Công tác tạo động lực trong Công ty Cổ phần Bóng đèn và Phích nước Rạng Đông: Thực trạng và Giải pháp - Pdf 11

Lời nói đầu
Nền kinh tế Việt Nam đang đổi mới từng ngày cùng với xu hướng hội nhập
hóa kinh tế quốc tế và khu vực. Bài toán đặt ra cho không ít các nhà lãnh đạo là
duy trì và phát triển tổ chức của họ, đưa doanh nghiệp mình từng bước phát triển
để đủ sức cạnh tranh với thị trường không chỉ trong nước mà còn trên toàn thế giới.
Để làm được điều đó, ngoài vấn đề đưa ra các biện pháp chiến lược phát triển kinh
tế phù hợp với doanh nghiệp của mình, các nhà lãnh đạo cần phải quan tâm và vận
dụng kịp thời công tác tạo động lực vật chất và tinh thần trong lao động. Bởi nếu
làm tốt công tác này sẽ phát huy cao độ trí tuệ và tinh thần lao động, sáng tạo trong
sản xuất, góp phần tăng năng suất lao động, gắn thu nhập của người lao động với
hiệu quả sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp.
Do đó việc tạo động lực trong lao động luôn là vấn đề bức xúc đối với các
nhà quản lý trong doanh nghiệp.
Trong quá trình thực tập tại Công ty Cổ phần Bóng đèn và Phích nước Rạng
Đông, do nhận thức được tầm quan trọng của vấn đề này đối với sự phát triển của
Công ty nên em đã chọn đề tài: “ Công tác tạo động lực trong Công ty Cổ phần
Bóng đèn và Phích nước Rạng Đông: Thực trạng và Giải pháp ”
Nội dung của báo cáo thực tập nghiệp vụ chia thành 2 phần:
Phần 1: Thực trạng công tác tạo động lực lao động ở Công ty Cổ phần Bóng
đèn và Phích nước Rạng Đông.
Phần 2: Những giải pháp nhằm hoàn thiện công tác tạo động lực lao động
cho người lao động trong Công ty Cổ phần Bóng đèn và Phích nước Rạng Đông.
Do kiến thức còn nhiều hạn chế, bước đầu tiếp cận với công việc nên bài báo
cáo không tránh khỏi các thiếu sót. Em rất mong nhận được ý kiến đóng góp, bổ
sung của PGS-TS Nguyễn Ngọc Quân cùng các cô, chú, anh, chị trong phòng Kế
hoạch Điều hành sản xuất - Công ty Cổ phần Bóng đèn và Phích nước Rạng Đông
để bài viết của em được hoàn thiện hơn.
PHẦN 1: THỰC TRẠNG CÔNG TÁC TẠO ĐỘNG LỰC LAO ĐỘNG
TRONG CÔNG TY.
1. Giới thiệu khái quát về Công ty Cổ phần Bóng đèn và Phích nước Rạng
Đông

