bảo hộ quyền tác giả đối với tác phẩm âm nhạc thực trạng và giải pháp - Pdf 30

TRƯỜNG ĐẠI HỌC CẦN THƠ
KHOA PHÁT TRIỂN NÔNG THÔN
– – –  – – –

Niên Khóa: 2010 – 2014
Đề tài:

BẢO HỘ QUYỀN TÁC GIẢ
ĐỐI VỚI TÁC PHẨM ÂM NHẠC
THỰC TRẠNG VÀ GIẢI PHÁP

Giảng viên hướng dẫn:

Sinh viên thực hiện:

ThS. Nguyễn Thị Ngọc Tuyền

Lê Văn Chất

Bộ môn Luật Tư Pháp

MSSV: 5107389

Khoa Luật – ĐHCT

Luật Tư Pháp – K36

Cần Thơ, tháng 12/ 2013


Đề tài: Bảo hộ quyền tác giả đối với tác phẩm âm nhạc - Thực trạng và Giải pháp



Đề tài: Bảo hộ quyền tác giả đối với tác phẩm âm nhạc - Thực trạng và Giải pháp
NHẬN XÉT CỦA GIẢNG VIÊN HƯỚNG DẪN
...........................................................................................................................
...............................................................................................................................
...............................................................................................................................
...............................................................................................................................
...............................................................................................................................
...............................................................................................................................
...............................................................................................................................
...............................................................................................................................
...............................................................................................................................
...............................................................................................................................
...............................................................................................................................
...............................................................................................................................
...............................................................................................................................
...............................................................................................................................
...........................................................................................................................
...............................................................................................................................
...............................................................................................................................
...............................................................................................................................
...............................................................................................................................
...............................................................................................................................
...............................................................................................................................
...............................................................................................................................
...............................................................................................................................
...............................................................................................................................
...............................................................................................................................
...............................................................................................................................

...............................................................................................................................
...............................................................................................................................
...............................................................................................................................
...............................................................................................................................
...............................................................................................................................
...............................................................................................................................
...............................................................................................................................
...............................................................................................................................
...............................................................................................................................
...............................................................................................................................
...............................................................................................................................
...............................................................................................................................
...............................................................................................................................
Cần thơ, Ngày…. tháng…. năm 2013
Hội đồng phản biện

GVHD: Nguyễn Thị Ngọc Tuyền

SVTH: Lê Văn Chất


Đề tài: Bảo hộ quyền tác giả đối với tác phẩm âm nhạc - Thực trạng và Giải pháp

MỤC LỤC
LỜI MỞ ĐẦU .......................................................................................... 1
1. Lý do chọn đề tài .................................................................................... 1
2. Mục đích nghiên cứu, phạm vi nghiên cứu................................................... 2
3. Phương pháp nghiên cứu .......................................................................... 2
4. Kết cấu đề tài ......................................................................................... 3
CHƯƠNG 1. KHÁI QUÁT CHUNG VỀ QUYỀN TÁC GIẢ ĐỐI VỚI TÁC

2.2.1. Tác giả………………………………………………………………….25
2.2.2. Chủ sở hữu quyền tác giả……………………………………...……….26
2.3. Nội dung về quyền tác giả đối với tác phẩm âm nhạc .............................28
2.3.1. Quyền nhân thân……………………………………………………..…29
2.3.2. Quyền tài sản……………………………………………………….…..31
2.4. Giới hạn về quyền tác giả đối với tác phẩm âm nhạc ..............................35
2.4.1. Sử dụng tác phẩm âm nhạc không phải xin phép không phải trả tiền….36
2.4.2. Sử dụng tác phẩm âm nhạc không phải xin phép nhưng trả tiền…...….38
2.5. Thời hạn bảo hộ về quyền tác giả đối với tác phẩm âm nhạc .................40
2.6. Những phương thức chuyển giao quyền tác giả đối với tác phẩm âm
nhạc ..................................................................................................................41
2.6.1. Chuyển nhượng quyền tác giả …………………………………………41
2.6.2. Chuyển quyền sử dụng quyền tác giả ………………………………….42
2.7. Các hành vi xâm phạm về quyền tác giả đối với tác phẩm âm nhạc và
một số biện pháp bảo vệ...................................................................................43
2.7.1. Các dạng hành vi xâm phạm về quyền tác giả âm nhạc………………..43
2.7.2. Các biện pháp bảo vệ quyền tác giả đối với tác phẩm âm nhạc…..........46
2.7.2.1. Biện pháp tự bảo vệ……………………………………………………...46
2.7.2.2. Biện pháp dân sự…………………………………………………..48
2.7.2.3. Biện pháp hành chính……………………………………………………49
2.7.2.4. Biện pháp hình sự ………………………………………………...51
CHƯƠNG 3. THỰC TRẠNG VÀ GIẢI PHÁP VỀ BẢO HỘ QUYỀN TÁC
GIẢ ĐỐI VỚI TÁC PHẨM ÂM NHẠC......................................................53
3.1. Tình hình chung về xâm phạm quyền tác giả âm nhạc Việt Nam hiện
nay ....................................................................................................................53
GVHD: Nguyễn Thị Ngọc Tuyền

