Phân tích chức năng của tiền tệ. Trong quá trình tổ chức và quản lý nền kinh tế ở VN, các chức năng đó đã được nhận thức và vận dụng như thế nào ? - Pdf 11

Câu 1: Phân tích chức năng của tiền tệ. Trong quá trình tổ chức và quản lý nền
kinh tế ở VN, các chức năng đó đã được nhận thức và vận dụng như thế nào ?
1. Các chức năng của tiền tệ:
Trong nền kinh tế toàn cầu hiện nay thì tiền tệ có 4 chức năng cơ bản:
a) Chức năng đo lường giá trị:
Trong nền kinh tế sử dụng tiền tệ, mọi hàng hóa đều được đổi ra tiền tệ, cho
nên để thuận tiện cho việc tính toán hay so sánh giá trị các hàng hóa với nhau người ta
quy giá trị của các hàng hóa ra tiền tệ, tức là tính xem một đơn vị hàng hóa đổi được
bao nhiêu đơn vị tiền tệ. Khi đó tiền tệ đã trở thành phương tiện để biểu hiện, đo
lường giá trị của các hàng hóa đem ra trao đổi. Biểu hiện bằng tiền của giá trị hàng
hóa gọi là giá cả hàng hóa.
Để chấp hành được chức năng thước đo giá trị, tiền tệ bản thân nó phải có giá
trị. Cũng giống như khi dùng quả cân để đo trọng lượng một vật thì bản thân quả cân
đó phải có trọng lượng. Như đã biết giá trị của tiền tệ được đặc trưng bởi khái niệm
sức mua tiền tệ tức là khả năng đổi được nhiều hay ít hàng hóa khác trong trao đổi.
Khi tiền tệ còn tồn tại dưới dạng hàng hóa (tiền có đầy đủ giá trị) thì sức mua của tiền
phụ thuộc vào giá trị trao đổi của hàng hóa dùng làm tiền tệ với các hàng hóa khác.
Đến lượt giá trị trao đổi của hàng hóa tiền tệ lại phụ thuộc vào cung cầu hàng hóa đó
trên thị trường với tư cách là một hàng hóa. Khi xã hội chuyển sang sử dụng tiền tệ
dưới dạng dấu hiệu giá trị (tiền giấy, tiền tín dụng,…) thì giá trị của tiền tệ không còn
được đảm bảo bằng giá trị của nguyên liệu dùng để tạo ra nó (vì giá trị đó quá thấp so
với giá trị mà nó đại diện) mà phụ thuộc vào tình hình cung cầu tiền tệ trên thị trường,
mức độ lạm phát, vào tình trạng hưng thịnh hay suy thoái của nền kinh tế và cả niềm
tin của người sử dụng vào đồng tiền đó.
Để tiện cho việc đo lường giá trị của hàng hóa, cần có một đơn vị tiền tệ
chuẩn. Đơn vị tiền tệ lúc đầu do dân chúng lựa chọn một cách tự phát, sau đó do
chính quyền lựa chọn và quy định trong pháp luật từng nước. Ví dụ đơn vị tiền tệ
chuẩn ở Việt Nam là 1VND, ở Mỹ là 1USD,… Người ta cũng quy định cả giá trị của
đơn vị tiền tệ chuẩn đó. Giá trị của các đơn vị tiền tệ chuẩn được gọi là tiêu chuẩn giá
cả. Khi tiền vàng đúc hoặc tiền giấy có khả năng đổi ra vàng còn được lưu thông, hàm
lượng vàng chứa trong 1 đơn vị tiền tệ chuẩn đại diện cho tiêu chuẩn giá cả. Ví dụ:

kê ra tới 49 giá khác nhau, chưa kể rất khó khi phải đọc và nhớ hết chúng. Nhưng khi
đưa tiền vào, chúng ta có thể định giá các mặt hàng bằng đơn vị tiền, mỗi mặt hàng là
1 giá.
Thêm nữa, nhờ có chức năng này, mọi hình thức giá trị dù tốn tại dưới dạng nào đi
nữa cũng có thể dùng tiền tệ để định lượng một cách cụ thể. Chẳng hạn để tính tổng
giá trị tài sản của một cá nhân, ta phải cộng giá trị của cái nhà anh ta đang ở, giá trị
các thiết bị trong nhà,… Sẽ không thể có được kết quả nếu không có sự tham gia của
tiền tệ vì không có cách nào để cộng giá trị của các tài sản đó (có bản chất tự nhiên
khác nhau) với nhau được. Nhưng một khi quy tất cả các giá trị đó ra tiền tệ thì công
việc thật đơn giản. Chính vì vậy mà ngày nay việc định lượng và đánh giá, từ GDP,
thu nhập, thuế khóa,… đều có thể thực hiện được dễ dàng.
Chức năng này nhấn mạnh vai trò thước đó giá trị của tiền tệ trong các hợp đồng
kinh tế. Chẳng hạn, trong các hợp đồng ngoại thương, khi sử dụng một đồng tiền làm
đơn vị tính giá, điều cần quan tâm là phải phòng ngừa nguy cơ do sự mất giá của đồng
tiền đó, khiến cho vai trò thước đo giá trị của nó bị giảm sút. Một cách cụ thể hơn,
nếu các hợp đồng ngoại thương được định giá bằng đồng ngoại tệ thì sự biến động
của tỷ giá hối đoái sẽ tạo rủi ro cho các bên tham gia hợp đồng. Để phòng ngừa chỉ có
2 cách: một là định giá bằng đồng nội tệ hoặc cố định tỷ giá (tầm vĩ mô là chính sách
tỷ giá cố định, còn tầm vi mô là các hợp đồng mua bán ngoại tệ mang tính chất bảo
hiểm hoặc tự bảo hiểm.
b) Chức năng trung gian trao đổi:
Chúng ta thấy rằng tiền tệ được xã hội sử dụng với tư cách là vật trung gian trong
quá trình trao đổi hàng hóa, các hàng hóa trước tiên sẽ được đổi ra tiền tệ rồi sau đó
người ta dùng tiền đó để đổi lấy hàng hóa khác. Do vậy tiền tệ được xem là phương
tiện để trao đổi hàng hóa trong nền kinh tế.
Khi thực hiện chức năng này, tiền tệ chỉ đóng vai trò môi giới giúp cho việc trao
đổi thực hiệ được dễ dàng. Do vậy tiền chỉ xuất hiện thoáng qua trong trao đổi mà
thôi (người bán hàng háo của mình lấy tiền rồi dùng nó để mua những hàng hóa mình
cần). Trong trao đổi, người ta đổi lấy tiền không phải vì bản thân nó mà vì những gì
mà nó sẽ đổi được. Tiền tệ được xem là phương tiện chứ không phải là mục đích của