Thương
Sau khi trở thành công ty cổ phần, RALACO đã chính thức niêm yết trên
HOSE vào ngày 06/12/2006. Công ty có mã chứng khoán là RAL, với tổng số vốn
điều lệ hiện tại là 115 tỷ đồng.
Trong suốt quá trình xây dựng và trưởng thành tới nay, công ty đã trải qua 4
giai đoạn chính:
1.2.1. Giai đoạn từ năm 1990 – 1993: Đây là giai đoạn công ty tiến hành tổ
chức lại sản xuất, sắp xếp lại lao động. Đổi mới cơ chế điều hành quản
lý, cơ sở vật chất cũ được đưa vào khai thác tối đa.
Do cuối năm 1980, thế kỉ XX , chủ nghĩa xã hội khủng hoảng, Liên Xô tan rã,
nhiều nước Đông Âu mất ổn định, nhà máy gặp khó khăn trong nhập khẩu vật tư
cho sản xuất. Bên cạnh đó, biên giới phía Bắc mở cửa, sản phẩm nhà máy không
cạnh tranh được làn sóng hàng ngoại do công ty bóng đèn NARVA của Cộng hòa
dân chủ Đức tan rã đổi đèn NARVA lấy máy tính tràn vào Việt Nam. Cùng lúc do
bóng đèn Nga đổi hàng với Việt Nam theo nghị định 19/5, Nhà máy làm ăn thua
lỗ, sản phẩm tồn đọng không bán được, tài khoản tại ngân hàng bị phong tỏa, trên
1600 công nhân nghỉ việc 6 tháng. Đứng trước bờ vực phá sản, năm 1990 nhà máy
đã tiến hành tổ chức lại sản xuất, sắp xếp lại lao động, thực hiện hạch toán kế toán
nội bộ triệt để, tăng cường quyền chủ động các đơn vị và đổi mới cơ chế điều
hành. Việc tổ chức lại công ty, khai thác tiềm năng của cơ sở vật chất sẵn có đã tạo
ra một bước đột phá đầu tiên của thời kì đổi mới, khẳng định đường lối đúng đắn
của ban lãnh đạo công ty trong bước đường tương lai.
Năm 1991, công ty bắt đầu làm ăn có lãi, đến năm 1993 sản phẩm Rạng Đông
lần đầu được chọn trong “10 mặt hàng tiêu dùng Việt Nam được ưa thích nhất –
TOPTEN”
1.2.2. Giai đoạn 1994 – 1997: Trong giai đoạn này, nội lực của công ty được
phát huy và khai thác toàn hệ thống. Công ty cũng có được sự phát huy
theo chiều sâu, tạo tiền đề cho sự phát triển sau này.
Năm 1994 nhà máy được Chủ tịch nước quyết định trao tặng huân chương lao
động hạng nhất, đánh dấu thành tích phát triển của công ty trong giai đoạn đổi mới.

QUACERT và tổ chức AJA (Anh) chứng nhận đạt tiêu chuẩn
1.2.4. Giai đoạn 2003 đến nay: Giai đoạn hội nhập kinh tế quốc tế
Năm 2004 nền kinh tế thế giới và khu vực đã và đang ngày càng phát triển, xu
hướng toàn cầu hóa mở rộng, công ty đã xây dựng và triển khai nhóm các giải
pháp về đầ tư,phát triển sản phẩm mới đa dạng, nâng cao chất lượng sản phẩm, thị
trường và xuất khẩu, xây dựng và đào tạo đội ngũ, đảm bảo từng bước cổ phần hóa
để mở rộng quy mô công ty..
1/7/2004 Công ty có quyết định chính thức chuyển sang công ty cổ phần. Đây
là sự kiện đánh dấu sự phát triển ngày càng vững mạnh của công ty.
Năm 2006 Công ty nhận được nhiều phần thưởng tiêu biểu như:
+ Cúp vàng về thực hiện xuất sắc hệ thống quản lý chất lượng ISO tiên tiến do
Bộ Khoa Học và Công nghệ trao tặng.
+ Cúp vàng “Thương hiệu nổi tiếng Quốc gia” do VCCI trao tặng.
+ Cúp vàng “ Nhãn hiệu nổi tiếng Việt Nam” của Hội Sở Hữu Trí Tuệ Việt
Nam trao tặng.
Năm 2007, công ty được Chính phủ tặng cờ “ Đơn vị dẫn đầu thi đua 2007”.
+ Chủ tịch UBND Thành phố Hà Nội tặng “Cúp Thăng Long 2007”
+ Bằng “Doanh nghiệp Việt Nam ứng dụng khoa học công nghệ thành công”.
+ Đèn huỳnh quang compact đạt Cúp vàng 50 sản phẩm Việt hợp chuẩn WTO
về sở hữu trí tuệ.
+ Đèn huỳnh quang và chấn lưu sắt từ là sản phẩm công nghiệp đầu tiên ở Việt
Nam được Bộ Công thương trao quyết định công nhận : “Sản phẩm đạt tiêu chuẩn
tiết kiệm năng lượng thắng lợi năm 2007 nối tiếp truyền thống 18 năm đổi mới
bằng nội lực, Rạng Đông liên tục tăng trưởng, ổn định với tốc độ cao , có chất
lượng, hiệu quả và bền vững”
+ Được bầu chọn là trong 100 doanh nghiệp hàng đầu Việt Nam về hàng
Việt Nam chất lượng cao.
Nằm trong bảng xếp hạng 500 - Doanh nghiệp lớn nhất Việt Nam 2007
Đến năm 2008, công ty dành được nhiều thành tích đáng kể:
+ Cúp Thăng Long 2008 do Uỷ ban nhân dân Thành phố Hà Nội trao

