TIỂU LUẬN:
Vấn đề bảo vệ môi trường hiện
nay ở Việt Nam
Vấn đề là gì?
Trái Đất một hành tinh kì diệu và khác biệt. Nó khác với mọi hành tinh khác
ở chỗ nó có sự sống và nó là ngôi nhà duy nhất của chúng ta. Sự sống trên Trái Đất
đã bắt đầu từ những thành phần nhỏ bé nhất. Sự sống ấy đã phát triển lên ngày một
lớn mạnh. Thế rồi con người xuất hiện. Kể từ lúc ấysự sống trên Trái Đất đã thực
khác trước. Con người đã làm biến đổi thế giới xung quanh họ một cách mạnh mẽ
hơn bất kì sinh vật nào khác cùng tồn tại trên Trái Đất này. Điều gì đã làm cho họ có
được khả năng đó - đó là tư duy để hành động.
Tiểu luận này được viết nhằm nêu lại quan điểm của Triết học Mác-Lênin về mối
quan hệ giữa tự nhiên và xã hội đồng thời trên cơ sở: Mối quan hệ biện chứng giữa
tự nhiên và xã hội phân tích vấn đề bảo vệ môi trường hiện nay ở Việt Nam.
Bên cạnh đó nó cũng được hi vọng có thể thay đổi được nhận thức xã hội nhằm
tạo ra những thay đổi tích cực trong hành động của mỗi cá nhân, tạo thuận lợi cho
việc bảo vệ môi trường ở Việt Nam.
biến bộ não động vật thành bộ não người, tâm lý động vật thành tâm lý người.
Sự hình thành con người đi kèm với sự hình thành các quan hệ giữa người vứi
người, cộng đồng người dần thay đổi từ mang tính bầy đàn sang một cộng đồng mới
khác hẳn về chất, ta gọi đó là xã hội. Đây cũng là quá trình chuyển biến từ vận động
sinh học thành vận động xã hội.
Vậy xã hội là gì?
Xã hội là hình thái vận động cao nhất của vật chất, hình thái này lấy mối quan hệ
của con người và sự tác động lẫn nhau giữa người với người làm nền tảng. Xã hội
biểu hiện tổng số mối liên hệ và những quan hệ của các cá nhân với nhau, "là sản
phẩm của sự tác động qua lại giữa những con người".
Như vậy xã hội cũng là một bộ phận của tự nhiên. Song bộ phận này có tính đặc
thù thể hiện ở chỗ: phần còn lại của tự nhiên chỉ có những nhân tố vô thức và mù
quáng tác động lẫn nhau; còn trong xã hội, nhân tố hoạt động là của con người có ý
thức, hành động có suy nghĩ và theo đuổi những mục đích nhất định. Hoạt động của
con người không chỉ tái sản xuất ra chính bản thân mình mà còn tái sản xuất ra giới
tự nhiên.
1.2.2. Tự nhiên - Con người - Xã hội nằm trong một chỉnh thể thống nhất:
Con người và xã hội không chỉ là một bộ phận của tự nhiên. Hơn thế tự nhiên -
con người - xã hội nằm trong một chỉnh thể thống nhất.
Theo nguyên lí về tính thống nhất vật chất của thế giới thì thế giới tuy vô cùng
phức tạp, đa dạng và được cấu thành từ nhiều yếu tố khác nhau song suy đến cùng có
ba yếu tố cơ bản là tự nhiên, con người và xã hội loài người. Ba yếu tố này thống
nhất với nhau trong một hệ thống tự nhiên - con người - xã hội bởi chúng đều là
những dạng thức khác nhau, những trạng thái, đặc tính, mối quan hệ khác nhau của
vật chát đang vận động.
Thế giới vật chất luôn luôn vận động theo những qui luật, tất cả các quá trình
trong tự nhiên, con người và xã hội đều chịu sự chi phối của những qui luật phổ biến
động của con người cần. Mà chính lao động đã tạo ra con người và xã hội do đó vai
trò của tự nhiên với xã hội là vô cùng to lớn. Tự nhiên có thể tác động thuận lợi hoặc
gây khó khăn cho sản xuất xã hội; có thể thúc đẩy hoặc kìm hãm xã hội phát triển bởi
nó là nền tảng của xã hội.
