
trường thế giới. Đó là một thị trường tiềm năng, với sức tiêu thụ hàng hoá đa dạng.
2.3. Nâng cao năng lực cạnh tranh để đáp ứng nhu cầu người tiêu dùng.
Ngày nay khi cuộc sống của đại bộ phận người tiêu dùng được cải
thiện, nhu cầu của họ không chỉ là sự tăng lên về số lượng sản phẩm mà còn
là chất lượng, mẫu mã của sản phẩm mà họ tiêu dùng. Để thoã mãn tốt nhất
nhu cầu của khách hàng, doanh nghiệp phải nỗ lực phấn đấu để nâng cao khả
năng đáp ứng nhu cầu của mình.
3. Nhân tố tác động đến năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp.
3.1. Môi trường vĩ mô:
3.1.1. Môi trường kinh tế:
3.1.1.1. Tăng trưởng kinh tế.
Tăng trưởng kinh tế là sự gia tăng sản lượng hay thu nhập của đất nước

3.1.1.3. Chu kỳ kỳ sống của ngành.
Bất kỳ một ngành nào cũng đều trải qua các giai đoạn khác nhau, hình
thành, tăng trưởng, bão hoà và suy giảm.
Trong mỗi giai đoạn khác nhau, sẽ ảnh hưởng khác nhau đến năng lực
cạnh tranh của doanh nghiệp, chúng có thể mang lại cơ hội cũng như đe doạ
SVTH: Phạm Văn Lực GVHD:TS.Nguyễn Thị Kim Dung

cho sự phát triển của mỗi doanh nghiệp trong ngành. Vì thế mỗi doanh nghiệp
phải có chiến lựơc để đối phó lại những khó khăn cũng như tận dụng cơ hội
xuất hiện trong từng giai đoạn của chu kỳ.
3.1.1.4. Lãi suất.
Một doanh nghiệp hoạt động không thể không cần đến nguồn vốn vay
từ ngân hàng. Nguồn vốn vay sẽ làm tăng khả năng sinh lời của nguồn vốn
chủ sở hữu. Khi lãi suất tăng, doanh nghiệp sẽ khó khăn hơn trong việc tiếp
cận nguồn vốn vay từ ngân hàng do chi phí sử dụng vốn vay lớn và ngược lại.
Mặt khác lãi suất cũng ảnh hướng đến mức cầu tiêu dùng do có bộ phận
người tiêu dùng thường xuyên vay tiền để thanh toán các khoản chi tiêu cá nhân.
3.1.1.5. Tỷ giá hối đoái.
Tỷ giá hối đoái là sự so sánh về giá trị đồng tiền trong nước với đồng
tiền của quốc giá khác. Sự thay đổi của tỷ giá hối đoái ảnh hưởng lớn đến các
doanh nghiệp mà đặc biệt là các doanh nghiệp có hoạt động xuất nhập khẩu.
Khi tỷ giá VND/USD tăng lên, tức là đồng nội tệ mất giá, hàng hoá trong
nước sẽ rẻ tương hơn, hàng nước ngoài sẽ đắt hơn, vì thế kích thích hoạt động
xuất khẩu nhưng lại ảnh hưởng xấu đến nhập khẩu hàng hoá, dịch vụ. Ngược
lại, khi nội tệ lên giá, tỷ số VND/USD giảm xuống, hàng hoá sản xuất trong
nước sẽ trở nên đắt hơn, sức cạnh tranh về gía giảm xuống và hàng hoá nhập
khẩu rẻ hơn, hạn chế xuất khẩu, kích thích tăng nhập khẩu.
SVTH: Phạm Văn Lực GVHD:TS.Nguyễn Thị Kim Dung

