1
Mở đầu
1. Tính cấp thiết của đề tài
Phát triển công nghiệp chế biến nông, lâm sản là một trong những
nội dung quan trọng của chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp, nông
thôn theo h-ớng công nghiệp hóa, hiện đại hóa.
Thực tiễn chỉ ra rằng, một số n-ớc trên thế giới nhờ tiến hành phát
triển công nghiệp chế biến (các n-ớc đi tr-ớc nh- Anh, Pháp, Mỹ, Đức
các n-ớc đi sau nh- Nhật Bản, Đài Loan, Singapore ) đã thúc đẩy các
ngành kinh tế quốc dân, đem lại hiệu quả kinh tế xã hội cao.
Việc nghiên cứu tiếp cận công nghiệp chế biến của các n-ớc này để
tìm ra ph-ơng h-ớng, giải pháp phát triển công nghiệp chế biến nông lâm
hải sản ở Việt Nam là việc làm cần thiết.
Trong những năm gần đây, nhất là khi phát triển kinh tế hàng hóa
nhiều thành phần, vận hành theo cơ chế thị tr-ờng có sự quản lý của nhà
n-ớc theo định h-ớng XHCN, công nghiệp chế biến ở n-ớc ta có vị trí quan
trọng trong sự phát triển kinh tế xã hội. Một số sản phẩm của công nghiệp
chế biến nông lâm hải sản có giá trị xuất khẩu tăng nh- chè, cà phê, cao su,
thủy hải sản thu đ-ợc nguồn ngoại tệ lớn. Tuy vậy, ngành công nghiệp
chế biến nông lâm hải sản có những hạn chế nh- chất l-ợng chế biến nông
sản ch-a cao, khả năng cạnh tranh trên thị tr-ờng còn thấp. Khắc phục
những điều này chính là lời giải thiết thực đối với công nghiệp chế biến nói
chung và ở thành phố Hồ Chí Minh nói riêng.
Thành phố Hồ Chí Minh là một thành phố công nghiệp ở miền
Nam, là chỗ dựa cho các tỉnh đồng bằng Nam bộ, cực Nam Trung bộ và
Tây Nguyên. Là một thành phố công nghiệp lớn, do vậy thành phố Hồ Chí
Minh phải nỗ lực xây dựng, phát triển các ngành công nghiệp của thành
phố, nhất là công nghiệp chế biến nông, lâm sản. Làm đ-ợc điều này không
3
4. Phạm vi nghiên cứu
Đề tài tập trung nghiên cứu hoạt động của ngành công nghiệp chế
biến nông, lâm sản tại thành phố Hồ Chí Minh, để đề xuất những giải pháp
phát triển ngành công nghiệp chế biến nông, lâm sản ở thành phố.
5. Cơ sở lý luận và ph-ơng pháp luận
Luận án đ-ợc hình thành trên cơ sở nhận thức những quan điểm lý
luận của các nhà kinh điển chủ nghĩa Mác - Lênin và t- t-ởng Hồ Chí
Minh, quan điểm của Đảng và Nhà n-ớc, tham khảo và tiếp thu có chọn lọc
những ý kiến của các nhà kinh tế học và các nhà hoạt động kinh tế thực tiễn
qua những bài viết trên các tạp chí, tham khảo kinh nghiệm của những n-ớc
có điều kiện t-ơng tự, khái quát tình hình hoạt động của các công ty, xí
nghiệp công nghiệp chế biến nông, lâm sản trong cả n-ớc và ở thành phố
Hồ Chí Minh.
Luận văn sử dụng ph-ơng pháp nghiên cứu kinh tế - chính trị, chú ý
vận dụng tổng hợp các ph-ơng pháp so sánh, phân tích, thống kê, nghiên cứu
điển hình, ph-ơng pháp hệ thống, tổng kết thực tiễn và khái quát vấn đề.
6. Những đóng góp của luận văn
- Phân tích làm rõ hơn vai trò của công nghiệp chế biến trong quan
hệ giữa sản xuất nguyên liệu, chế biến nông, lâm sản và tiêu thụ nông, lâm
sản chế biến.
