Thông tin
48 - Tạp chí luật học
bảo vệ quyền tác giả đối với sản
bảo vệ quyền tác giả đối với sản bảo vệ quyền tác giả đối với sản
bảo vệ quyền tác giả đối với sản
phẩm phần mềm trong pháp luật Mĩ
phẩm phần mềm trong pháp luật Mĩphẩm phần mềm trong pháp luật Mĩ
phẩm phần mềm trong pháp luật Mĩ
ThS. Nguyễn Thanh Tâm *
rong hệ thống pháp luật hiện hành của
nớc ta, vấn đề bảo vệ quyền tác giả đối
với sản phẩm phần mềm đợc quy định chủ
yếu tại Điều 747 BLDS, Điều 4 Nghị định số
76/CP ngày 29/11/1996 hớng dẫn thi hành
một số quy định về quyền tác giả trong
BLDS, Điều 131 và Điều 171 BLHS Nghị
quyết số 07/2000/NQ - CP ngày 5/6/2000
của Chính phủ về xây dựng và phát triển
công nghiệp phần mềm giai đoạn 2000 -
2005. Trên thực tế, lĩnh vực khoa học thông
tin rất phức tạp, việc ăn cắp phần mềm máy
tính dễ dàng và nhanh chóng, trong khi đó
các quy định pháp luật nói trên lại cha đủ
cụ thể và chi tiết để bảo vệ đợc quyền tác
giả đối với sản phẩm phần mềm. Việc tham
các quan hệ x hội tại bang mình còn pháp
luật liên bang chỉ điều chỉnh một số vấn đề
nhất định, trong đó có vấn đề quyền sở hữu
trí tuệ. Kể từ năm 1976, Mĩ áp dụng duy nhất
luật của liên bang liên quan đến quyền sở
hữu trí tuệ. Luật bản quyền hiện hành đ loại
bỏ việc truy cứu trách nhiệm hình sự theo
luật của bang đối với các tội phạm liên quan
đến bản quyền. Trong mọi trờng hợp, việc
truy cứu trách nhiệm hình sự đối với ngời
phạm tội liên quan đến bản quyền chỉ có thể
đợc tiến hành trong hệ thống luật liên bang.
ở Mĩ phần mềm máy tính đợc bảo vệ
T
* Giảng viên Khoa luật quốc tế
Trờng đại học luật Hà Nội Thông tin
Tạp chí luật học - 49
bằng luật bản quyền và các điều ớc quốc tế
về bản quyền mà Mĩ là thành viên. Sau đây
là một số văn bản pháp luật Mĩ đợc áp dụng
để bảo vệ quyền tác giả đối với sản phẩm
phần mềm:
- Hiến pháp;
- Luật bản quyền đợc pháp điển hoá
trong Phần 17 và Phần 18, Mục 2319 - Bộ
Workstation, MS - DOS, ), Microsoft
Server, Internet Explorer, Netscape,
Những hành vi sau đây đợc coi là copy
một chơng trình phần mềm:
- Tải phần mềm vào bộ nhớ tạm thời của
máy tính bằng cách chạy chơng trình từ đĩa
mềm, đĩa cứng, CD - ROM hoặc phơng tiện
lu trữ khác;
- Copy phần mềm lên phơng tiện lu trữ
khác nh đĩa mềm hoặc đĩa cứng của máy
tính ;
- Chạy chơng trình trên máy tính từ
chơng trình phụ mà trong đó có phần mềm
hoặc lu trữ phần mềm.
Hầu nh tất cả các phần mềm máy tính
đợc chuyển giao trực tiếp hoặc gián tiếp từ
chủ sở hữu bản quyền (ngời phát hành phần
mềm) cho ngời sử dụng thông qua loại hợp
đồng đợc gọi là thoả thuận license dành
cho ngời sử dụng cuối cùng (EULA - End
User License Agreement). Mỗi loại sản
phẩm có một loại EULA tơng ứng.