SVTH: Lê Văn Chất



quan hệ kinh tế quốc tế. Từ khi Việt Nam trở thành thành viên chính thức của Tổ
chức Thương mại Thế giới (WTO), vấn đề bảo vệ quyền sở hữu trí tuệ nói chung và
quyền tác giả âm nhạc nói riêng ngày càng được quan tâm hơn. Tuy nhiên, thực tế
cho thấy tình trạng xâm phạm quyền tác giả vẫn đang diễn ra rất phổ biến ngày càng
phức tạp ở hầu hết các lĩnh vực và mức độ khác nhau, nhất là trong lĩnh vực văn
học, báo chí, âm nhạc, kỹ thuật số, phần mềm máy tính… Tình trạng này gây ảnh
hưởng đến các hoạt động sáng tạo, nghiên cứu, môi trường đầu tư, phát triển kinh
tế, văn hóa, xã hội của đất nước và tiến trình hội nhập kinh tế quốc tế.
Nhìn chung, Tác phẩm âm nhạc có vai trò quan trọng trong việc làm phong phú
văn hóa, làm giàu tinh thần của con người Việt Nam. Vì thế đối với các nước đang
phát triển như Việt Nam thì việc bảo hộ quyền tác giả đối với tác phẩm âm nhạc có
vai trò nhất định trong việc thu hút đầu tư, ổn định tinh thần của các văn nghệ sĩ,
đồng thời khích lệ khả năng sáng tạo trong nhân dân. Nhiều năm qua vấn đề xâm
phạm quyền tác giả âm nhạc ngày càng trở nên nghiêm trọng và khiến nhiều tác giả,
chủ sở hữu quyền tác giả bức xúc. Cũng bởi một số nguyên nhân là do những người
có quyền tác giả chưa chủ động đăng ký, chưa thật sự có trách nhiệm trong việc bảo
vệ quyền tác giả của mình, và bộ máy nhà nước có nhiều cố gắng nhưng hoạt động
kiểm tra xử lý chưa nghiêm minh triệt để. Bên cạnh, nhận thức của người sử dụng
âm nhạc chưa cao, chỉ vì lợi ích trước mắt của bản thân và một số tổ chức, cá nhân
sử dụng, khai thác tác phẩm bất chấp pháp luật, bất chấp đạo đức kinh doanh xâm
phạm nghiêm trọng đến quyền tác giả. Cùng với sự phát triển mạnh mẽ khoa học kỹ
thuật đã đem lại cho thế giới những tiện ích trong các phương tiện truyền thông và
giải trí, giúp cho các văn nghệ sĩ thuận lợi cho việc sáng tác và thúc đẩy tinh thần
sáng tạo của họ. Và đây cũng là điều kiện thuận lợi cho các hành vi xâm phạm
quyền tác giả đối với tác phẩm âm nhạc cũng phát triển theo.
Trong thời gian qua, các văn bản quy phạm pháp luật, hướng dẫn thi hành Luật
sở hữu trí tuệ nói chung và quyền tác giả âm nhạc nói riêng đã được ban hành và có
những thành tích đáng kể. Tuy nhiên, các mối quan hệ trong luật sở hữu trí tuệ cũng
như những quy định về quyền tác giả âm nhạc có những chuyển biến nhất định,
nhanh chóng đòi hỏi những thay đổi của quy định pháp luật. Bên cạnh, hành lan

sử dụng tác phẩm của mình. Tuy nhiên, việc quản lý quyền đơn lẻ theo từng cá nhân
chủ sở hữu gần như là bất khả thi. Một tác giả không thể nào kiểm soát được tác
phẩm của mình được sử dụng ở những đâu, vào những thời điểm nào, phục vụ
những mục đích gì… Vì vậy, sở hữu trí tuệ là một phạm trù có phạm vi nghiên cứu
rộng trong quyền sở hữu trí tuệ nói chung và quyền tác giả âm nhạc nói riêng. Bao
gồm nhiều đối tượng được bảo hộ cũng như những quy định pháp luật về quyền tác
giả. Cho nên trong phạm vi nghiên cứu, do hạn chế về hiểu biết và thời gian nghiên
cứu nên người viết chỉ nghiên cứu về những quy định của pháp luật về bảo hộ
quyền tác giả âm nhạc. Bên cạnh, còn đưa ra những thực trạng và giải pháp cũng
như việc ngăn chặn các hành vi xâm phạm quyền tác giả, từ đó đưa ra những ý kiến
đánh giá nhằm hoàn thiện hơn pháp luật về bảo hộ quyền tác giả âm nhạc Việt Nam.
3. Phương pháp nghiên cứu