Nguồn: Phòng Tổ Chức Điều Hành Sản Xuất
• Bóng đèn tròn: Đây được xem là sản phẩm truyền thống của công ty với
công suất hiện tại 15 triệu sản phẩm / năm (chiếm 60% thị phần phích nước
trong cả nước). Loại bóng đèn này thích hợp sử dụng cho những nơi có
nguồn điện không ổn định, dùng trong trang trí mỹ thuật hay các nơi nuôi
trồng thủy hải sản. Tuy nhiên dùng loại đèn này tiêu tốn nhiều điện năng,
nó tỏa ra một nhiệt lượng khá lớn. Do vậy, sản phẩm bóng đèn tròn không
thích hợp trong thời điểm này. Việc sản xuất giảm 66,77% năm 2007 so với
năm 2008. Dự báo sản phẩm này tiếp tục giảm trong những năm tiếp theo.
• Bóng đèn huỳnh quang: Sản phẩm này gồm 2 dòng sản phẩm là huỳnh
quang T10 và T8. Các bóng đèn này có công suất là 25 triệu sản phẩm /
năm (chiếm 25% thị phần cả nước). Nó được sản xuất trên dây chuyền hiện
đại, đồng bộ và được đưa ra thị trường lần đầu tiên vào năm 2002. Loại đèn
huỳnh quang T8 đã được cải tiến hơn so với loại T10, vì nó giúp tiết kiệm
năng lượng, có độ chiếu sáng cao hơn và độ bền lâu hơn so với loại T10
trước đó. Ngoài 2 sản phẩm này công ty vẫn tiếp tục tiến hành nghiên cứu
sản xuất sản phẩm với tính năng ưu việt hơn. Năm 2008 sản phẩm này tăng
114,42% so với năm 2007. Đây là con số nói lên bước phát triển nhảy vọt
của sản phẩm này.
• Bóng đèn huỳnh quang Compact: Loại đèn này có tính năng vượt trội như
tiết kiệm năng lượng, có độ sáng gấp 5 lần và độ bền gấp 5 – 10 lần sản
phẩm bóng đèn tròn. Đặc biệt sản phẩm này thích hợp sử dụng cho những
nơi nguồn điện không ổn định. Sở dĩ có nhiều ưu điểm như vậy là do Rạng
Đông đã sử dụng dây chuyền sản xuất đồng bộ đầu tiên ở nước ta vào năm
2002 để cho ra đời loại sản phẩm này. Các khâu sản xuất ống đèn, lắp ráp
chấn lưu điện tử, sản xuất bầu nhựa, kiểm tra linh kiện… đều được thực
hiện đồng bộ. Kết quả là sản phẩm đèn huỳnh quang Compact Rạng Đông
đã được xác định là một sản phẩm chiến lược mũi nhọn của công ty. Năm
2008, đã xác định bước phát triển mạnh mẽ nhất của bóng đèn huỳnh quang
compact trong số những sản phẩm của nhóm nguồn sáng. Mức tăng đáng