- Trình bày thực trạng ngành công nghiệp chế biến nông, lâm sản ở
thành phố Hồ Chí Minh và nêu bật những vấn đề búc xúc cần giải quyết.
- B-ớc đầu đề xuất một số giải pháp cơ bản để phát triển công
nghiệp chế biến nông, lâm sản ở thành phố Hồ Chí Minh trong quá trình
công nghiệp hóa, hiện đại hóa.
7. Kết cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu và kết luận, danh mục tài liệu tham khảo và phụ
lục, luận văn gồm 3 ch-ơng.
- Các ngành sản xuất t- liệu tiêu dùng.
Với cách chia nh- trên, công nghiệp chế biến nông, lâm sản thuộc
nhóm thứ ba.
Trong quá trình chuyển sang phát triển nền kinh tế thị tr-ờng ở n-ớc
ta, để đáp ứng yêu cầu của công tác quản lý phù hợp với tiêu chuẩn quốc tế,
việc phân loại các ngành trong nền kinh tế quốc dân trong đó có ngành
công nghiệp, đã đ-ợc tiếp cận theo quan điểm mới. Theo Nghị định 75 CP
ngày 27/10/1993 của Chính phủ về ban hành hệ thống ngành kinh tế quốc
dân cấp I và Quyết định 143-TCKT/PPGĐ ngày 22/12/1993 của Tổng cục
Thống kê ban hành và h-ớng dẫn việc thi hành hệ thống ngành kinh tế cấp
II, cấp III và cấp IV thì các ngành công nghiệp tr-ớc đây, nay đ-ợc tách ra
thành bốn nhóm ngành, cấp I gồm: công nghiệp khai thác mỏ, công nghiệp
chế biến, công nghiệp sản xuất và phân phối điện, khí đốt, n-ớc và xây
dựng. Với cách phân loại này, công nghiệp chế biến là một ngành kinh tế
độc lập, bao gồm nhiều lĩnh vực sản xuất nh- công nghiệp thực phẩm, công
nghiệp dệt và may mặc, công nghiệp đồ gỗ, công nghiệp giấy và in, công
nghiệp hóa dầu, công nghiệp luyện kim, chế biến các khoáng sản không
phải kim loại, công nghiệp chế tạo máy và công cụ kim khí.
Từ quan niệm nói trên về công nghiệp chế biến, có thể hiểu công
nghiệp chế biến nông, lâm sản là một bộ phận hợp thành của công nghiệp
thực hiện các hoạt động bảo quản, giữ gìn, cải biến và nâng cao giá trị sử
dụng của nguyên liệu từ nông, lâm, ng- nghiệp thông qua quá trình cơ nhiệt
hóa nhằm đáp ứng nhu cầu thị tr-ờng.
Qua khái niệm trên, công nghiệp chế biến nông, lâm sản gồm hai
giai đoạn:
- Giai đoạn 1: Sơ chế bảo quản. Giai đoạn này đ-ợc tiến hành ngay
sau khi thi hoạch, nằm ngoài xí nghiệp chế biến, chủ yếu sử dụng lao động
thủ công với ph-ơng tiện bảo quản và vận chuyển chuyên dùng. Nó quyết
6
- Tính đồng bộ liên ngành trong phát triển công nghiệp chế biến
nông, lâm sản thể hiện rất rõ, đặc biệt là gắn bó giữa các cơ sở chế biến
công nghiệp với sự phát triển nông, lâm nghiệp. Nguyên liệu chính, chiếm
tỷ trọng cao trong giá trị sản phẩm của công nghiệp chế biến nông, lâm sản
(th-ờng từ 70 - 80% giá thành sản phẩm), là những sản phẩm của ngành
nông, lâm nghiệp (trồng trọt, chăn nuôi, khai thác và hầu hết đ-ợc sản xuất
trong n-ớc. Vì vậy, quy mô, tốc độ phát triển, cơ cấu của công nghiệp chế
biến nông, lâm, hải sản phụ thuộc rất lớn vào quy mô, tính chất và trình độ
phát triển của sản xuất nông, lâm nghiệp. Nh-ng mặt khác, do việc chế biến
các sản phẩm của nông, lâm nghiệp, nên công nghiệp chế biến nông, lâm
sản lại là ngành bảo đảm đầu ra cho sản xuất nông, lâm nghiệp tạo động lực
cho nông, lâm nghiệp phát triển, do vậy, công nghiệp chế biến đ-ợc coi là
thị tr-ờng trực tiếp của nông, lâm nghiệp. Chính tác động này của công
nghiệp chế biến nông, lâm sản tạo điều kiện cho sản xuất phát triển theo
h-ớng sản xuất hàng hóa.