GVHD: Nguyễn Thị Ngọc Tuyền

2

SVTH: Lê Văn Chất


Đề tài: Bảo hộ quyền tác giả đối với tác phẩm âm nhạc - Thực trạng và Giải pháp
Trong quá trình nghiên cứu đề tài người viết có sử dụng một số phương pháp
nghiên cứu tổng hợp từ các tạp chí, sách báo cũng như những tài liệu nghiên cứu từ
các thông tin pháp lý trên Internet… Bên cạnh, người viết còn tham khảo một số vụ
việc xảy ra trong lĩnh vực sở hữu trí tuệ nói chung và quyền tác giả âm nhạc nói
riêng trên các phương tiện thông tin đại chúng để phục vụ cho việc nghiên cứu.
Ngoài ra người viết còn sử dụng phương pháp phân tích luật viết, kết hợp với tìm
hiểu thực tế, đồng thời phân tích những quy định của pháp luật, từ đó đưa ra những
nhận định khách quan, nhằm đánh giá khái quát chung quá trình bảo hộ quyền tác
giả đối với tác phẩm âm nhạc Việt Nam.

hữu hoặc tác giả, hoặc cả hai. Còn chủ thể là tổ chức thì có quyền tác giả với tư
cách là chủ sở hữu.1
Quyền tác giả hay tác quyền (copyright) là độc quyền của một tác giả cho tác
phẩm của người này. Quyền tác giả được dùng để bảo vệ các sáng tạo tinh thần có
tính chất văn hóa không bị vi phạm bản quyền, như các bài viết về khoa học hay văn
học, sáng tác nhạc, ghi âm, tranh vẽ, hình chụp, phim và các chương trình truyền
thanh. Quyền này bảo vệ các quyền lợi cá nhân và lợi ích kinh tế của tác giả trong
mối liên quan với tác phẩm, quyền tác giả thông thường chỉ được công nhận khi
sáng tạo này mới, có một phần công lao của tác giả và có thể chỉ ra được là có tính
chất duy nhất.2 Hiểu một cách đơn giản, quyền tác giả cho phép tác giả và chủ sở
hữu quyền tác giả được độc quyền khai thác tác phẩm, chống lại việc sao chép, trình
diễn bất hợp pháp. Ví dụ Tác giả một tác phẩm âm nhạc được làm chủ thành quả
lao động trí tuệ của mình, được độc quyền công bố, hoặc cho người khác công bố
tác phẩm âm nhạc của mình. Việc sao chép, phổ biến nội dung tác phẩm mà không
có sự đồng ý của tác giả là xâm phạm quyền tác giả.
Từ khái niệm quyền tác giả, người viết có thể suy ra được quyền tác giả là một
quan hệ pháp luật dân sự, các yếu tố cấu thành của quan hệ pháp luật dân sự quyền
tác giả. Chủ thể của quan hệ pháp luật dân sự này là tác giả và chủ sở hữu quyền tác
giả. Khách thể hay đối tượng của quan hệ pháp luật dân sự là các tác phẩm văn học,

1

Nguyễn Phan Khôi, Tập bài giảng Luật sở hữu trí tuệ, Trường Đại Học Cần Thơ, năm 2013, trang 18
Nguyễn Hiển, Hiểu thêm về quyền tác giả, http://viettinlaw.com/hieu-them-ve-quyen-tac-gia.html[Ngày
truy cập 12/9/2013]
2

GVHD: Nguyễn Thị Ngọc Tuyền

4

hệ pháp luật dân sự về quyền tác giả là các hành vi pháp lý. Điều này có nghĩa là cơ
quan nhà nước sẽ không xem xét nội dung tác phẩm.
Thứ hai, là tác phẩm được bảo hộ phải có tính nguyên gốc, tức là không sao
chép, bắt chước tác phẩm khác. Điều đó không có nghĩa là ý tưởng của tác phẩm
phải mới, mà là hình thức thể hiện của ý tưởng phải do chính tác giả sáng tạo ra.
Như vậy, một tác phẩm muốn được bảo hộ, phải do chính sức lao động trí óc của tác
giả tạo ra. Tính nguyên gốc không có nghĩa là không có kế thừa.3 Ví dụ Ca khúc
“Trường Sơn Đông Trường Sơn Tây” của nhạc sĩ Hoàng Hiệp là chuyển từ thơ của

3

Lê Nết, Bài giảng luật sở hữu trí tuệ, Nxb đại học quốc gia thành phố Hồ Chí Minh, năm 2006, trang 50

