TRƯỜNG ĐẠI HỌC CẦN THƠ
KHOA KINH TẾ - QUẢN TRỊ KINH DOANH
BÀI TẬP NHÓM KINH TẾ PHÁT TRIỂN
TÌNH HÌNH THU HÚT ĐẦU TƯ TRỰC TIẾP
NƯỚC NGOÀI VÀO VIỆT NAM
Giảng viên hướng dẫn Nhóm 02 MSSV
Ts. Lê Tấn Nghiêm Phạm Thị Cẩm Hường 4105640
Lê Phương Toàn 4113954
Nguyễn Quốc Bình 4114734
Nguyễn Phước Lộc 4115210
Cần Thơ, 03/2013
MỤC LỤC
Thúc đẩy đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) vào Việt Nam
PHẦN GIỚI THIỆU 3
I. LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI 3
II. KHÁI QUÁT PHƯƠNG PHÁP TIẾN HÀNH ĐỀ TÀI 4
1. Mục tiêu nghiên cứu 4
2. Phạm vi nghiên cứu 4
PHẦN NỘI DUNG 5
I. TỔNG QUAN VỀ ĐẦU TƯ TRỰC TIẾP NƯỚC NGOÀI (FDI) 5
1. Khái niệm đầu tư trực tiếp nước ngoài 5
2. Đặc điểm chủ yếu của FDI 6
II. VAI TRÒ CỦA FDI ĐỐI VỚI PHÁT TRIỂN KINH TẾ 7
III. NHỮNG NHÂN TỐ THÚC ĐẨY ĐẦU TƯ TRỰC TIẾP NƯỚC NGOÀI 9
1. Chênh lệch về năng suất cận biên của vốn giữa các nước 9
2. Tiếp cận thị trường và giảm xung đột thương mại 10
3. Tiếp cận nguồn tài nguyên thiên nhiên 10
4. Các chính sách 10
5. Các nhân tố ảnh hưởng khác 11
IV. CÁC HÌNH THỨC CỦA FDI 11
GVHD: Ts. Lê Tấn Nghiêm Nhóm 2
2
Thúc đẩy đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) vào Việt Nam
I. KẾT LUẬN 20
TÀI LIỆU THAM KHẢO
PHẦN GIỚI THIỆU
I. LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI
Sự nghiệp đổi mới của Đảng ta trong thời gian qua đã đạt được những kết quả
bước đầu quan trọng. Việt Nam không những đã vượt qua được sự khủng hoảng
triền miên trong thập kỉ 80 mà còn đạt được những thành tựu to lớn trong phát
triển kinh tế xã hội. Tổng sản phẩm trong nước tăng bình quân ở các năm cao,
công nghiệp giữ nhịp độ tăng giá trị sản xuất bình quân hàng năm 13,5%, nông
nghiệp được phát triển toàn diện cả về trồng trọt và chăn nuôi, lạm phát được đẩy
lùi, đời sống đại bộ phận nhân dân được cải thiện cả về mặt vật chất lẫn tinh
thần.
Có được những thành tựu đáng ghi nhận trên, là nhờ phần đóng góp lớn của
đầu tư nước ngoài (FDI). FDI đã trở thành một phần rất quan trọng cho sự phát
triển kinh tế của một nước. Gian đoạn 1997-1999 do ảnh hưởng của cuộc khủng
hoảng tài chính châu Á cộng với mức độ cạnh tranh trong lĩnh vực thu hút vốn
đầu tư trực tiếp nước ngoài ở các nước như Hàn Quốc, Thái Lan, Indonesia,
Hồng Kông, Mã Lai… Đầu tư trực tiếp nước ngoài vào nước ta có phần giảm
thiểu cả về số lượng và chất lượng. Do đó đã ành hường không nhỏ đến việc phát
triển kinh tế xã hội.
Khi nước ta gia nhập tổ chức thương mại thế giới (WTO) thì nguồn vốn đầu
tư trực tiếp nước ngoài vào Việt Nam ngày càng nhiều. Đó là một cơ hội thuận
lợi cho sự phát triển kinh tế của nước ta. Nhưng cơ hội thì luôn kèm theo những
thách thức, cơ hội càng nhiều thách thức càng lớn, nếu chúng ta không tĩnh táo
thì dễ sa vào “lưới” của những nước khác.