1.1.2. Vai trò của công nghiệp chế biến với sự phát triển nông,
lâm nghiệp nói riêng và kinh tế - xã hội nói chung
Quá trình của công nghiệp chế biến th-ờng phải trải qua ba khâu:
Nguyên liệu Chế biến Thị tr-ờng
Công nghiệp chế biến có vai trò rất quan trọng trong nền kinh tế
đ-ợc biểu hiện ở một số vấn đề sau.
Một là, kích thích và định h-ớng cho sản xuất nguyên liệu.
Với t- cách là cầu nối giữa nguyên liệu với thị tr-ờng, công nghiệp
chế biến nông, lâm sản có tác dụng giữ gìn chất l-ợng nguyên liệu, tạo ra
những sản phẩm có chất l-ợng cao, nhờ đó thu đ-ợc lợi nhuận cao; công
nghiệp chế biến nông, lâm sản chính là thị tr-ờng đầu ra của khâu nguyên
liệu. Nó có tác dụng định h-ớng về các mặt quy mô, cơ cấu, kích cỡ, chất
8
l-ợng, giá cả cho khâu sản xuất nguyên liệu một cách trực tiếp. Việc các
ch-a chế biến [9, 17-18].
Thứ hai: Thông qua công nghiệp chế biến nông, lâm sản tạo khả
năng mở rộng thị tr-ờng tiêu thụ, làm giảm sự phụ thuộc vào yếu tố thời
gian và khoảng cách đối với tiêu dùng các sản phẩm nông, lâm nghiệp. Sự
phát triển của công nghiệp chế biến nông, lâm sản còn làm tăng nhu cầu về
sản phẩm của nông, lâm nghiệp.
Thứ ba: Thông qua chế biến, từ một sản phẩm nông, lâm nghiệp có
thể tạo ra nhiều loại sản phẩm có những giá trị sử dụng rất khác nhau, thậm
chí tạo ra những đặc tính mới, những giá trị sử dụng mới cho sản phẩm của
nông nghiệp; từ đó nâng cao mức độ và khả năng đáp ứng nhu cầu của
ng-ời tiêu dùng. Phát triển công nghiệp chế biến góp phần quan trọng vào
việc giải quyết vấn đề việc làm cho lực l-ợng lao động ở nông thôn, đặc
biệt là qua việc phát triển hệ thống các cơ sở chế biến ngay ở nông thôn.
Điều này giải quyết việc làm lao động nông nhàn ở nông thôn (đặc biệt sau
vụ mùa và giữa hai vụ mùa).
Nh- vậy, việc phát triển công nghiệp chế biến nông, lâm sản vừa có
tác dụng trực tiếp, vừa có tác dụng gián tiếp tới sự phát triển của nông, lâm
nghiệp, vừa tạo cầu nối giữa công nghiệp và nông nghiệp, là khâu đột phá
để công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp và nông thôn.
Ba là, công nghiệp chế biến nông, lâm sản góp phần đẩy mạnh xuất
khẩu phát huy lợi thế so sánh của đất n-ớc, tăng nguồn thu ngoại tệ, tăng
khả năng tích lũy phục vụ công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất n-ớc.
