lời nói đầu
Cùng với sự phát triển không ngừng của nền kinh tế đã đặt ra trớc mắt
chúng ta những cơ hội và mới khó khăn hơn ,và buộc chúng ta phải thích nghi
trong điều kiện nền kinh tế thị trờng định hớng xã hội chủ nghĩa.
Đứng trớc vận hội mới, trong hàng loạt các chính sách rất đợc Đảng và
Nhà nớc ta quan tâm, thì chính sách tiền lơng hiện nay đang đợc quan tâm
nhiều nhất, bởi vì đây là một chính sách rất nhạy cảm và cấp bách, tác động
tới ngời lao động làm ảnh hởng trực tiếp tới kết quả của nền kinh tế quốc dân.
Mặt khác, tiền lợng chính là phần thu nhập chính của ngời lao động làm
công ăn lơng, với t cách là quản lý và hoạch định kế hoạch quỹ lơng chúng ta
phải làm gì để tiền lơng kết họp với các khoản trợ cấp và thu nhập khác là
nguồn cổ vũ, động viên, khuyến khích, kích thích hay chính là nguồn tạo ra
động lực cho ngời lao động, bởi vì nh chúng ta biết con ngời nói chung và mỗi
ngời lao động nói riêng làm việc theo mục đích và nhu cầu riêng của mỗi ng-
ời, và mỗi ngời làm việc chịu sự chi phối của các yếu tố về thể lực, trí lực và
một yếu tố cũng hết sức quan trọng đó là yếu tố tâm sinh lý, đây là yếu tố mà
trong quá trình sử dụng ngời lao động Nhà quản lý phải hết sức quan tâm để
tránh hiện tợng ngời lao động chán nản, không muốn làm việc, dẫn đến hậu
quả năng suất lao động giảm, doanh nghiệp gặp nhiều khó khăn và không phát
triển đợc, thậm chí dẫn đến phá sản.
Nhận thức đợc vai trò cũng nh tầm quan trọng của tiền lơng trong quá
trình tạo động lực cho ngời lao động, cho nên em đã chọn đề tài về tiền lơng
làm đề tài nghiên cứu cho đề án môn học kinh tế lao động.
Đề tài có tên:
1
Vai trò của Tiền l ơng trong quá trình tạo động lực cho ngời lao
động .
Mặc dù đã đợc thầy hớng dẫn ,nh do mới đi vào nghiên cứu tìm hiểu về
đề tài này và một phần trình độ có hạn nên đề tài nghiên cứu này của em
không tránh khỏi những vớng mắc, cũng nh những thiếu sót. Bởi vậy em rất
mong nhận đợc những ý kiến phê bình của thầy, để lần viết sau em đợc hoàn
- Một là: Vì không coi sức lao động là hàng hoá, nên tiền lơng không
phải là tiền trả theo đúng giá trị của sức lao động, không phải là ngang giá của
sức lao động theo quan hệ cung cầu.
- Hai là: Tiền lơng đợc coi là một bộ phận của thu nhập quốc dân (phần
giá trị mới) nên cơ chế phân phối tiền lơng phụ thuộc vào vấn đề phân phối
thu nhập quốc dân do Nhà nớc quy định. Theo cơ chế phân phối đó, thu nhập
quốc dân còn nhiều thì phân phối nhiều còn ít thì phân phối ít, nhiều khi
không tính đến một cách đầy đủ sự bù đắp chi phí sức lao động, dẫn đến kết
quả là, biên chế lao động ngày càng lớn, ngân sách thâm hụt nặng nề do phải
bao cấp tiền lơng mà tiền lơng lại không đủ để tái sản xuất sức lao động, sản
xuất kinh doanh mất động lực nên hiệu quả sút kém.
- Ba là: Tiền lơng không còn là mối quan tâm của ngời lao động trong
các doanh nghiệp Nhà nớc. Cái họ quan tâm là những lợi ích đợc phân phối
ngoài lơng. Nũn kinh tế mệnh lệnh ngày càng không đáp ứng đợc các nhu cầu
thờng nhật của đời sống nhân dân, nên tệ nạn tiêu cực, tham nhũng ngày càng
gia tăng. Ngời lao động bị tách rời khỏi quan hệ sản xuất, mất dần độ ngũ có
tay nghề cao... đã đẩy nền kinh tế xã hội vào khó khăn khủng hoảng.