1.2.4. Tác động của xã hội đến tự nhiên:
Tự nhiên tác động đế xã hội nhiều như thế nào thĩ xã hội cũng tác động lại vào tự
nhiên như thế.
Trước hết phải khẳng định lại rằng xã hội là một bộ phận của tự nhiên như vậy
mỗi thay đổi của xã hội cũng có nghĩa là tự nhiên thay đổi.
Bên cạnh đó xã hội còn tương tác với phần còn lại của tự nhiên một cách mạnh
mẽ. Sự tương tác này thông qua các hoạt động thực tiễn của con người trước hết là
quá trình lao động sản xuất. Lao động là đặc trưng cơ bản đầu tiên phân biệt hoạt
động của con người với động vật. Song lao động cũng là yếu tố đầu tiên, cơ bản nhất,
quan trọng nhất tạo nên sự thống nhất hữu cơ giữa xã hội và tự nhiên. Bởi "lao động
trước hết là một quá trình diễn ra giữa con người và tự nhiên, một quá trình trong đó
bằng hoạt động của chính mình, con người làm trung gian, điều tiết và kiểm soát sự
trao đổi chất giữa họ và tự nhiên".
Sự trao đổi chất giữa con người và tự nhiên thể hiện ở chỗ: tự nhiên cung cấp cho
con người điều kiện vật chất để con người sống và tiến hành hoạt động sản xuất.
Cũng chính trong quá trình sử dụng những nguồn vật chất này con người đã làm biến
đổi nó và các điều kiện môi trường xung quanh tức là làm biến đổi tự nhiên một cách
mạnh mẽ. Hoạt động sống và lao động sản xuất của con người trong xã hội là vô
cùng phong phú nên sự tác động vào tự nhiên cũng vô cùng phong phú nên sự tác
động vào tự nhiên cũng vô cùng phong phú như khai thác khoáng sản, đánh bắt cá
hay kể cả đốt rừng, đẩy trả rác thải ra tự nhiên
Thực tế xã hội luôn tác động tự nhiên. Giờ đây với sức mạnh của khoa học công
nghệ, một lực lượng dân số khổng lồ, sự tác động này trở nên mạnh mẽ hơn bao giờ
tư bản chủ nghĩa thì con người coi tự nhiên không chỉ là môi trường sống mà còn là
đối tượng chiếm đoạt nhằm mục đích lợi nhuận. Khủng hoảng môi trường đã xảy ra ở
nhiều nơi và đang đe dọa sự sống của nhân loại. Để tồn tại và phát triển con người
phải chung sống hòa bình với thiên nhiên, thay đổi cách đối xử với tự nhiên mà quan
trọng nhất là phải xóa bỏ chế độ tư hữu tư nhân tư bản chủ nghĩa - nguồn gốc sâu xa
của việc phá hoại tự nhiên nhằm tối đa hóa lợi nhuận. Nhiệm vụ này là nhiệm vụ của
tất cả mọi người.
Mối quan hệ giữa tự nhiên và xã hội phụ thuộc vào trình độ nhận thức và
vận dụng các quy luật trong hoạt động thực tiễn:
Mối quan hệ giữa tự nhiên và con người được thể hiện thông qua hoạt động của
con người. Song con người hành động theo suy nghĩ do đó mối quan hệ giữa tự nhiên
và xã hội phụ thuộc vào trình độ nhận thức, trước hết là nhận thức các quy luật và
việc vận dụng nó trong các hoạt động thực tiễn.
Một nhận thức tốt đi kèm với những hành động theo quy luật thì con người đã tạo
ra một thế giới hài hỏa, thuận lợi cho sự phát triển lâu dài của xã hội. Ngược lại, nếu
làm trái quy luật, chỉ khai thác, chiếm đoạt những cái có sẵn trong giới tự nhiên thì sự
nghèo nàn đi của giới tự nhiên và việc phá vỡ cân bằng hệ thống tự nhiên - xã hội là
không tránh khỏi. Con người sẽ phải trả giá và chịu diệt vong.