GVHD: Ts. Lê Tấn Nghiêm Nhóm 2
3
PHẦN NỘI DUNG
I. TỔNG QUAN VỀ ĐẦU TƯ TRỰC TIẾP NƯỚC NGOÀI (FDI)
1. Khái niệm đầu tư trực tiếp nước ngoài
Trước tiên để hiểu về vốn đầu tư ta phải xác định xem vốn đầu tư là gì? Theo
cách hiểu chung thì vốn đầu tư ở đây được coi là một phạm trù kinh tế trong lĩnh
vực tài chính, nó gắn liền với quá trình sản xuất kinh doanh hàng hoá và trong
đầu tư xây dựng các công trình dự án và đây là yếu tố không thể thiếu trong tất
cả mọi hoạt động trên, nó có thể là bằng tiền như tiền mặt tiền gửi ngân hàng
hoặc có thể bằng hiện vật tài sản máy móc trang thiết bị, dây truyền công nghệ,
nhà xưởng, bến bãi. Nói chung ở đây là tất cả những gì phục vụ cho quá trình sản
xuất kinh doanh và xây dựng có liên quan tới tài chính.
Đầu tư là sự hi sinh các nguồn lực ở hiện tại để tiến hành các hoạt động
nào đó nhằm thu về cho nhà đầu tư (chủ đầu tư) các kết quả nhất định trong
tương lai lớn hơn các nguồn lực đã bỏ ra để đạt được kết quả đó.
Đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI: Foreign Direct Investment) là hình thức
đầu tư dài hạn của cá nhân hay công ty nước này vào nước khác bằng cách thiết
lập cơ sở sản xuất, kinh doanh. Cá nhân hay công ty nước ngoài đó sẽ nắm quyền
quản lí cơ sở sản xuất kinh doanh này.
Theo Tổ chức thương mại thế giới: Đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) xảy ra
khi một nhà đầu tư vào một nước (nước chủ đầu tư) có được một tài sản ở một
nước khác (nước thu hút đầu tư) cùng với quyền quản lí tài sản đó. Phương diện
quản lí là thứ để phân biệt FDI với các công cụ tài chính khác. Trong phần lớn
GVHD: Ts. Lê Tấn Nghiêm Nhóm 2
5
Thúc đẩy đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) vào Việt Nam
trường hợp, cả nhà đầu tư lẫn tài sản mà người đó quản lí ở nước ngoài là các cơ
sở kinh doanh. Trong những trường hợp đó, nhà đầu tư thường hay được gọi là
“công ty mẹ” và các tài sản được gọi là “công ty con” hay “chi nhánh công ty”.
Đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) là một loại hình thức di chuyển vốn quốc
tế. Trong đó, người chủ sở hữu vốn đồng thời là người trực tiếp quản lí và điều
khẩu của một nước. Mặt khác, các công ty nước ngoài được lựa chọn ngành và
địa điểm đầu tư cũng dựa trên cơ sở tăng khả năng cạnh tranh của sản phẩm trên
thị trường quốc tế.
FDI đang chuyển thành kênh quan trọng nhất của việc chuyển giao công
nghệ. Xu hướng hiện nay là FDI và chuyển giao công nghệ ngày càng gắn bó
chặt chẽ với nhau. Đây chính là hình thức có hiệu quả nhất của sự lưu chuyển
vốn và kĩ thuật trên phạm vi quốc tế.
II. VAI TRÒ CỦA FDI ĐỐI VỚI PHÁT TRIỂN KINH TẾ
Đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) là yêu cầu tất yếu của quá trình toàn cầu
hóa đang diễn ra ngày càng mạnh mẽ. Với những đặc điểm của mình, FDI đóng
vai trò quan trọng trong nền kinh tế đối với cả nước nhập khẩu đầu tư và nước
xuất khẩu đầu tư, thúc đẩy các nước này gia tăng liên kết, nhằm duy trì nhịp độ
tăng trưởng kinh tế của mình.