- Bốn là: Không lý giải đợc rõ ràng về số lợng và chất lợng lao động cụ
thể là thế nào.
Với những hạn chế nêu trên, không thể giữ nguyên quan niệm cũ về
tiền lơng, mà cần phải có sự đổi mới để thích ứng với cơ chế mới, khi chuyển
sang nền kinh tế hàng hoá nhiều thành phần vận động theo cơ chế thị trờng có
sự quản lý của Nhà nớc theo định hớng xã hội chủ nghĩa.
b) Tiền lơng trong cơ chế thị trờng:
* Một số yêu cầu:
- Phải quan niệm sức lao động là một loại hàng hoá của thị trờng yếu tố
sản xuất, mà lại là loại hàng hoá đặc biệt, cho nên nó phải có thuộc tính của
hàng hoá, phải đợc mua bán và nó sẽ có những thị trờng của nó. Tuy nhiên tuỳ
từng khu vực, từng thành phần kinh tế với những đặc thù riêng, mà sức lao
4
và giá cả thị trờng chung về lao động, còn khu vực hành chính sự nghiệp
5
nguồn chi trả lơng nằm trong ngân sách nhà nớc, mà mgân sách nhà nớc đợc
hình thành chủ yếu thông qua thuế và lợi nhuận của kinh tế Nhà nớc. Vì thế
tiền lơng ở khu vực này xét về nguồn dự trữ nó là một phần của thu nhập quốc
dân.
Nhng cơ cấu phân phối thu nhập quốc dân phải đảm bảo chi phí tiền l-
ơng cho lao động ở khu vực này tơng quan một cách thích hợp với tiền lơng ở
khu vực sản xuất kinh doanh.
Sở dĩ tiền lơng ở mỗi khu vực là khác nhau ở một mức độ nào đó, do
đặc thù của nó quyết định. Song nhìn chung, giá cả sức lao động vẫn do quy
luật cung cầu quyết định, nó điều tiết lao động từ khu vực này sang khu vực
khác, sức lao động là hàng hoá, mà tiền lơng là giá cả của nó, do vậy tiền lơng
trong nền kinh tế thị trờng cũng chứa đựng những yếu tố cạnh tranh, làm cho
chất lợng lao động ngày càng tăng lên.
2)Tạo động lực
Nh chúng ta biết, bất kỳ sự hoạt động nào của con ngời cũng đều bắt
nguồn từ những nhu cầu, mà đặc biệt trong quá trình tiến hành hoạt động lao
động của mình, con ngời cũng thể hiện những nhu cầu, ớc muốn rõ ràng hơn,
nhằm đảm bảo lợi ích của họ nh tiền lơng, tiền thởng, phụ cấp và những yếu tố
về phúc lợi xã hội khác...
Thoả mãn các nhu cầu chính là đảm bảo lợi ích cho ngời lao động cả về
vật chất, tinh thần và quan tâm hơn nữa đến cả lợi ích tâm lý của họ, tạo cho
họ có một tâm lý ổn định, cảm thấy yên tâm trong suốt quá trình lao động của
họ.
Muốn vậy để phát triển một ngành kinh tế trong một vùng lãnh thổ, một
nghề nào đó, trớc hết phải tạo sức hấp dẫn đối với con ngời nói chung và ngời
lao động nói riêng, đạt đợc lợi ích cao hơn những nơi khác. Thoả mãn lợi ích
chính đáng của họ là động lực kinh tế trực tiếp thúc đẩy kinh tế phát triển.
Mặt khác, trong quá trình lao động, nhà quản lý có nhiệm vụ tổ chức
Tiền lơng luôn gắn liền với ngời lao động có vai trò kích thích, nâng
cao năng lực làm việc phát huy mọi khả năng vốn có để tạo ra năng suất lao
động cao của ngơì lao động. Tiền lơng là động lực để ngời lao động vơn tới
tầm cao hơn của tài năng, sức lực và sáng tạo góp phần thúc đẩy kinh tế phát
triển.