3.1.2. Môi trường chính trị, pháp luật..

Công nghệ phát triển, giúp doanh nghiệp có đựơc những sản phẩm có
chất lượng tốt hơn, mẫu mã đẹp hơn, chủng loại sản phẩm phong phú hơn và
gía thành sản phẩm nhỏ hơn trước. Đó là những yếu tố quan trọng giúp nâng
cao năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp trên thị trường.
Sự phát triển của công nghệ vừa là một cơ hội nhưng cũng là một nguy
cơ, công nghệ phát triển nhanh làm cho các sản phẩm trở nên lạc hậu, chu kỳ
sống của nó bị giảm ngắn lại.
3.1.6. Tình hình kinh tế thế giới.
Mỗi doanh nghiệp là một cá thể của nền kinh tế quốc dân, mỗi nền kinh
tế là một bộ phần cấu thành nền kinh tế thế giới. Vì thế tình hình kinh tế thế
giới sẽ ảnh hưởng lớn đến hoạt động của mỗi doanh nghiệp. Khi kinh tế thế
giới ở trong giai đoạn phát triển mạnh, đó sẽ là tiền đề cho các doanh nghiệp
trong nước phát triển.
3.2. Mô hình 5 áp lực canh tranh:
Bất kỳ một doanh nghiệp nào trong thị trường cũng chịu tác động của 5
đối tượng.
3.2.1. Nhà cung ứng.
Đây là đối tượng cung cấp đầu vào đảm bảo cho hoạt động của doanh
nghiệp được tiến hành liên tục như nguyên vật liệu, trang thiết bị, lao động vì
thế nhà cung ứng góp phần cải thiện năng lực cạnh tranh cho doanh nghiêp.
Tuy nhiên, trong nhiều trường hợp, nhà cung ứng gây khó khăn cho doanh
nghiệp thông qua việc đòi tăng giá, giảm chất lượng của các yếu tố đầu vào
của quá trình sản xuất hoặc tiến hành cung ứng cho doanh nghiệp canh tranh
trong ngành.
Sức ép từ phía nhà cung cấp phụ thuộc vào:
SVTH: Phạm Văn Lực GVHD:TS.Nguyễn Thị Kim Dung

 Mức độ tập trung của nhà cung cấp.
 Sự khác biệt hoá của sản phẩm nhà cung cấp.
 Khả năng hội nhập dọc xuôi chiều của doanh nghiệp.

người tiêu dùng có xu hướng tiêu dùng sản phẩm thay thế.
Sự xuất hiện của sản phẩm thay thế vừa là động lực để doanh nghiệp
cải tiến, nâng cao chất lượng cũng như hạ giá thành sản xuất, nhưng cũng là
một nguy cơ đe doạ đến sự phát triển của doanh nghiệp.
Sức ép từ phía sản phâm thay thế phụ thuộc vào:
 Số lượng các sản phẩm thay thế: Số lượng sản phẩm thay thế nhiều
thì sức ép càng lớn và ngược lại.
 Giá cả của sản phẩm thay thế: Nếu giá sản phẩm thay thế thấp thì
sức ép lớn.
 Chất lượng sản phẩm thay thế: Chất lượng sản phẩm thay thế cao
thì sức ép lên doanh nghiệp lớn.
3.2.4. Đối thủ hiện tại trong nội bộ ngành.
Đây là đối thủ cạnh tranh trực tiếp ở thời điểm hiện tại của doanh nghiệp.
Sức ép của đối thủ tiềm ẩn phụ thuộc vào:
 Xu hướng nhu cầu thị trường của ngành: Nếu xu hướng này tăng
lên cao thì cường độ cạnh tranh giữa các công ty trong ngành giảm
và ngựơc lại.
 Cấu trúc ngành hay mức độ tập trung của ngành: Thể hiện qua số
lượng, quy mô của các doanh nghiệp trong ngành. Nếu ngành tập
trung( gồm ít doanh nghiệp quy mô lớn liên kết với nhau) thì cạnh
tranh giữa các doanh nghiệp trong ngành là nhỏ, ngược lại ngành
SVTH: Phạm Văn Lực GVHD:TS.Nguyễn Thị Kim Dung

phân tán ( gồm nhiều doanh nghiệp quy mô vừa và nhỏ liên kết với
nhau), sự gia nhập ngành dễ dàng thì cạnh tranh là rất lớn.
 Rào cản rút lui khỏi ngành: Đó là chi phí mà doanh nghiệp phải bỏ
ra khi rút lui khỏi ngành như máy móc, hợp đồng, lao động…Nếu
rào cản này lớn, doanh nghiệp khó rút ra khỏi ngành thì cạnh tranh
giữa các đối thủ lớn và ngược lại.
3.2.5. Đối thủ tiềm ẩn.


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status