Việc nhận thức quy luật tự nhiên cần đi kèm việc nhận thức quy luật của xã hội và
đồng thời vận dụng chúng trong thực tiễn.
Thời đại ngày nay khoa học kĩ thuật phát triển, nhận thức đã được nang lên nhiều
vấn đề còn lại là phải hành động cho đúng.
Để tuân theo các quy luật tự nhiên thì việc xóa bỏ chế độ tư bản chủ nghĩa là con
đường duy nhất.
1.2.6. Môi trường - vấn đề của chúng ta:
Nằm trong mối quan hệ giữa tự nhiên và xã hội, môi trường và ảnh hưởng của nó
đến sự tồn tại và phát triển của xã hội có lẽ là vấn đề quen thuộc nhất, nó thường
xã hội, hãy xem những sự phụ thuộc vào môi trường tự nhiên từ xa xưa của các xã
hội đã ảnh hưởng đến tận ngày nay như thế nào:
Đây là một đoạn trích từ bài viết "Jared Diamond và vận mệnh của các nền
văn minh" của tác giả Trần Hữu Dũng đăng trên tạp chí Tia Sáng số 3, tháng 3,
năm 2005:
Trong cuốn "Súng, Vi trùng, và Thép: Định mệnh của các Xã hội Loài người"
(Guns, germs and Steel: The Fates of Human Societies", New York: Norton, 1997)
Jared Diamond viện dẫn những yếu tố môi trường và cấu trúc để giải thích tại sao các
nước Tây phương trổ nên thống trị thế giới. Mục đích của ông, Diamond bộc bạch
ngay từ đầu, là nhằm triệt hạ những ý kiến cho rằng chủng tộc, văn hóa và truyền
thống có ảnh hưởng quyết định đến những khác biệt về công nghệ của những xã hội
khác nhau, trên những châu lục khác nhau, trong suốt lịch sử.
Diamond tóm tắt phát hiện của ông như sau: Lịch sử của các nhóm dân khác nhau
không phải vì sự khác biệt sinh học (biological) giữa các sắc dân mà vì sự khác biệt
về môi trường sinh sống ngay từ đầu. Nói cách khác, lý do căn bản của sự bất bình
đẳng trong thế giới ngày nay bắt nguồn từ rất xa trong quá khứ.
Hãy lấy năm 1500 sau công nguyên làm điểm mốc. Có thể xem năm này là khởi
điểm thời kỳ các nước châu Âu đi chinh phục các châu lục khác. Lúc ấy thì các nước
đã có sự khác biệt về trình độ công nghệ và tổ chức chính trị. Phần lớn Âu, á và Bắc
Phi đã có những quốc gia ở vào thời kỳ đồ sắt thậm chí vài nước đã sắp sang thời kỳ
công nghiệp hóa. Hai nhóm ở châu Mỹ (Inca và Aztec) đã là những đế quốc có dụng
cụ bằng đá và bắt đầu thử nghiệm với đồng. Những dân tộc khác thì kém phát triển
hơn: Đa số dân ở châu úc, châu Mỹ và châu Phi (vùng dưới Sahara) vẫn còn hoàn
toàn dựa vào nông nghiệp, thậm chí vài nhóm vẫn còn sống nhờ săn bắn và lượm
nhặt với khí cụ bằng đá.
Lẽ dĩ nhiên, những khác biệt ấy về trình độ công nghệ vào khoảng năm 1500 là
nguyên do gần gũi nhất đưa đến sự chênh lệch hiện nay trên thế giới. Những đế quốc
nhất ở lục địa Âu á, bởi vì hướng chính của lục địa này là đông tây, tương đói
ít ngăn trở môi sinh và địa lý.