Việc sử dụng các sản phẩm của các chủ
sở hữu phần mềm, chẳng hạn nh Microsoft,
đợc điều chỉnh bằng các quy định của
EULA và Luật bản quyền. EULA là hợp
đồng cho phép sử dụng sản phẩm phần mềm
đợc chuyển giao và quy định các quyền của
ngời sử dụng phần mềm Microsoft trên máy
tính cá nhân. Đồng thời EULA áp đặt một số
cũng đợc phép lu trữ hoặc cài đặt một
copy của một bộ phận phần mềm máy tính
vào máy tính, để cho các máy tính khác sử
dụng phần mềm trên mạng nội bộ và phân
phối sản phẩm phần mềm cho các máy tính
khác trên một mạng nội bộ. Tuy nhiên, các
máy tính này cũng phải có EULA. Không
đợc phép sử dụng 1 EULA cho nhiều máy
tính;
- Lựa chọn hệ điều hành: Chẳng hạn, nếu
sản phẩm phần mềm có cả Windows 95
(hoặc các Windows khác) và một hệ điều
hành Microsoft thay thế nh Windows for
Workgroups; MS - DOS & the Windows;
MS - DOS & the Windows for Workgroups;
hệ điều hành Windows thì ngời sử dụng chỉ
đợc phép sử dụng một trong các loại hệ điều
hành nói trên và hệ điều hành đó sẽ đợc cài
đặt vào máy tính còn các hệ điều hành không
đợc lựa chọn sẽ tự động bị huỷ từ ổ cứng
của máy tính;
- Nếu nhà sản xuất không có copy lu
của sản phẩm phần mềm, ngời sử dụng
đợc phép sử dụng tác dụng lu của
Microsoft, nếu có, để tạo một copy lu duy
nhất của sản phẩm phần mềm. Ngời sử
dụng chỉ đợc phép sử dụng copy lu với lí
do lu trữ. Sau khi tạo copy lu duy nhất, tác
dụng lu sẽ bị mất khả năng hoạt động.
Ngoài ra, ngời sử dụng phải chấp nhận
toàn bộ các bộ phận cấu thành nh các
phơng tiện, các tài liệu in sẵn, các chơng
trình nâng cấp) đồng thời ngời mua đồng ý Thông tin
Tạp chí luật học - 51
tuân thủ các quy định của EULA. Nếu sản
phẩm phần mềm là sản phẩm nâng cấp thì
việc chuyển giao phải bao hàm toàn bộ bản
gốc của sản phẩm phần mềm.
3. Các quyền của chủ sở hữu phần
mềm
Chủ sở hữu phần mềm đợc phép đình
chỉ EULA nếu ngời sử dụng không tuân thủ
các quy định của EULA. Trong trờng hợp
này, ngời sử dụng phải huỷ toàn bộ các bản
copy của sản phẩm phần mềm và toàn bộ các
bộ phận cấu thành của nó.
Pháp luật Mĩ cũng quy định những
trờng hợp ngoại lệ của đặc quyền của chủ
sở hữu bản quyền đối với sản phẩm phần
mềm nh sau:
- Chính phủ có thể tịch thu, quốc hữu hoá
tài sản công dân, trong đó có cả tài sản trí tuệ
(bao hàm sản phẩm phần mềm) theo nguyên
tắc có bồi thờng;
- Mọi ngời có thể sử dụng tác phẩm
đợc bảo vệ bản quyền cho mục đích bình
phần mềm thờng thể hiện dới các dạng
hành vi sau đây:
- Sao chép lậu phần mềm. Sao chép lậu
phần mềm là việc sao chép, tái bản, sử dụng,
sản xuất sản phẩm phần mềm bất hợp pháp.
Tỉ lệ sao chép lậu trung bình là 50%. ở một
số nớc, tỉ lệ đó là 99%.
- Lạm dụng license. Lạm dụng license
thờng xuất hiện ở các cơ sở nghiên cứu
khoa học; hoặc lạm dụng những sản phẩm
đợc phân phối dới dạng sản phẩm khuyến
mại, sản phẩm mẫu (sản phẩm Not for
Resale - NFR) vào mục đích thơng mại.
- Tội phạm liên quan đến bản quyền đối
với sản phẩm phần mềm.