GVHD: Nguyễn Thị Ngọc Tuyền

5

SVTH: Lê Văn Chất


Đề tài: Bảo hộ quyền tác giả đối với tác phẩm âm nhạc - Thực trạng và Giải pháp
Phạm Tiến Duật, nhưng cả Hoàng Hiệp và Phạm Tiến Duật đều được công nhận là
tác giả của tác phẩm của mình.
1.2. Khái niệm về tác phẩm âm nhạc
Quyền tác giả phát sinh ngay khi tác phẩm ra đời mà không cần đơn yêu cầu
công nhận, không phải trải qua bất kỳ thẩm định nào của cơ quan thẩm quyền,
không cần một thủ tục đăng ký nào. Do nó phát sinh dễ dàng và không được thẩm
định trước nên khi có tranh chấp hay vi phạm quyền tác giả thì công việc đầu tiên
xác định có hay không có quyền tác giả đối với sản phẩm là đối tượng tranh chấp,
nghĩa là xác định sản phẩm đó có phải là một tác phẩm hay không. Khái niệm Tác


GVHD: Nguyễn Thị Ngọc Tuyền

6

SVTH: Lê Văn Chất


Đề tài: Bảo hộ quyền tác giả đối với tác phẩm âm nhạc - Thực trạng và Giải pháp
thì mới truyền đạt được tác phẩm này đến công chúng. Một bản nhạc đã được sáng
tác, cho dù không trình diễn trước công chúng, vẫn được xem là tác phẩm âm nhạc
và được bảo hộ theo nguyên tắc luật định.
Một tác phẩm âm nhạc có thể được thể hiện bằng những ký tự âm nhạc là các
nốt nhạc hoặc lời, dù được thể hiện dưới hình thức nào một trong hai hình thức này
do tác giả, các nhà soạn nhạc lựa chọn để tác phẩm của họ được thể hiện. Tác phẩm
âm nhạc bao gồm các thể loại như Nhạc cổ điển, nhạc dân tộc - dân gian, nhạc Pop,
nhạc Rock, Hip-Hop, nhạc thiếu nhi, nhạc phim… Tác phẩm âm nhạc là một loại
hình được Luật sở hữu trí tuệ bảo hộ quyền tác giả, trong đó tác giả là những người
làm nên tác phẩm, và có toàn quyền quyết định với tác phẩm của mình, được bảo hộ
cả quyền nhân thân và quyền tài sản. Vì thế, khi một cá nhân hay tổ chức nào có
nhu cầu sử dụng trong những đêm trình diễn, đêm nhạc hội, hoặc tổ chức các live
show… Đều phải được sự đồng ý của chủ sở hữu quyền tác giả. Cho nên, có thể
hiểu tác phẩm âm nhạc là tài sản của tác giả, chủ sở hữu quyền tác giả, bất cứ ai sử
dụng vào bất cứ mục đích gì cũng phải xin phép và phải trả tiền tác quyền, Luật
pháp đã quy định như thế và đó còn là đạo lý.
1.3. Khái niệm về quyền tác giả đối với tác phẩm âm nhạc
Tác giả âm nhạc là người trực tiếp tạo ra toàn bộ hoặc một phần tác phẩm âm
nhạc, được thể hiện dưới dạng nốt trong bản nhạc hoặc có các ký tự âm nhạc khác
có hoặc không có lời, không phụ thuộc vào việc trình diễn hay không trình diễn. Có
thể nói rằng nếu tác phẩm âm nhạc là kết quả sáng tạo trực tiếp của cá nhân nào đó

tác phẩm. Quyền tài sản bảo vệ các lợi ích kinh tế của tác giả và cho phép tác giả
thu lợi bằng cách khai thác trực tiếp hoặc gián tiếp tác phẩm.
Quyền nhân thân: Quyền nhân thân bao gồm quyền nhân thân gắn với tài sản và
quyền nhân thân không gắn với tài sản. Quyền nhân thân không gắn với tài sản là
những quyền gắn liền với giá trị nhân thân của tác giả như danh dự, uy tín, tiếng
tăm của tác giả và không thể chuyển giao, bao gồm Quyền đặt tên tác phẩm, quyền
đứng tên tác phẩm và bảo vệ sự toàn vẹn nội dung tác phẩm, không cho người khác
sửa chữa, cắt xén hoặc xuyên tạc tác phẩm dưới bất kỳ hình thức nào. Quyền này
gắn liền với tác giả kể cả khi quyền sử dụng, định đoạt tác phẩm đã được chuyển
giao và được bảo hộ vô thời hạn.7 Quyền nhân thân gắn với tài sản là các quyền cho
hay không cho người khác sử dụng tác phẩm, quyền này có thể chuyển giao và gắn
liền với các chế định về quyền tài sản trong quyền tác giả. Được bảo hộ suốt cuộc
đời tác giả và năm mươi năm sau khi tác giả chết, nếu trường hợp đồng tác giả thì
quyền này được bảo hộ tới năm mươi năm sau khi tác giả cuối cùng chết.8
Quyền tài sản: Thời gian vừa qua, các hoạt động âm nhạc diễn ra khá sôi động,
nhiều cuộc thi tìm kiếm tài năng âm nhạc được tổ chức như Việt Nam Idol, Sao mai
điểm hẹn, nhiều dịch vụ âm nhạc phát triển mạnh (mạng 3G, nhạc chuông, nhạc chờ
trên điện thoại)... Có thể nói đời sống âm nhạc phát triển là điều kiện tất yếu để bản
quyền tác giả phát triển và tiền sử dụng tác phẩm, cũng như quyền tài sản của tác
giả được nâng cao hơn. Quá trình từ lúc hình thành ý tưởng đến khi một tác phẩm
âm nhạc đến tai người nghe, tác giả, chủ sở hữu quyền tác giả đã không tốn ít công
sức và tiền bạc của mình, bởi thế nên quyền tài sản là một phần đền đáp công sức và
nhằm khuyến khích sự sáng tạo của tác giả. Thiết nghĩ, đối với tác giả, chủ sở hữu
quyền tác giả thì vấn đề quyền tài sản có vẻ như không quan trọng đối với họ, nó chỉ
là vấn đề khi tác giả, chủ sở hữu quyền tác giả được các thính giả nồng nhiệt đón
6