3. Khác nhau thứ ba là về những yếu tố ảnh hưởng đến sự chuyển dịch giữa các
lục địa. Vì những ngăn cản địa lý, nhiều lục địa không nhận được những công
nghệ hay thú vật, thảo mộc từ các lục địa khác. Song, Diamond cũng nhìn
nhận, sự biệt lập này lắm khi cũng có lợi vì nó khuyến khích phát triển những
giống vật nuôi trồng tại địa phương, cũng như các công nghệ bản địa.
4. Cái khác nhau cuối cùng là về dân số và diện tích đất đai. Lục địa càng rộng
càng đông dân thì càng có nhiều người phát minh. Hơn nữa, trong một lục địa
như vậy sẽ có nhiều xã hội tranh đua hơn, rồi chính sự tanh đua giữa các xã
hội gần gũi nhau đó sẽ gây áp lực phát minh và cải cách, bởi lẽ những quốc
gia "tụt hậu" sẽ bị các quốc gia khác thống trị, thậm chí tiêu diệt.
Một đoạn thích thú trong quyển sách là sự so sánh của Diamond về sự tiến bộ công
nghệ giữa Trung Quốc và Tây phương. Trung Quốc đã có những hạm đội viễn dương
vào những năm đầu của thế kỷ XV nhưng sau đó không lâu thì lại giải thể hạm đội
này, chấm dứt mọi hoạt động viễn du, vì lệnh triều đình (cụ thể là do sự tranh chấp
quyền lực giữa các phe trong triều đình lúc ấy). ở châu Âu, trái lại, nhà thám hiểm
Columbus đã tìm được tài trợ cho chuyến đi của ông từ triều đình Tây Ban Nha sau
khi bị nhiều nơi khác từ chối. Theo Diamond, sự thống nhất của Trung quốc cho
phép nước này canh tân trước phương Tây, song cũng chính sự thống nhất sớm của
Trung quốc đã làm giảm đi khả năng đổi mới của nước này. Triều đình ra lệnh một
cái là mọi hoạt động canh tân dừng lại ngay! ở châu âu thì khác: Một tiến bộ bị ngăn
chặn ở nước này có thể được tiếp tục ở nước khác. các nước châu Âu đủ gần gũi nhau
để chia sẻ những ý kiến mới, nhưng quyền hành lại không tập trung đến độ có thể
hoàn toàn giết chết một ý mới
Có nhiều người có thể không thấy thực sự bị thuyết phục bởi trọng tâm ý kiến của
ông (mà họ cho rằng) theo đó mọi việc đều là hậu quả tất nhiên của địa lí, cộng với
tình trạng dân số ngày càng cao. Nhiều người cho rằng Diamond coi nhẹ vai trò của
trí tuệ và do đó không thấy hết được sự quan trọng
Sự bùng nổ dân số thực tế là sự tăng lên rất nhanh của số lượng cá thể của quần
thẻ người là một ví dụ cho sự phát triển vốn có ở tất cả các loài. Một quy luật kèm
theo là: Khi số lượng cá thể của quần thể vượt quá khả năng chịu đựng của môi
trường thì sự chết hàng loạt sẽ xảy ra nhưng thường là từng vùng chứ không phải là
quy mô toàn cầu (I.M. Barrett and oth, 1986)
Nếu điều này xảy ra với loài người thì quả là tai họa. Mà những cách ứng xử sai
của con người với tự nhiên hiện nay đang làm giảm đi sức chịu đựng của tự nhiên.
Do đó chúng ta cần giải quyết tốt vấn đề môi trường va cư xử đúng với tự nhiên.
Nguyên nhân của sai lầm này là do chế độ tư hữu tư bản chủ nghĩa, cần xóa bỏ nó,
khi xây dựng đựoc chế độ xã hội chủ nghĩa, con người sẽ cư xử tốt hơn với tự nhiên
vì không còn bị lợi nhuận chi phối.
2. Vấn đề bảo vệ môi trường hiện nay ở Việt Nam:
Qua phần trên chúng ta thấy rõ ràng cần phải bảo vệ môi trường, gìn giữ sự cân
bằng của hệ thống tự nhiên - xã hội nhằm đảm bảo sự tồn tại phát triển lâu dài và ổn
định cho xã hội loài người. Giờ chúng ta sẽ xem xét vấn đề trong điều kiện cụ thể của
Việt Nam.