Công nghiệp chế biến nông, lâm không chỉ gìn giữ, khắc phục làm
giảm h- hao sản phẩm nguyên liệu, mà còn bổ sung, làm tăng giá trị sử
dụng của các sản phẩm đó, mở rộng khả năng cung ứng hàng hóa trên thị
tr-ờng với mẫu mã, hình thức đa dạng mà còn kích thích nhu cầu mở rộng
10
khả năng tiêu dùng của xã hội. Ng-ời tiêu dùng với tâm lý sẵn sàng trả một
giá cao hơn cho những sản phẩm nếu chúng đ-ợc -a chuộng. Họ đòi hỏi
Theo Adam Smít thì ở mỗi đất n-ớc đều có những nguồn lực và tài nguyên
nhất định nh- nguồn đất đai, mặt n-ớc, khí hậu, địa hình Sự phát triển của
công nghiệp chế biến cho phép phát huy tiềm năng lợi thế của mỗi vùng,
mỗi khu vực trong việc khai thác nguyên liệu, phát huy công nghệ truyền
thống, sản xuất và chế biến sản phẩm riêng của mỗi địa ph-ơng.
Nh- vậy các quốc gia sẽ tiến hành sản xuất chuyên môn hóa những
mặt hàng có lợi thế để xuất khẩu và nhập khẩu những mặt hàng trong n-ớc
không có điều kiện sản xuất hoặc sản xuất không có lợi.
Bốn là, phát triển công nghiệp chế biến nông, lâm sản mang lại
hiệu quả kinh tế - xã hội, đóng góp quan trọng vào sự nghiệp công
nghiệp hóa, hiện đại hóa đất n-ớc.
Sự phát triển của công nghiệp chế biến tác động mạnh đến đời sống
và sự phát triển của nhiều ngành kinh tế quốc dân, nên công nghiệp chế
biến đóng vai trò quan trọng trong sự phát triển kinh tế - xã hội, nâng cao
hiệu quả của nền kinh tế. Sự phát triển của công nghiệp chế biến là một
trong những th-ớc đo quan trọng để đánh giá trình độ phát triển kinh tế của
một quốc gia. Một -u điểm là các ngành công nghiệp chế biến nông, lâm
sản không đòi hỏi vốn đầu t- lớn, không đòi hỏi công nghệ phức tạp, nh-ng
nó có khả năng thu hút đ-ợc nhiều lao động và tạo ra tích lũy lớn.
N-ớc ta là một n-ớc nông nghiệp, nền kinh tế ch-a thật phát triển đang
phải tập trung mọi lực l-ợng đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa. Ngành
công nghiệp chế biến do đó cũng ch-a phát triển, mâu thuẫn sâu sắc với nhu
cầu chế biến số l-ợng lớn nông, lâm sản của ngành nông nghiệp đang trong xu
thế phát triển theo h-ớng sản xuất hàng hóa. Hơn nữa, nền sản xuất nông
nghiệp n-ớc ta với nhiều hạn chế trong tập quán, thói quen sản xuất ch-a phù
hợp với sản xuất công nghiệp nh- ngành rau quả đã tổng kết: Do vừa trồng
chủ yếu ở quy mô hộ gia đình, d-ới 5 ha, giống không đồng nhất, chất l-ợng
12
không đều, nên không thể đ-a kỹ thuật cơ khí thu hái, lựa chọn, bảo quản. Do
Tuy nhiên, một vấn đề có tính quy luật của quá trình công nghiệp hóa
là phải có b-ớc đi cụ thể, tùy theo vai trò vị trí tr-ớc mắt, lâu dài của từng ngành
mà vạch b-ớc đi thích hợp. Chẳng hạn thời kỳ 1920, Lênin chủ tr-ơng tr-ớc hết
phát triển công nghiệp nhẹ, công nghiệp chế biến sau đó mới đến phát triển các
ngành công nghiệp khác [9, 29]. Thực tế hầu hết các n-ớc trên thế giới đều bắt
đầu công nghiệp hóa bằng phát triển công nghiệp chế biến, bởi ba lý do:
- Công nghiệp chế biến cho phép sản xuất ra những sản phẩm mới
mà nông nghiệp bị hạn chế.
- Công nghiệp chế biến là nhân tố hết sức quan trọng kích thích tăng
tr-ởng nhanh nền kinh tế, mang lại hiệu quả kinh tế xã hội cao.
- Công nghiệp chế biến tạo ra các động lực thúc đẩy các ngành kinh
tế khác trong nền kinh tế quốc dân.