Điều 738, Bộ luật dân sự 2005
Điều 27 khoản 1, Luật sở hữu trí tuệ 2005, sửa đổi bổ sung 2009
8

quyển sách có thể được nhân thành nhiều bản. Tác giả không thể kiểm soát, quản lý
được bao nhiêu người đang đọc quyển sách của mình, và trong số đó bao nhiêu
người đã bỏ tiền ra mua sách do mình in, còn bao nhiêu người đã mua sách từ
những nhà in lậu. Chính vì vậy mà các tác giả và các nhà in đã kiến nghị nhà nước
của mình bảo hộ quyền được in ấn và quản lý việc xuất bản, in ấn. Nước đầu tiên
ban hành luật về quyền tác giả là Anh, nơi khởi đầu cuộc cách mạng công nghiệp
(theo luật của nữ hoàng Anne năm 1709). Sau đó đến lượt Mỹ (1790), Pháp (1791)
và Đức. Như vậy, quyền tác giả phát sinh tại những nước theo hệ thống luật Anh –
Mỹ trước, rồi mới đến các nước theo hệ thống luật lục địa. Mối quan tâm ban đầu
của quyền tác giả là việc nhân bản, sao chép các tác phẩm. Chính vì thế mà ở các
nước theo luật Anh – Mỹ, luật về quyền tác giả được gọi là luật về sao chép
(copyright, hay bản quyền). Tại các nước theo luật lục địa, luật về quyền tác giả từ
khi hình thành đã nhắm đến các giá trị nhân thân của tác giả, chính vì thế mà ở các
nước này đã sử dụng danh từ “quyền tác giả”.
Kể từ khi luật về quyền tác giả ra đời, các loại hình tác phẩm được bảo hộ dưới
dạng quyền tác giả ngày một tăng, cùng với sự phát triển của các phương tiện lưu
GVHD: Nguyễn Thị Ngọc Tuyền

9

SVTH: Lê Văn Chất


Đề tài: Bảo hộ quyền tác giả đối với tác phẩm âm nhạc - Thực trạng và Giải pháp
trữ, truyền thông. Ban đầu là các tác phẩm viết, tác phẩm âm nhạc, tác phẩm sân
khấu, rồi đến tác phẩm điện ảnh, video, chương trình máy tính và gần đây là các
phương tiện truyền thông đa phương diện (multimedia) và Internet. Điều đó có
nghĩa là các loại hình tác phẩm được bảo hộ dưới dạng quyền tác giả sẽ còn tiếp tục
được gia tăng trong tương lai. Hai công ước đầu tiên về bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ
là Công ước Paris về quyền sở hữu công nghiệp năm 1883 và Công ước Berne và