2.1. Khái quát về môi trường và các nguồn tài nguyên của Việt Nam:
Việt Nam: Những số liệu thống kê chính
Thủ đô : Hà Nội
Ngôn ngữ chính thức : tiếng Việt
Đơn vị tiền tệ : đồng
Diện tích : 329.566 km2
Dân số ước tính (năm 1998) : 78 triệu người
Nước ta nằm giữa hai vành đai tạo khoáng lớn của thế giới là Thái Bình Dương
và Địa Trung Hải.
Việt nam có hơn 3500 mỏ gồm 80 loại khoáng sản. Mới chỉ có 270 mỏ được khai
thác gồm 32 loại khoáng sản.
Khoáng sản chủ yếu: Than trữ lượng 3 đến 3,5 tỷ tấn; dầu mỏ trữ lượng Vịnh Bắc
bộ là 500 triệu tấn, Nam Côn sơn 400 triệu tấn, Cửu long 300 triệu tấn, Vịnh Thái lan
300 triệu tấn; quặng sắt trữ lượng 700 triệu tấn; khí đốt thiên nhiên có trữ lượng lớn.
Tài nguyên khoáng vật của Việt nam được đánh giá là to lớn, đủ cơ sở cho công
nghiệp hóa.
2.1.4. Môi trường và tài nguyên biển Việt Nam:
Việt Nam có vùng biển rộng trên 1 triệu km2 có nhiều tiềm năng về kinh tế và có
độ đa dạng sinh học cao.
Việt Nam có trên 100 loài cá có sản lượng cao, còn có nhiều hải sản quý như: cua,
mực, sò huyết, trai, hàu, hải sâm, bào ngư, rùa biển, đồi mồi, ngọc trai. Ven bờ có sò,
ngao , điệp, hàu, phi, don với sản lượng hàng chục vạn tấn một năm.
Biển Việt Nam nằm trong một trong 5 ổ bão của hành tinh. Hơn 100 năm gần đây
có 493 cơn bão, trung bình 4,7 cơn một năm.
2.1.5. Tài nguyên rừng và đa dạng sinh học:
Việt Nam là nước có nguồn tài nguyên rừng lớn và có giá trị. Nhiều người dân
sống phụ thuộc vào rừng: Việt Nam có từ 7 đến 8 triệu dân sống ở rừng, 18 triệu dân
có cuộc sống gắn với rừng.
Rừng cho vật liệu xây dựng, năng lượng, dược liệu, gien động vật hoang dã. Rừng
ngập măn là cái nôi của tôm cá biển, bảo tồn sinh học, chống sói mòn đất, điều hòa
khí hậu, tăng nước ngầm, chống lũ lụt, xâm thực. Thảm thực vật
phong phú của rừng Việt Nam đã tạo cho lãnh thổ Việt Nam có một hệ động vật và
nguồn tài nguyên động vật vô cùng phong phú, đa dạng và đày sự hấp dẫn. Chính
nguồn tài nguyên động vật này đã từng là nguồn cung cấp thực phẩm, là
1
Thú 275
4.000
2
Chim 828
9.672
3
Bò sát 260
6.300
4
Lưỡng cư 82
4.184
5
Cá 2.600
19.000Việt Nam trở nên ô nhiễm hơn. Cơ chế thị trường cùng với một bộ phận nhân dân
thiếu hiểu biết sẵn sàng khai thác đến cạn kiệt mọi nguồn tài nguyê vì lợi nhuận. Đói
nghèo cũng đẩy nhiều người vào cảnh phải tàn phá thiên nhiên vì miếng cơm manh
áo hàng ngày. Ngay cả du lịch sinh thái, khi được tổ chưc không hợp lí cũng phá hủy
cảnh quan môi trường. Rác thải sinh hoạt, công nghiệp, khói bụi ngày càng nhiều hơn
và thực sự rất khó giải quyết.