Trớc kia, để thực hiện hành vi vi phạm
pháp luật sở hữu trí tuệ đòi hỏi tốn nhiều
công sức. Chẳng hạn, phải tự in sao các băng
nhạc, băng hình để tiêu thụ lậu. Còn hiện
nay, cuộc cách mạng tin học và kĩ thuật số
đ liên tục làm thay đổi hoạt động trên. Các
hình ảnh, phim, kế hoạch kinh doanh đợc
vi tính hoá và lu giữ trên các đĩa thông tin
có thể cho vào túi áo, túi quần. Ngời ta
không cần phải làm động tác đánh cắp đồ vật Thông tin
52 - Tạp chí luật học
tính trên toàn thế giới bị ăn cắp. Riêng năm
1999, hoạt động ăn cắp phần mềm làm nền
kinh tế Mĩ thiệt hại 12,2 tỉ USD, trong khi đó
thiệt hại từ năm 1995 đến năm 1999 là 59 tỉ
USD. Điều này cho thấy, tình trạng ăn cắp
phần mềm ở Mĩ ngày càng gia tăng.
(1)
Pháp luật Mĩ sử dụng các biện pháp sau
đây để xử lí vi phạm bản quyền đối với sản
phẩm phần mềm:
- Đối với các vi phạm mang tính dân sự
(Bộ luật Mĩ, phần 17) mà ngời khởi kiện là
chủ sở hữu bản quyền thì toà án có thể:
+ Yêu cầu bị đơn chấm dứt vi phạm hoặc
ngăn chặn các hàng hoá vi phạm tiếp cận thị
trờng;
+ Ra lệnh bắt giữ hoặc phá huỷ tài sản vi
phạm của bị đơn và bất kì vật dụng, hàng hoá
nào đợc sử dụng để sản xuất ra mặt hàng vi
phạm;
+ Yêu cầu bị đơn bồi thờng thiệt hại.
- Đối với các vi phạm mang tính hình sự
(Bộ luật Mĩ, phần 18, mục 2.319), ngời
khởi kiện là Nhà nớc Mĩ thì vi phạm luật
bản quyền bị coi là tội phạm, với điều kiện:
+ Ngời thực hiện hành vi vi phạm có lỗi
cố ý;
+ Vì mục đích vụ lợi tài chính;
+ Thực hiện hành vi in sao hoặc phân
họ có thể lựa chọn những chơng trình khác
tốt hơn, chẳng hạn nh Netscape.
Những quốc gia nào có quan hệ thơng
mại với nớc Mĩ đều phải biết đến Mục 301
đặc biệt trong pháp luật Mĩ. Mục 301 đặc
biệt đòi hỏi cơ quan đại diện thơng mại Mĩ
xác định những nớc nào từ chối bảo vệ
quyền sở hữu trí tuệ, từ đó tiến hành thơng
lợng. Nếu kết quả không đạt yêu cầu, Mĩ sẽ
thực hiện hành động trả đũa đối với nớc đó.
Quy định pháp luật này đ gây áp lực đối với
các nớc khác nh Nhật Bản, Trung Quốc
trong lĩnh vực pháp luật về sở hữu trí tuệ.
Năm 1992, Trung Quốc đ đồng ý tăng
cờng bảo vệ quyền sở hữu trí tuệ và gia
nhập Công ớc Bern.
Theo pháp luật Mĩ, ba đặc trng đợc
nêu trong định nghĩa sáng chế (tính mới, tính
sáng tạo, tính hữu ích) đợc giải thích rất
thoáng. Do đó, pháp luật về bảo vệ quyền sở
hữu đối với sáng chế đợc mở rộng để bảo vệ
phần mềm máy tính. Bản thân chơng trình
máy tính không phải là đối tợng đợc cấp
văn bằng sáng chế. Tuy nhiên, nếu việc sử
dụng chơng trình máy tính là cần thiết cho
việc áp dụng sáng chế thì nó có thể tạo nên
bộ phận của sáng chế tổng thể và đợc cấp
văn bằng./.
(1). Số liệu của Cục điều tra liên bang Mỹ (FBI) -
tợng lợi dụng việc nuôi con nuôi để chung
sống trái pháp luật hoặc để thực hiện hành vi
nào đó có lợi cho một trong hai bên hoặc cả
hai bên nh nuôi con nuôi để nhập khẩu,
nhập quốc tịch, để xuất cảnh, nhận làm con
nuôi của ngời là thơng binh để đợc hởng
sự u đi./. Th«ng tin
54 - T¹p chÝ luËt häc