GVHD: Nguyễn Thị Ngọc Tuyền

10

SVTH: Lê Văn Chất


Đề tài: Bảo hộ quyền tác giả đối với tác phẩm âm nhạc - Thực trạng và Giải pháp
kiểm nghiệm trong cuộc sống, về cơ bản phù hợp với chuẩn mực chung của thế
giới. Đồng thời nó đã phản ánh được xu thế phát triển quyền tác giả ở Việt Nam.
Nhìn chung, ta có thể so sánh được sự bảo bảo hộ quyền tác giả ở Việt Nam ra
đời muộn hơn so với các nước trên thế giới. Trong khi đó các nước trên thế giới
pháp luật về sở hữu trí tuệ đã được hình thành và phát triển khá sớm, như là Đạo
luật của Nữ hoàng Anne 1709 về quyền tác giả, hệ thống luật Anh – Mỹ về quyền
tác giả được gọi là luật sao chép (copyright, hay bản quyền), hay hệ thống luật Lục
địa về quyền tác giả và các giá trị nhân thân của tác giả. Khi mà năm 1886 các nước
đã ký các Công ước quốc tế, thì ở Việt Nam mãi đến năm 1986 chỉ có Nghị định số
142/HĐBT đã đặt nền móng cho việc xây dựng và phát triển lĩnh vực quyền tác giả,
trong đó có hệ thống quản lý nhà nước về bảo hộ quyền tác giả. Tuy ở mức độ sơ
khai, đơn giản nhưng hoạt động quản lý nhà nước về bảo hộ quyền tác giả được đề
cập trong nghị định này và các văn bản hướng dẫn thi hành nghị định sau đó. Năm
1994, Hội đồng nhà nước ban hành Pháp lệnh bảo hộ quyền tác giả và năm 1995
Quốc hội ban hành Bộ luật dân sự trong đó có chương I phần thứ 6 điều chỉnh về
quyền tác giả. Về tổng thể, các nguyên tắc và quy định cơ bản về quyền tác giả
trong Bộ luật dân sự đã thiết lập hoặc làm cơ sở để thiết lập một hệ thống phù hợp
với chuẩn mực và thông lệ quốc tế, dựa trên công ước Berne về bảo hộ tác phẩm
văn học và nghệ thuật, Công ước Rome về bảo hộ người biểu đễn, người ghi âm và
tổ chức phát sóng. Tuy nhiên, cũng cần nhận thấy rằng, có không ít vấn đề, khiếm
khuyết đã bộc lộ trong quá trình thực hiện các quy định của Bộ luật dân sự về quyền
tác giả. Một mặt, đó là sự chưa phù hợp với các chuẩn mực quốc tế hiện tại, mặt

sang thế kỷ XXI, xu thế hoà bình, hợp tác và phát triển ngày càng trở thành xu thế
chủ đạo trong các mối quan hệ Quốc tế. Thế giới đang xây dựng nền kinh tế với
những chính sách hợp tác, hội nhập Quốc tế sâu rộng, trong đó vấn đề hiệu quả và
tăng sức cạnh tranh cho các nền kinh tế được quan tâm.
Trước những xu thế hội nhập Quốc tế mạnh mẽ, trước những tác động khách
quan của nền kinh tế Thế giới và những yêu cầu cấp thiết của sự nghiệp phát triển
kinh tế – xã hội Đất nước. Vì vậy, trước tình hình đó Đảng và Nhà nước đã xác định
tầm quan trọng của sở hữu trí tuệ cũng như thúc đẩy quá trình phát triền nền kinh tế
của đất nước, và ngày 14 tháng 6 năm 2005, Bộ luật dân sự đã được Quốc hội khóa
XI thông qua tại kỳ họp thứ 7. Trong đó quyền sở hữu trí tuệ và chuyển giao công
nghệ được quy định tại phần thứ sáu với ba chương, từ Điều 736 đến Điều 757. Sau
đó ngày 19 tháng 11 năm 2005, tại kỳ họp thứ 8, Quốc hội khóa XI đã thông qua
Luật sở hữu trí tuệ với 6 phần, 18 chương, 222 điều. Và năm 2005 là năm đánh dấu
những thành tựu to lớn trong tiến trình đổi mới hệ thống pháp luật của nước ta,
Cùng lúc ra đời Luật sở hữu trí tuệ 2005 và Bộ luật dân sự 2005 đã pháp điển hóa
những quy định về quyền tác giả trong chiến lược phát triển kinh tế – xã hội, khoa
học công nghệ, sản phẩm trí tuệ… Trong đó lĩnh vực văn học, nghệ thuật bảo đảm
tự do dân chủ cho mọi hoạt động sáng tạo, tạo điều kiện để phát huy hiệu quả lao
động nghệ thuật, làm tăng giá trị tư tưởng, giá trị lịch sử hoặc các giá trị văn hóa
khoa học khác. Chỉ gồm những quy định ở mức độ nguyên tắc về quyền tác giả và
dành các quy định chi tiết hơn cho Luật sở hữu trí tuệ với ý nghĩa là văn bản pháp
luật chuyên biệt về sở hữu trí tuệ.
Tuy nhiên, qua thời gian áp dụng vào sự phát triển trong lĩnh vực sở hữu trí tuệ
nói chung và quyền tác giả nói riêng, Luật sở hữu trí tuệ 2005 còn bộc lộ một số hạn
chế, thiếu sót. Trước tình hình trên, Đảng và Nhà nước tập trung xây dựng và hoàn
thiện hệ thống chính sách, pháp luật về sở hữu trí tuệ, tạo môi trường pháp lý đầy đủ
và minh bạch cho hoạt động sở hữu trí tuệ nhằm phát triển kinh tế – xã hội và hội