xuất xưởng. Để nắm rõ hơn về quy trình sản xuất, ta hãy nghiên cứu sơ đồ quy
trình dây chuyền sản xuất sản phẩm dưới đây:
Sơ đồ 1: Quy trình dây chuyền sản xuất
SX đèn sợi đốt
SX đèn HQ
SX phích
Thổi vỏ BĐ
Vít miệng, rút
khí, gắn vào đầu
hàn thiếc
Kiểm tra
Nhập kho
Thổi ống HQ
Sấy khô
Tráng bột HQ
Sấy đầu ống
Lau đầu ống
Sấy thử keo
Vít miệng
Rút khí
Gắn đầu
Luyện nghiệm
Nhập kho
Thổi bình phích
Rửa bình trong
Lồng bình
Đệm amiăng
Vít miệng
Vít ruột phích
Cắt cổ b. ngoài

xuất theo dây chuyền có công nghệ lớn nhất nước ta. Trong chiến lược đầu
tư của công ty, toàn bộ dây chuyền sản xuất phích nước và lò thủy tinh
phích được di dời sang nhà máy ở Quế Võ. Sau hơn 1 năm đi vào hoạt
động, dây chuyền này đã đạt hiệu quả khá cao và do đó đã đáp ứng đầy đủ
lượng cầu trên thị trường đối với sản phẩm này.
+ Sản xuất bóng đèn tại công ty đã có nhiều bước tiến, trong đó có dây
chuyền sản xuất đèn huỳnh quang compact được xếp vào loại hiện đại hàng
đầu tại Đông Nam Á. Đây là dây chuyền đồng bộ, có công suất lớn và luôn
bám sát tiến bộ khoa học kỹ thuật của các nước phát triển trên thế giới.
Chẳng hạn như: dây chuyền sản xuất ống thủy tinh và vỏ bóng đèn công
nghệ mới, hiện đại của Nhật Bản. Hay như: “ Dây chuyền sản xuất đèn
huỳnh quang PLC”, với hệ thống điều khiển điện tử.
Bằng việc sử dụng những công nghệ này, công ty đã tiết kiệm rất nhiều chi phí
sản xuất nhưng cũng nâng cao được năng suất lao động. Từ đó giúp công ty tạo
khả năng cạnh tranh cao hơn trong sản xuất và tạo thuận lợi cho chiến lược mở
rộng sản xuất kinh doanh.
- Đặc điểm về bố trí mặt bằng nhà xưởng
Mặt bằng các phân xưởng ở công ty được bố trí hợp lý, các dây chuyền sản
xuất ở công ty được quy hoạch và bố trí gọn gàng thích hợp. Hệ thống cây xanh,
đường đi thoáng mát hợp cảnh quan của công ty.
Hầu hết các phân xưởng đều có máy điều hòa không khí nên các yếu tố vi
khí hậu như nhiệt độ, ánh sáng, độ ẩm đều đạt tiêu chuẩn cho phép. Những hệ
thống thông gió, xử lý bụi.. đều hoạt động tốt, có hiệu quả.
- Đặc điểm về an toàn lao động
100% công nhân có trang phục bảo hộ lao động theo đúng yêu cầu và được
cấp phát liên tục như: quần áo 1 năm 1 người/ 2 bộ, các phương tiện khác như:
kính, ủng, găng.. tùy theo công việc cụ thể.
1.3.3. Đặc điểm về cơ cấu tổ chức của Công ty cổ phần bóng đèn & phích
nước Rạng Đông
1.3.3.1. Sơ đồ bộ máy quản lý doanh nghiệp