(1) Nguồn vốn FDI đã góp phần quan trọng trong tổng vốn đầu tư toàn xã hội để
thực hiện mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội của đất nước. Tỷ trọng FDI trong
tổng vốn đầu tư toàn xã hội giai đoạn 1991 - 2000 đạt trung bình 30%, đến giai
đoạn 2001 - 2005 là 16%, và giai đoạn 2006 - 2011 là khoảng 24,8%. Các doanh
nghiệp FDI cũng đóng góp khá ấn tượng vào GDP. Trong thời kỳ 2001 - 2005,
khối này đóng góp trung bình vào GDP là 14,5%, và tăng lên 20% trong năm
2010.
Biểu đồ 2: Tỷ trọng FDI trong tổng vốn đầu tư xã hội
(%)
Nguồn số liệu: Tổng cục Thống kê
GVHD: Ts. Lê Tấn Nghiêm Nhóm 2
7
Thúc đẩy đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) vào Việt Nam
(2) Doanh nghiệp FDI đã đóng góp đáng kể vào thu ngân sách và các cân đối vĩ
mô. Trong 5 năm 2006 - 2010, khối doanh nghiệp này đã nộp ngân sách hơn 10,5
tỷ USD, tăng bình quân trên 20%/năm. Trong năm 2011, con số này đạt 3,5 tỷ
USD (không kể thu từ dầu thô).
khu vực cũng như thế giới. Chính vì thế mà vốn FDI có ý nghĩa hết sức quan
trọng trong giai đoạn hiện nay, có một cơ chế chính sách phù hợp hơn nữa nhằm
thu hút nguồn vốn này trong tương lai là hết sức cần thiết.
III. NHỮNG NHÂN TỐ THÚC ĐẨY ĐẦU TƯ TRỰC TIẾP NƯỚC NGOÀI
1. Chênh lệch về năng suất cận biên của vốn giữa các nước
Helpmam và Sibert, Richard S.Eckaus cho rằng có sự khác nhau về năng
suất cận biên (số có thêm trong tổng số đầu ra mà một nhà sản xuất có được do
dùng thêm một đơn vị của yếu tố sản xuất) của vốn giữa các nước. Một nước
thừa vốn thường có năng suất cận biên thấp hơn và ngược lại. Tình trạng này sẽ
dẫn đến sự di chuyển nguồn vốn từ nơi dư thừa đến nơi khan hiếm nhằn tối đa
hóa lợi nhuận. Vì chi phí sản xuất của các nước sản xuất thường cao hơn các
nước thiếu vốn. Tuy nhiên như vậy không có nghĩa là tất cả những hoạt động nào
có năng suất cận biên cao mới được các doanh nghiệp đầu tư sản xuất mà cũng
GVHD: Ts. Lê Tấn Nghiêm Nhóm 2
9
Thúc đẩy đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) vào Việt Nam
có những hoạt động quan trọng, là sống còn của doanh nghiệp thì họ vẫn tự sản
xuất cho dù hoạt động đó cho năng suất cận biên thấp.
2. Tiếp cận thị trường và giảm xung đột thương mại
Đầu tư trực tiếp nước ngoài là một biện pháp để tránh xung đột song phương. Ví
dụ, Nhật Bản hay bị Mỹ và các nước Tây Âu hay phàn nàn do Nhật Bản có thặng
dư thương mại còn các nước kia bị thâm hụt thương mại trong quan hệ song
phương. Để đối phó, Nhật Bản đã tăng cường đầu tư trực tiếp nước ngoài vào các
nước đó. Họ sản xuất và bán ô tô, máy tính ngay tại Mỹ và Tây Âu, để giảm xuất
khẩu các sản phẩm này từ Nhật Bản sang. Nhật còn đầu tư trực tiếp nước ngoài
vào các nước thứ ba, và từ đó xuất khẩu sang thị trường Bắc Mỹ và Châu Âu.