GVHD: Nguyễn Thị Ngọc Tuyền


Như vậy, xét một cách tổng thể, Luật sở hữu trí tuệ dù ở phạm vi bảo hộ ở quốc gia
hay quốc tế, phải bảo vệ lợi ích của người sáng tạo, sở hữu các tài sản sở hữu trí tuệ,
đồng thời cũng nhằm đem lại lợi ích cho cộng đồng, cho xã hội. Việc đảm bảo cân
bằng các lợi ích này là một quy tắc cốt yếu và là một “mục tiêu lí tưởng” cho mọi hệ
thống chính sách về sở hữu trí tuệ.
1.5. Một số điều ước quốc tế điều chỉnh về quyền tác giả đối với tác phẩm
âm nhạc
Quyền tác giả đối với tác phẩm âm nhạc phát sinh theo pháp luật nước nào thì
chỉ có hiệu lực trong phạm vi lãnh thổ của nước đó. Để bảo hộ quyền tác giả đối với
tác phẩm âm nhạc được phát sinh trên cơ sở pháp luật nước này và được bảo hộ tiếp
tục ở nước khác thì cần phải có sự ký kết hoặc tham gia điều ước quốc tế giữa các
nước hữu quan. Trên phương diện quốc tế đã có nhiều công ước đa phương về lĩnh
GVHD: Nguyễn Thị Ngọc Tuyền

13

SVTH: Lê Văn Chất


Đề tài: Bảo hộ quyền tác giả đối với tác phẩm âm nhạc - Thực trạng và Giải pháp
vực bảo hộ quyền tác giả, quyền kề cận của quyền tác giả (gọi tắt là quyền kề cận,
hoặc quyền có liên quan) như công ước Berne 1886 về bảo hộ tác phẩm văn học
nghệ thuật, công ước Rome 1961 về bảo hộ người biểu diễn, nhà sản xuất bản ghi
âm và tổ chức phát sóng. Thỏa thuận về những khía cạnh liên quan đến thương mại
của quyền sở hữu trí tuệ (Hiệp định Trips), Hiệp ước của WIPO về quyền tác giả
(WCT) năm 1996 về bản quyền tác giả (WIPO Copyright Treaty).
1.5.1. Công ước Berne 1886 về bảo hộ tác phẩm văn học nghệ thuật
Việc một tác phẩm chỉ được bảo hộ trong phạm vi một nước nên nạn xâm
phạm quyền tác giả ở nước ngoài diễn ra ngày càng nhiều và hầu như không có biện
pháp khắc phục bởi pháp luật của một nước nơi tác phẩm phát sinh không thể bảo



Đề tài: Bảo hộ quyền tác giả đối với tác phẩm âm nhạc - Thực trạng và Giải pháp
định đạt mức hoài hòa cao giữa các nguyên tắc đặt ra. Nguyên tắc đối xử quốc gia,
nguyên tắc bảo hộ độc lập và nguyên tắc đương nhiên bảo hộ. Trong đó nguyên tắc
đối xử quốc gia là nguyên tắc cơ bản trong quan hệ quốc tế nói chung, thường được
sử dụng trong các thông lệ quốc tế, các quy định về quyền sở hữu trí tuệ. Theo công
ước Berne thì mỗi nước thành viên của Công ước phải bảo hộ quyền tác giả đối với
tác phẩm của công dân các nước thành viên khác như bảo hộ quyền tác giả cho
chính công dân nước mình, và mỗi nguyên tắc có nội dung quy định cụ thể về quyền
tác giả cho công dân của các nước thành viên.
Nguyên tắc đối xử Quốc gia: Là nguyên tắc đặt ra cho các quốc gia thành viên
thực hiện bảo hộ tác phẩm có nguồn gốc từ các quốc gia thành viên khác, tương tự
như sự bảo hộ tác phẩm của công dân quốc gia mình. Sự bảo hộ đó không kém
thuận lợi, không thấp hơn sự bảo hộ đối với công dân thuộc quốc gia mình. Nguyên
tắc này đặt ra sự bình đẳng trong đối xử với công dân và pháp nhân của các quốc
gia thành viên. (khoản 1 điều 5 Công ước)
Nguyên tắc bảo hộ đương nhiên: Là sự bảo hộ không lệ thuộc vào bất kì thủ
tục hình thức nào, Chủ sở hữu quyền tác giả có quyền đăng ký quyền tác giả tại cơ
quan Nhà nước có thẩm quyền, nhưng thủ tục này không có ý nghĩa bắt buộc. Sự
chứng nhận của cơ quan nhà nước có thẩm quyền là một chứng cứ để xác định ai là
chủ sở hữu quyền tác giả khi có tranh chấp. Do đó, khi có tranh chấp, người được
cấp giấp chứng nhận không có nghĩa vụ phải chứng minh mình là chủ sở hữu quyền
tác giả đó. (khoản 2 điều 5 Công ước)
Nguyên tắc bảo hộ độc lập: Nguyên tắc này nêu yêu cầu cho các quốc gia
thành viên việc bảo hộ để công dân và các pháp nhân được hưởng và thực thi các
quyền được cấp theo Công ước là độc lập với những gì được hưởng tại nước xuất
xứ của tác phẩm.
Tuy nhiên, cần lưu ý rằng việc bảo hộ quyền tác giả có tính chất lãnh thổ. Tác
phẩm của quốc gia cần được bảo hộ chỉ được hưởng sự bảo hộ quyền tác giả nếu