Bảy vấn đề môi trường gay cấn của Việt Nam:
1. Nạn phá rừng:
Năm 1943 ta có 37% đất phủ xanh
Năm 1975 " 29,1% "
Năm 1983 " 23,6% "
Đối với vùng nhiệt đới dưới 30% là khủng hoảng môi trường. Chế độ
thủy văn thay đổi g khí hậu thay đổi g cảnh quan thay đổi g suy thoái độ đa
dạng sinh học.
2. Suy giảm tài nguyên đất: Giảm diện tích bình quân đầu người là do dân
số tăng.
Năm 1940 Việt Nam có 0,2 ha/ người
1960 Việt Nam có 0,18 ha/ người
1970 Việt Nam có 0,15 ha/ người
1980 Việt Nam có 0,13 ha/ người
1990 Việt Nam có 0,11 ha/ người
Năm 2000 Việt Nam có 0,06 ha/ người
2010 Việt Nam có 0,04 ha/ người
Đất bị xói mòn, rửa trôi, laterit hóa, chua phèn hóa, mặn hóa.
3. Sử dụng tài nguyên nước không hợp lệ. Không giữ được nước vì không có hồ
chứa nước, kĩ thuật điều tiết nước thấp. Thiếu nước nghiêm trọng vào mùa
khô. Ô nhiễm nước nặng nề ở Đồng bằng sông Cửu Long. Ô nhiễm mặn do
trận bão dữ dội lại quét lượng đất ô nhiễm này đổ sang các vùng đất xung quanh.
Thực phẩm giờ đây khan hiếm, tỉ lệ tử vong trẻ sơ sinh đang tăng lên và tuổi thọ của
người dân vùng này, theo một số chuyên gia, đang giảm xuống 20 năm.
Thảm họa sinh thái này là do qua nhiều thập kỉ biển Aral không được chú ý đến
và bị quản lí sai lầm, như khai thác nước quá mức do hệ thống tưới tiêu, để các chất
thải chảy từ sông ra biển một cách bừa bãi, sử dụng một lượng nước lớn cho thủy
điện. Ngày nay, Liên Hợp Quốc, Ngân hàng Thế Giới, Liên hiệp châu Âu và một số
nước khác đang huy động nỗ lực quốc tế để phục hồi cân bằng sinh thái của vùng
biển Aral, bổ sung nguồn tài nguyên và cấp bách giải quyết các vấn đề như sức khỏe
cộng đồng, nước, thuốc trừ sâu và những vấn đề khẩn cấp khác trong cuộc chạy đua
với thời gian.
Haiti là một ví dụ khác, nước này đã bị mất toàn bộ rừng nhiệt đới do chặt phá
bừa bãi dùng làm chất đốt. Cứ mỗi khi mùa mưa đến nước này lại phải chịu lũ lụt
khủng khiếp, lở đất xói mòn rửa trôi đất canh tác xảy ra ở khắp mọi nơi.
Số liệu về sự mất sinh cảnh ở một số nước có độ đa dạng sinh học cao:
Nư
ớcDi
ện tích còn lại
km
2
Di
ện tích b
an đ
75%
CAMEROON 192.450
469.400
59%
MALAYSIA 210.190
356.250
41%
VIệT NAM 66.420
332.100
80%
Bờ BIểN NGà 66.780
318.000
79%
PHILIPPIN 64.720
308.200
79%
Nguồn: WWF.
Mất sinh cảnh làm giảm độ đa dạng sinh học, phá vỡ cân bằng sinh thái. Một nửa
số loài đang tồn tại ngày hôm nay có thể sẽ bị tuyệt chủng vào cuối thế kỉ tới. Nếu
cầu thiết yếu cho các thế hệ mai sau.
Những nội dung của phát triển bền vững chủ yếu là quy hoạch sử dụng hợp lý lâu
bền các nguồn ttài nguyên thiên nhiên, chú ý bảo vệ môi trường và gìn giữ đa dạng
sinh học, cân bằng một cách hài hòa lợi ích của người dân và các mục tiêu bảo vệ
môi trường, chú ý đến giáo dục, y tế và cuộc sống của nhân dân.