3. Tiếp cận nguồn tài nguyên thiên nhiên
Để có nguồn nguyên liệu thô, nhiều công ty đa quốc gia tìm cách đầu tư vào
những nước có nguồn tài nguyên phong phú. Làn sóng đầu tư trực tiếp ra nước
ngoài lớn đầu tiên của Nhật Bản vào thập niên 1950 là vì mục đích này. FDI hiện
một khâu nào đó trong kết cấu hạ tầng (giao thông liên lạc, điện nước…) bị thiếu
hay bị yếu kém cũng ảnh hưởng và làm giảm sự hấp dẫn của các nhà đầu tư.
IV. CÁC HÌNH THỨC CỦA FDI
1. Hợp đồng hợp tác kinh doanh
Đây là hình thức đầu tư được nhà nước ta cho phép theo đó bên nước ngoài và
bên Việt Nam cùng nhau thực hiện hợp đồng được ký kết giữa hai bên. Trong
thời gian thực hiện hợp đồng các bên phải xác định rõ quyền lợi và nghĩa vụ
cũng như trách nhiệm của mỗi bên mà không tạo ra một pháp nhân mới và mỗi
bên vẫn giữ nguyên tư cách pháp nhân của mình.
Hình thức hợp đồng hợp tác kinh doanh là hình thức rất phổ biến và có
nhiều ưu thế đối với việc phối hợp sản xuất các sản phẩm có tính chất phức tạp
và yêu cầu kỹ thật cao đòi hỏi sự kết hợp thế mạnh của nhiều quốc gia. Phải có
chính sách hợp lý trong chiến lược phát triển của mình nhằm thu hút và sử dụng
có hiệu quả nguồn vốn này.
2. Doanh nghiệp liên doanh
GVHD: Ts. Lê Tấn Nghiêm Nhóm 2
11
Thúc đẩy đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) vào Việt Nam
Doanh nghiệp liên doanh là doanh nghiệp do hai hoặc nhiều bên hợp tác ký kết
với nhau trong đó có một bên là nước sở tại trên cơ sở hợp đồng liên doanh và
hợp tác ký kết giữa chính phủ của nước sở tại với bên nước ngoài hay doanh
nghiệp của nước sở tại với doanh nghiệp nước ngoài.
Doanh nghiệp liên doanh với nước ngoài là hình thức tổ chức kinh doanh
quốc tế của các bên tham gia không có cùng quốc tịch. Bằng cách thực hiện ký
kết các hợp đồng cùng tham gia góp vốn, cùng nhau quản lý và đều có trách
nhiệm cũng như nghĩa vụ thực hiện phân chia lơi nhuận và phân bổ rủi ro như
nhau.
Theo hình thưc kinh doanh này hai hay nhiều bên tham gia góp vốn vì thế
quyền hạn của các bên là khác nhau tuỳ thuộc vào số vốn mà mình đã tham gia
vào hợp đồng liên doanh. Bên nào nhiều vồn bên đó có quyền lớn hơn trong các
nếu có điều kiện vì rất nhiều lý do khác nhau trong đó quan trọng nhất là
quyền tự quyết trong mọi vấn đề ,ít chịu sự chi phối của các bên có liên
quan ngoại trừ việc tuân thủ các quy định do luật đầu tư của nước sở tại
đưa ra.
4. Các phương thức đầu tư trực tiếp nước ngoài
Các nhà đầu tư nước ngoài có rất nhiều phương thức để tiến hành đầu tư vào các
nước, thông thường thì các dự án phần lớn được tiến hành trên cơ sở ký
kết giữa Chính Phủ nước sở tại và các tổ chức nước ngoài để xây dựng các
công trình phúc lợi như hình thức hợp đồng xây dựng kinh doanh chuyển
giao (BOT, build operation-transfer), hợp đồng xây dựng chuyển giao
kinh doanh (BTO, build- transfer-operation), hợp đồng xây dựng chuyển
giao (BT, build-transfer),…
V. ĐÁNH GIÁ TÌNH HÌNH SỬ DỤNG VỐN ĐẦU TƯ TRỰC TIẾP
1. Tình hình đầu tư trực tiếp nước ngoài ở Việt Nam
Đã 25 năm, kể từ khi hoạt động thu hút FDI được chính thức hóa qua Luật Đầu
tư nước ngoài, ban hành ngày 29/12/1987. Nhìn lại chặng đường đã qua để đánh
giá những mặt được và chưa được, từ đó đưa ra những giải pháp nâng cao chất
lượng, hiệu quả nguồn vốn này là điều cấp thiết, đặc biệt trong bối cảnh thế giới
hiện nay.