1.5.2. Công ước Rome 1961 về bảo hộ người biểu diễn, nhà sản xuất bản ghi
âm và tổ chức phát sóng
Công ước bảo hộ người biểu diễn, nhà sản xuất bản ghi âm và tổ chức phát
sóng được kí kết ngày 26 tháng 10 năm 1961 tại Rome, vì vậy còn được gọi là Công
ước Rome. Công ước để mở cho tất cả quốc gia thành viên của Công ước Berne
hoặc Công ước quyền tác giả toàn cầu (UCC). Văn kiện phê chuẩn, chấp thuận hoặc
gia nhập phải được gửi tới Tổng thư ký Liên hợp quốc. Các nước tham gia có thể
đưa ra bảo lưu về việc áp dụng một số quy định cụ thể tại Công ước. Công ước gồm
34 điều với các quy định bảo đảm sự bảo hộ tại các quốc gia thành viên, đối với các
cuộc biểu diễn của người biểu diễn, các bản ghi âm của các nhà sản xuất bản ghi âm
các chương trình phát sóng của các tổ chức phát sóng.
Người biểu diễn là các diễn viên, ca sĩ, vũ công, nhạc công, và những người
khác biểu diễn các tác phẩm văn học hoặc nghệ thuật được bảo hộ, chống lại các
hành vi cụ thể không được sự đồng ý của họ. Các hành vi này gồm Phát sóng và
truyền đạt tới công chúng cuộc biểu diễn trực tiếp của họ; định hình các cuộc biểu
diễn trực tiếp của họ; sao chép các bản định hình, hoặc nếu việc sao chép này được
thực hiện nhằm các mục đích khác với các mục đích mà họ đã đồng ý.
Nhà sản xuất bản ghi âm được hưởng quyền cho phép hoặc ngăn cấm việc sao
chép trực tiếp và gián tiếp bản ghi âm của họ. Theo Công ước Rome bản ghi âm là
9

Nguyễn Như Huỳnh, Thực Thi Quyền Tác Giả, Khoa Luật dân sự, Trường Đại học Luật Hà Nội,
http://thongtinphapluatdansu.edu.vn/2008/08/07/1502/[Ngày truy cập 17/9/2013]

GVHD: Nguyễn Thị Ngọc Tuyền

16

SVTH: Lê Văn Chất


và truyền thông đại chúng trái phép về các buổi biểu diễn trực tiếp của họ, hoặc
không được sự đồng ý của họ.
1.5.3. Hiệp định TRIPS về các khía cạnh liên quan tới thương mại của
quyền sở hữu trí tuệ
Quan hệ kinh tế quốc tế ngày càng được thắt chặt giữa các quốc gia thì càng
xuất hiện các vấn đề liên quan đến hàng giả và vi phạm bản quyền liên quan đến sở
hữu trí tuệ. Đó trở thành một vấn đề rất quan trọng trong giao dịch thương mại trên
GVHD: Nguyễn Thị Ngọc Tuyền

17

SVTH: Lê Văn Chất


Đề tài: Bảo hộ quyền tác giả đối với tác phẩm âm nhạc - Thực trạng và Giải pháp
cơ sở các sản phẩm được thương mại hóa trên thị trên thị trường. Vì vậy, Hiệp định
TRIPS về các khía cạnh thương mại của quyền sở hữu trí tuệ là kết quả của việc kí
kết các thỏa thuận theo Vòng đàm phán Uruguay, trong khuôn khổ Thỏa thuận
chung về thuế quan và mậu dịch (GATT) ngày 15 tháng 12 năm 1993. TRIPS là
một hiệp định đa phương, nằm trong hệ thống các hiệp định của Tổ chức Thương
mại Thế giới. Hiệp định TRIPS ngoài phần mở đầu gồm 7 phần với 73 Điều, nó là
một hiệp định tổng thể nhất về sở hữu trí tuệ, bao hàm các chế độ đặc biệt về sở hữu
trí tuệ mà một phần nội dung của nó dựa vào các quy định thực chất của các công
ước do Wipo quản lí, chủ yếu là Công ước Berne, Công ước Paris, Công ước Rome
và Hiệp ước Washington về thiết kế bố trí mạng tích hợp. Việc gia nhập WTO đồng
nghĩa với việc bị ràng buộc bởi nghĩa vụ thi hành TRIPS.10 Theo Hiệp định, các
quốc gia thành viên có thể, nhưng không bị bắt buộc áp dụng trong pháp luật quốc
gia mức bảo hộ cao hơn so với các yêu cầu của Hiệp định, miễn là việc bảo hộ đó
không trái với các điều khoản của Hiệp định.
Hiệp định bao gồm các vấn đề chính, các tiêu chuẩn về nội dung các quyền;




Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status