PTG
Đ kỹ
thuật
Văn
phòng

N. bóng ống
N. bình phích
N. bán th phẩm
N. huỳnh quang
N. đèn tròn
N. ruột phích
N. phích
N. nhựa
N. lắp ráp
N. điện tử
Thiết bị chiếu sáng
N. ống
1.3.3.2. Chức năng nhiệm vụ từng bộ phận
Bộ máy tổ chức của RALCO có 9 phòng ban, 6 phân xưởng. Tất cả đều nằm
dưới sự quản lý điều hành của ban giám đốc, đứng đầu là vị Tổng giám đốc
(TGĐ). TGĐ là người đưa ra các quyết định về chính sách, mục tiêu, các kế hoạch
tài chính của công ty. Trợ giúp cho TGĐ là 3 phó TGĐ: Phó TGĐ phụ trách kỹ
thuật, Phó TGĐ điều hành sản xuất và Phó TGĐ kinh tế. Các phòng ban đều có
nhiệm vụ cụ thể nhưng luôn có mối quan hệ chặt chẽ với nhau.
Văn phòng giám đốc: Có chức năng tổng hợp tình hình sản xuất kinh doanh
và báo cáo lên TGĐ. Họ chịu trách nhiệm kiểm soát các tài liệu có nguồn gốc từ
bên ngoài công ty, thực hiện tổ chức công việc hành chính văn thư..
Phòng thống kê Kế toán tài chính: Có nhiệm vụ lập kế hoạch sử dụng và
quản lý nguồn tài chính. Họ cũng có chức năng phân tích các hoạt động kinh tế,

∗ Kể từ khi công ty trở thành công ty cổ phần, trong cơ cấ bộ máy quản lý có
thêm các thành phần như: Đại hội đồng quản trị, Ban Kiểm soát. Hoạt động
của họ do luật pháp và điều lệ của công ty quy định.
Đại hội đồng cổ đông: Họ là các cổ đông, có quyền biểu quyết và có thẩm
quyền cao nhất trong công ty. Đại hội cổ đông sẽ thông qua các báo cáo tài chíng
và ngân sách tài chính cho các năm.
Hội đồng quản trị: Đây là cơ quan quản lý công y, có toàn quyền nhân danh
công ty để quyết định mọi vấn đề ngoại trừ các vấn đề thuộc thẩm quyền của Đại
hội đồng cổ đông. Họ cũng có trách nhiệm giám sát TGĐ điều hành.
Ban kiểm soát: Ban này trực thuộc Đại hội đồng cổ đông, được họ bầu ra.
Nhiệm vụ chính của ban là kiểm tra tính hợp lý và hợp pháp của hoạt động điều
hành sản xuất kinh doanh, báo cáo tài chính của công ty. Chính do tính chất và
nhiệm vụ đặc biệt này, nên Ban Kiểm soát hoạt động độc lập với Hội đồng quản trị
và Ban tổng giám đốc.
Công ty áp dụng tổ chức quản lý theo hệ thống ISO 9001: 2000 làm nền tảng dể
tái cấu trúc về cơ cấu tổ chức, nguồn nhân lực, cơ chế quản lý, điều hành, quy định
các hoạt động quá trình trong công ty. Quán triệt và kiên quyết thực hiện theo 8
nguyên tắc của hệ thống quản lý ISO, gắn với ý thức chính trị sâu sắc thực hiện hai
chủ đề tư tưởng của Bác Hồ về : Lấy dân làm gốc, phát huy sức mạnh đại đoàn kết
toàn dân tộc và tư tưởng thi đua yêu nước, phấn đấu tiến bộ không ngừng.
1.3.4. Đặc điểm về lao động.
Con người là nhân tố quan trọng, quyết định trong mọi quá trình. Chính bởi
vậy, đặc điểm về đội ngũ lao động trong Ralaco đã có những ảnh hưởng nhất định
đến hoạt động của Công ty.
Do đặc thù là một doanh nghiệp sản xuất kinh doanh nên nguồn nhân lực của
công ty có thể chia thành 2 bộ phận:
- Bộ phận làm trong các phòng ban hành chính (hay còn gọi là đội ngũ cán
bộ). Yêu cầu với lực lượng này là phải tốt nghiệp các trường cao đẳng, đại
học. Và họ sẽ được Ban giám đốc, cùng các bộ phận liên quan xét tuyển.
- Bộ phận làm việc trong các phân xưởng, họ trực tiếp tham gia vào quá trình


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status