Biểu đồ 1: Tình hình thu hút FDI từ năm 1988-2012
GVHD: Ts. Lê Tấn Nghiêm Nhóm 2
13
Thúc đẩy đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) vào Việt Nam
Nguồn: Tổng Cục thống kê (1988 – 2010); Cục Đầu tư nước ngoài (2011- 2012)
Quá trình thu hút FDI có thể chia ra các giai đoạn sau:
- Giai đoạn 1988 – 1990, Luật Đầu tư nước ngoài vừa mới ra đời. Vì vậy, việc
thu hút vốn FDI lúc này chưa tác động rõ rệt đến tình hình kinh tế - xã hội nước
ta.
- Giai đoạn hai từ 1991 – 1997, là những năm diễn ra làn sóng FDI thứ nhất.
Giai đoạn này đã thu hút được 2.130 dự án với vốn đăng ký là hơn 33,4 tỷ USD,
Tính đến nay đã có 43 quốc gia và vùng lãnh thổ có dự án đầu tư tại Việt
Nam. Tổng số dự án FDI được cấp phép từ năm 1988 đến năm 2008 đã lên tới
10.981 dự án, đạt tổng số vốn đăng ký là hơn 163,607 tỉ USD. Riêng năm 2007,
Việt Nam thu hút được 21,347 tỉ USD, trong đó giải ngân được 8,030 tỉ USD;
trong các năm 2008 và 2009 kết quả đạt được trong lĩnh vực này thứ tự là 64 tỉ
USD (vốn thực hiện gần 12 tỉ USD) và 21,482 tỉ USD (thực hiện được 10 tỉ
USD); còn 4 tháng đầu năm 2010 thu hút được 5,92 tỉ USD (thực hiện được 3,4
tỉ USD), tăng 36% so với cùng kỳ năm 2009.
Có thể nói, trong bối cảnh khủng khoảng kinh tế toàn cầu và cạnh tranh
gay gắt thì kết quả đạt được trong việc thu hút FDI của năm 2009 là một cố gắng
nỗ lực lớn của Việt Nam trong vận động xúc tiến đầu tư và cải thiện môi trường
đầu tư (chỉ tiêu dự kiến trong năm 2009 là 20 tỉ USD vốn cam kết và 8 tỉ USD
vốn thực hiện), bởi tuy vốn cam kết đạt được của năm 2009 giảm sút so với năm
2008, nhưng chỉ tiêu quan trọng là vốn thực hiện thì chỉ bị giảm 13% (ở nhiều
nước trong khu vực vốn này bị giảm tới 20% – 30%).
Không chỉ đạt được kết quả đáng ghi nhận về tốc độ giải ngân trong bối cảnh
vốn thu hút mới và vốn tăng thêm sụt giảm mà chúng ta còn tăng được số dự án,
quy mô vốn của dự án. Nếu quy mô vốn bình quân của 1 dự án FDI năm 2007
chỉ là 12,12 triệu USD, thì đến năm 2008 quy mô đó đạt 51,47 triệu USD, năm
2009 đạt 19,43 triệu USD.
GVHD: Ts. Lê Tấn Nghiêm Nhóm 2
15
Thúc đẩy đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) vào Việt Nam
Các đối tác đầu tư cũng có sự thay đổi theo hướng tích cực từ những quốc gia
và vùng lãnh thổ châu á sang các nước thuộc châu Âu, Mỹ. Hiện nhà đầu tư lớn
nhất vào Việt Nam là Mỹ với tổng số vốn đăng ký là 9,8 tỉ USD (chiếm 45,6%
tổng vốn đầu tư nước ngoài vào Việt Nam); tiếp theo là Quần đảo Cay-man: 2,02
tỉ USD (chiếm 9,4%); Samoa: 1,7 tỉ USD (chiếm 7,9%); Hàn Quốc: 1,66 tỉ USD
(chiếm 7,7%). Ngoài ra đã có một số tập đoàn xuyên quốc gia lớn đầu tư vào
Việt Nam với những dự án quy mô lớn có tổng vốn đăng ký trên 1 tỉ USD.