7
Khi ngời lao động làm việc có năng suất cao, đem lại hiệu quả rõ rệt thì
ngời sử dụng lao động cần quan tâm tới việc tăng lơng cao hơn so với giá trị
sức lao động để kích thích ngời lao động. Ngoài việc tăng lơng ngời sử dụng
lao động cần áp dụng biện pháp thởng góp phần thúc đẩy hơn nữa khả năng
làm việc của ngời lao động, chính là tạo ra động lực để họ làm việc có năng
suất và hiệu quả hơn nữa, góp phần vào sự phát triển chung của toàn doanh
nghiệp.
II. Cơ cấu tiền lơng tối thiểu:
1) Phơng pháp luận xác định lơng tối thiểu:
a) Nhu cầu tối thiểu:
Đợc hiểu nh là sự đòi hỏi của ngời lao động về điều kiện sinh hoạt tối
thiểu về vật chất và tinh thần để tồn tại và làm việc đợc phân chia thành hai
hệ thống là nhu cầu sinh học và nhu cầu xã hội . Cùng với sự phát triển của
nền sản xuất xã hội thì nhu cầu của con ngời ngày càng đợc tăng lên.
b) Mức sống tối thiểu
Là một mức độ thoả mãn những nhu cầu tối thiểu của ngời lao động
trong một thời kỳ nào đó đợc biểu hiện dới hai dạng hiện vật và giá trị. Mức
sống tối thiểu bao gồm cơ cấu, chủng loại các t liệu sinh hoạt cần thiết để tái
sản xuất sức lao động giản đơn.
Về mặt giá trị đợc biểu hiện giá trị của các t liệu sinh hoạt và các công
việc dịch vụ, nó liên quan chặt chẽ với lơng tối thiểu. Mức sống tối thiểu đợc
đảm bảo thông qua tiền lơng tối thiểu và các phúc lợi công cộng.
8
c) Tiền lơng tối thiểu
Năm 1997 là 144.000 đồng/tháng
Năm 1999 là 180.000 đồng/tháng
Năm 2001 là 210.000 đồng/tháng
So với chuẩn nghèo thì lơng tối thiểu hiện nay bằng 2,62 nông thôn
miền núi, bằng 2,1 với chuẩn nghèo nông thôn miền xuôi, bằng 1,4 chuẩn
nghèo thành thị. Cơ cấu chi dùng trên cũng đợc tính toán xây dựng ở vùng
chuẩn.
Hiện nay do nhu cầu cuộc sống và sự phát triển của xã hội, cơ cấu chi
dùng đã có sự thay đổi theo chiều hớng tỷ lệ, chi cho ăn uống giảm xuống, nh-
ng nhu cầu về nhà ở, học tập, giao tiếp xã hội... lại nâng lên thể hiện nh sau:
- Chi dùng cho ăn uống chiếm dới 30%
- Nhà ở: 11,41%
- Giao tiếp xã hội: 11,23%
- Học tập: 11,51%
b) Xác định tiền lơng tối thiểu trên cơ sở tiền công trung bình trả cho
ngời lao động trên thị trờng lao động.
Căn cứ vào mức tiền công trả cho ngời lao động ở mỗi ngành, mỗi
vùng, lao động chính, phụ, phụ trợ, dịch vụ, trên cơ sở tính đơn giá tiền công
trung bình thì mức tiền công trả cho lao động giản đơn (xem nh tối thiểu) bình
quân vào khoảng 340.000 - 440.000 đồng/tháng (ngành xây dựng).
c) Xác định mức tiền lơng tối thiểu trên cơ sở khả năng chi trả của
doanh nghiệp.
Doanh nghiệp thực hiện việc chi trả tiền lơng và các khoản khác ngoài
lơng dựa vào tổng quỹ lơng đã đợc xác định thông qua việc lập kế hoạch quỹ
lơng hàng năm.
Nh vậy khả năng chi trả của Doanh nghiệp đối với mức lơng tối thiểu là
từ 333.000 - 521.000 đồng.
d) Xác định mức tiền lơng tối thiểu từ khả năng chi trả của nền kinh
tế (GDP) và quỹ tiêu dùng dân c.
10
tiền lơng hiện hành không còn phù hợp. Vì vậy cần thiết phải sớm cải cách
chính sách tiền lơng với những nội dung cơ bản sau:
12