ta vẫn cầm tiền như là phương tiện để cất trữ giá trị trong suốt khoảng thời gian từ lúc
bán đến lúc mua cái khác.
Khi cất trữ, điều đặc biệt quan trọng là tiền tệ phải giữ nguyên giá trị hay sức
mua hàng qua thời gian. Vì vậy, đồng tiền đem cất trữ phải đảm bảo yêu cầu giá trị
của nó phải ổn định. Sẽ không ai dự trữ tiền khi biết rằng đồng tiền mà mình cầm hôm
nay sẽ bị giảm giá hoặc mất giá trị trong tương lai khi cần đến cho các nhu cầu trao
đổi, thanh toán. Chính vì vậy mà trước đây để làm phương tiện dự trữ giá trị, tiền phải
là vàng hay tiền giấy tự do đổi ra vàng. Còn ngày nay, đó là các đồng tiền có sức mua
ổn định.
Tiền không phải là nơi cất trữ giá trị duy nhất. Một tài sản bất kỳ như cổ
phiều, trái phiếu, đất đai, nhà cửa, kim loại quý cũng đều là phương tiện cất trữ giá trị.
Nhiều thứ trong số những tài sản đó lại xét thấy có lợi hơn so với tiền về mặt chứa giá
trị, chúng có thể đem lại cho người chủ sở hữu một khoản lãi suất hoặc thu nhập (cố
phiều, trái phiếu) hoặc một giá trị sử dụng khác (nhà cửa). Trong khi đó, tiền mặt có
thể sẽ trở thành nơi cất trữ giá trị tồi nếu giá cả hàng hóa tăng nhanh. Song một câu
hỏi đặt ra là tại sao người ta vẫn giữ tiền nếu nó không phải là nơi cất trữ giá trị tốt
nhất. Điều này liên quan đến một khái niệm gọi là tính lỏng, tính lỏng phản ánh khả
năng chuyển một cách dễ dàng và nhanh chóng của một loại tài sản thành tiền mặt
(một phương tiện trao đổi). Khi xét dưới góc độ như vậy thì tiền sẽ là một tài sản lỏng
nhất. Khi có nhu cầu trao đổi, các tài sàn khác (không phải là tiền tệ) sẽ đòi hỏi chi
phí để chuyển thành phương tiện trao đổi. Ví dụ: khi bạn bán nhà, đôi khi bạn phải trả
một khoản phí cho người môi giới, và nếu cần tiền ngay bạn còn phải bán rẻ. Chính vì
vậy, với mục đích cất trữ giá trị cho những hu cầu trong tương lai gần, người ta có xu
hướng cất trữ giá trị dưới dạng tiền. Song vì tiền, nhất là tiền ngày nay, không có một
sự đảm bảo chắc chắn về sự nguyên vẹn giá trị từ khi nhận cho đến khi đem ra sử
dụng nên tiền sẽ không phải là cách lựa chọn tốt nhất khi muốn dự trữ giá trị trong
thời gian dài.
d) Chức năng làm phương tiện thanh toán:
Trong các hoạt động kinh tế, mua bán giao thương, thì tất yếu sẽ phát sinh việc
thanh toán qua lại, và giá trị hàng hóa được tính bằng tiền cho nên tiền thực hiện chức

- Bổ sung thêm chức năng " tiền tệ thế giới" và diễn giải thêm.
- Phần B, viết còn sơ sài quá àh. Phần chính là ở đây kia mà
Có thể triển khai theo hướng, các chức năng này được vận dụng như thế
nào ở một số nước trên thế giới. Ở Vn có vận dụng linh hoạt hết các chức năng
đó không, chức năng nào nổi trội hơn. Những hạn chế, những chính sách gì để
Vn có thể vận dụng hiệu quả các chức năng tiền tệ trong quá trình phát triển.


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status