các công ty đa quốc gia lớn hơn, do đó thường nằm trong khâu thấp nhất của giá
trị sản phẩm”; khoảng 5% doanh nghiệp FDI hoạt động trong ngành công nghệ
hiện đại, 5% vào dịch vụ khoa học - công nghệ, 3,5% vào dịch vụ tài chính, quản
lý đòi hỏi kỹ năng cao.
Khi trả lời câu hỏi doanh nghiệp có ý định cân nhắc đầu tư ở nước khác hay
chỉ tập trung đầu tư ở Việt Nam, thì 55% doanh nghiệp tham gia phỏng vấn cho
biết, có cân nhắc đầu tư ở nước khác, trong đó 30% sang Trung Quốc, 10% sang
Thái Lan, 8% sang Campuchia, 6% sang Indonesia, 4% sang Philippines và 4%
sang Lào.
Mặc dù các tư liệu điều tra chọn mẫu chỉ có tính tham khảo, nhưng cũng báo
động rằng, nước ta đã chậm chuyển đổi định hướng chính sách FDI từ đầu thế kỷ
XXI. Môi trường đầu tư tuy đã được cải thiện, nhưng so với nhiều nước trong
khu vực thì chưa đủ hấp dẫn nhà đầu tư có tiềm năng lớn. Đối với Việt Nam,
cuộc cạnh tranh thu hút đầu tư càng gay gắt hơn khi theo xếp hạng năm 2011,
Trung Quốc vẫn dẫn đầu, Indonesia, Malaysia và Singapore lọt vào top 10 quốc
gia có môi trường đầu tư tốt nhất thế giới; và khi trong số 5 nước mới nổi
BRICS, thì 4 nước đã lọt vào danh sách 10 quốc gia có nền kinh tế hàng đầu thế
giới, là Trung Quốc (thứ 2), Brazil (thứ 6), Nga (thứ 9) và Ấn Độ (thứ 10). Với
dân số gần 3 tỷ người, 4 nước này là những thị trường hấp dẫn FDI nhất thế giới.
3.2 Nguyên nhân
Quy mô nền kinh tế của Việt Nam còn nhỏ bé, sức hấp thụ vốn hạn chế nên thực
tế này là rào cản lớn cho việc giải ngân để chuyển số vốn đăng ký thành vốn thực
hiện như mong muốn của chúng ta.
Hệ thống pháp luật, chính sách về đầu tư vẫn thiếu sự đồng bộ, nhất quán.
Chính sách đầu tư, cũng như các thủ tục đầu tư của chúng ta còn bị các nhà đầu
tư coi là rườm rà, chi phí cao, thiếu tính minh bạch. Trong khi đó, hệ thống tòa
án, thực thi pháp luật cũng còn nhiều hạn chế. Các thủ tục hành chính, hệ thống
thuế, hải quan,… còn bất cập cũng là những yếu tố góp phần làm nản lòng nhà
đầu tư khi hoạt động tại Việt Nam.
GVHD: Ts. Lê Tấn Nghiêm Nhóm 2
quản lý, thiết lập hệ thống thu thập và xử lý thông tin về FDI.
Hơn thế, trước thực trạng nhiều doanh nghiệp FDI đang gặp khó khăn do tác
động từ khủng hoảng kinh tế thế giới và lạm phát cao trong nước thì Chính phủ
và chính quyền các cấp cần tiếp cận, hướng dẫn, hỗ trợ doanh nghiệp vượt qua
GVHD: Ts. Lê Tấn Nghiêm Nhóm 2
18
Thúc đẩy đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) vào Việt Nam
tình trạng kinh doanh kém hiệu quả. Đó chính là cách xúc tiến đầu tư tốt nhất, vì
chính các doanh nghiệp này sẽ quảng bá rộng rãi chính sách và phương thức hoạt
động của bộ máy nhà nước ra bên ngoài.