Một trong 8 Mục tiêu phát triển Thiên niên kỉ (MDGs) của LHQ là phát triển bền
vững
Mục tiêu 7: Đảm bảo sự bền vững môi trường
- Lồng ghép phát triển bền vững vào các chính sách quốc gia và
đảo ngược sự tổn thất tài nguyên môi trường.
- Giảm một nửa số người không có khả năng tiếp cận nước sạch
- Cải thiện đáng kể cuộc sống của ít nhất 100 triệu cư dân xóm liều
Con đường đi tới một tương lai bền vững:
Hầu hết vốn vật chất cần thiết cho nền kinh tế trong 50 năm nữa vẫưn còn chưa
được xây dựng. Đây là cơ hội để đưa tiêu chí bền vững vào các dự án đầu tư hiện
nay. Khi đó, có khả năng thay đổi được con đường phát triển, với điều kiện có thể
xây dựng được những thể chế cho phép áp dụng và thực hiện những chính sách tốt
hơn.
2.3. Việt Nam hành động:
Trong xu thế hành động của thế giới, Việt Nam cũng có những hành động của
mình:
- Từ năm 1981 nhà nước đã cho tập hợp các trường đại học, các viện, thành lập
Chương trình Quốc gia về Bảo vệ môi trường.
- Công tác môi trường ở nước ta có 3 giai đoạn:
+ Từ 1975-1980 : Hồi phục.
+ Từ 1981-1990 : Xử lí môi trường trong phát triển sau chiến tranh.
+ Từ 1990 đến nay là phát triển môi trường bền vững.
Hiện nay chúng ta đã có bộ Bộ Tài nguyên và Môi trường riêng để quản lý các
vấn đề tài nguyên môi trường.
Những hoạt động này đã mang lại một số kết qua ban đầu song cần phải tiếp tục
duy trì lâu dài nhằm đạt được chiến lược phát triển bền vững của nước nhà. Thực sự
vẫn còn rất nhiều việc phải làm. phần kết
Môi trường thực sự là một vấn đề lớn và cấp bách song việc giải quyết nó lại cần
một thời gian dài. Việc giải quyết này sẽ quyết định trực tiếp đến tương lai của loài
người chúng ta.
Điều quan trọng ở đây là chúng ta phải nhận thức được một cách đúng đắn mối
quan hệ giữa tự nhiên, môi trường và xã hội. Đây là cơ sở đầu tiên cho việc giải
quyết những vấn đề môi trường hiện nay.
5. WWF Chương trình ĐôngDương, Việt Nam - Thông tin khái quát, 1999, tr 2,
tr 4.
6. WWF, Sự huyền diệu của đất ngập nước, 1999, tr 12 - 13.
7. WWF, Tính đa dạng của sự sống, 1999, tr15.
8. Đặng Huy Huỳnh, Bảo vệ và phát triển lâu bền nguồn tài nguyên động vật
rừng Việt Nam, 1997,tr 9, tr 12.
mục lục
mục trang
phần mở đầu 1
Vấn đề là gì? 1
Mục đích của đề tài
2
phần chính
1. Cơ sở lí luận 3
1.1. Các khái niệm 3
1.2. Mối quan hệ biên chứng giữa tự nhiên và xã hội 3
1.2.1. Xã hội - bộ phận đặc thù của tự nhiên 3
1.2.2. Tự nhiên - Con người - Xã hội nằm trong 4
một chỉnh thể thống nhất
1.2.3. Tự nhiên - nền tảng của xã hội 5
1.2.4. Tác động của xã hội đến tự nhiên 5
1.2.5. Những yếu tố tác động đến mối quan hệ giữa 6
tự nhiên và xã hội
1.2.6. Môi trường - vấn đề của chúng ta 7
2. Vấn đề bảo vệ môi trường hiện nay ở Việt Nam 7
2.1. Khái quát về môi trường và các nguồn tài nguyên của 7