Các bộ lập và công bố quy hoạch ngành kinh tế - kỹ thuật đủ chi tiết, gắn với
quy hoạch vùng lãnh thổ, xây dựng tiêu chuẩn, định mức để hướng dẫn chính
quyền địa phương thực hiện, bảo đảm việc phân cấp quản lý vừa phát huy được
tính năng động, sáng kiến của tỉnh, thành phố, vừa bảo vệ lợi ích quốc gia. Trên
cơ sở đó, chuyển trọng tâm quản lý nhà nước đối với FDI sang hướng dẫn, theo
dõi, kiểm tra doanh nghiệp khi đưa dự án đầu tư vào hoạt động theo đúng quy
định luật pháp.
GVHD: Ts. Lê Tấn Nghiêm Nhóm 2
19
Thúc đẩy đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) vào Việt Nam
PHẦN KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ
I. KẾT LUẬN
FDI có vai trò quan trọng trong phát triển của bất cứ một quốc gia nào trên
thế giới. FDI đã đem lại một hơi thở mới cho nền kinh tế thế giới. Mở cửa cho sự
toàn cầu hóa lan rộng khắp thế giới. FDI có vai trò to lớn đối với việc thúc đẩy
quá trình phát triển kinh tế ở các nước đầu tư và các nước nhận đầu tư.
Năm 2012, tình hình kinh tế quốc tế biến động theo chiều hướng không thuận
lợi, giá cả thị trường thế giới có xu hướng giảm, nợ công ở nhiều nước vẫn là
nguy cơ lớn. Cần khẳng định rằng, FDI tiếp tục là nguồn vốn quốc tế quan trọng
nhất đối với Việt Nam, khi viện trợ phát triển (ODA) đang có xu hướng giảm,
nhiều, thì rất cần xây dựng một chiến lược tổng thể phát triển ngành cũng như
định hướng đầu tư của vốn FDI vào ngành để các nhà đầu tư có thể xác định
được phương hướng phát triển lâu dài và có những quyết định hợp lý. Ngoài ra
phải có chính sách ưu đãi đối với những nhà đầu tư quan tâm đến lĩnh vực này
như miễn thuế nhập khẩu đối với công nghệ, miễn thuế giá trị gia tăng, ưu đãi tín
dụng nhà nước, thuế sử dụng đất và các hỗ trợ đầu tư khác
Vấn đề “lỗ giả, lãi thật” hiện nay của các doanh nghiệp FDI, thì các cơ quan
chức năng cần tăng cường kiểm tra, kiểm soát nhiều hơn. Gấp rút xây dựng một
hệ thống theo dõi giá cả thị trường thế giới và ngành thuế cần kiểm tra những báo
cáo tài chính, kiểm toán chặt chẽ hơn để tránh tình trạng “lách luật” của các
doanh nghiệp FDI.
GVHD: Ts. Lê Tấn Nghiêm Nhóm 2
21
Thúc đẩy đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) vào Việt Nam
TÀI THAM KHẢO
1. TS. Đỗ Nhất Hoàng, (2012). 25 năm thu hút FDI tại VN: Những vấn đề tồn
tại, http://diendandautu.vn/c7n2012031519261000000/25-nam-thu-hut-fdi-tai-
vn-nhung-van-de-ton-tai.html
2.GS. Nguyễn Mại, (2012). 25 năm thu hút FDI, thành công và vấp váp,
http://tinnhanhchungkhoan.vn/GL/N/CHDAGJ/25-nam-thu-hut-fdi-thanh-cong-
va-vap-vap.html
3. Minh Nhật, (2012). Năm mục tiêu nâng chất dòng vốn FDI,
http://tinnhanhchungkhoan.vn/GL/N/CIDEHC/nam-muc-tieu-nang-chat-dong-
von-fdi.html
4. Nguyễn Hòa, (2012). Xác định mục tiêu để thiết kế chính sách,
http://ven.vn/xac-dinh-muc-tieu-de-thiet-ke-chinh-sach_t77c542n31306tn.aspx
GVHD: Ts. Lê Tấn Nghiêm Nhóm 2
22