Nh-ng, tùy theo điều kiện mỗi n-ớc mà quá trình phát triển công
nghiệp chế biến đ-ợc tiến hành không hoàn toàn giống nhau. Căn cứ vào
lịch sử và đặc điểm phát triển có thể thấy hai nhóm n-ớc thực hiện công
nghiệp chế biến: Nhóm các n-ớc công nghiệp hóa đi tr-ớc nh-: Anh, Pháp,
Mỹ, Đức và nhóm các n-ớc công nghiệp hóa đi sau nh- Nhật Bản, Đài
Loan, Hàn Quốc, Singapore, Thái Lan, Indonesia, Malaysia Đến nay một
số n-ớc đi sau đã và đang thành công trong phát triển công nghiệp chế biến,
có thể cung cấp những bài học kinh nghiệm cho các n-ớc còn đang ở trong
giai đoạn đầu phát triển công nghiệp chế biến.
Việc tiếp cận kinh nghiệm phát triển công nghiệp chế biến của các
n-ớc, đặc biệt là các n-ớc đi sau (NICs và ASEAN) để tìm ra giải pháp phát
triển công nghiệp chế biến ở Việt Nam là việc làm cần thiết vì các n-ớc này
có nhiều nét t-ơng đồng và xuất phát điểm gần giống với Việt Nam.
1.2.1. Về mặt chính sách và biện pháp phát triển công nghiệp
chế biến
Các n-ớc NICs bao gồm Đài Loan, Hàn Quốc, Singapore và Hồng
Kông họ bắt đầu công nghiệp hóa vào những năm 1960. Tiếp theo là các
6,7
8,2
LĐ trongCNCB
4,8
5,3
8,3
9,9
7,5
Tổng số lao động
2,1
2,3
4,3
3,8
3,5
Biểu 2: Tỷ trọng của công nghiệp chế biến trong GDP
ở Malaysia (%)
1970
1980
1985
1990
1995
2000
GDP
100
100
100
100
100
100
1990
1976
1990
Tổng số
100
100
100
100
100
100
100
100
100
100
Hàng chế biến
9,2
44,1
31,9
58,5
46,7
52,0
47,2
70,3
80,8
90,8
Nguyên liệu thô*
18,5
7,7
42,2
12,7
cao và xây dựng hệ thống tiền gửi đảm bảo thuận tiện, nhanh chóng. Hàn
Quốc khai thác truyền thống tiết kiệm của nhân dân, nâng tỷ lệ tiết kiệm
lên cao ngay trong điều kiện nền kinh tế còn ở mức tăng tr-ởng thấp. Chính
phủ các n-ớc thực hiện cam kết ổn định tiền tệ, kiểm soát lạm phát đồng
thời mở rộng chính sách thu hút đầu t- n-ớc ngoài. Thông qua chính sách
này mà tích lũy vốn và tiết kiệm trong các n-ớc tăng rất nhanh. Nên nh-
giai đoạn 1960 - 1970 mức tiết kiệm trong n-ớc ở các n-ớc này chỉ khoảng
10 - 20% GDP, thì năm 1995 - 1996 là 30 - 48%.
16
- Chính sách khuyến khích về thuế: Chính phủ các n-ớc áp dụng các
chính sách miễn và giảm thuế thu nhập, thuế kinh doanh, thuế lợi tức cho
các cơ sở chế biến mới thành lập. ở Hàn Quốc giảm thuế 5% các loại thuế
cho các cơ sở mới thành lập từ 2 - 5 năm. ở Thái Lan, Chính phủ giảm thuế
nhập khẩu máy móc các phụ kiện từ 40% xuống còn 5% vào năm 1999,
đồng thời giảm mức thuế cho các nguyên liệu thô.
- Chính sách thúc đẩy xuất khẩu: để sản phẩm chế biến tiếp cận với
thị tr-ờng thế giới, Chính phủ các n-ớc đ-a ra những chính sách khuyến
khích và trợ giúp xuất khẩu sản phẩm chế biến. Mailaysia thực hiện chính
sách trợ giúp phí tổn khi xúc tiến việc xuất khẩu nông sản, trợ giúp trong
việc xây dựng các kho chứa bảo quản và tín dụng đổi mới công nghệ. Trong
vòng 10 năm (1979 - 1989) Ngân hàng Malaysia đã tăng vốn tài chính cho
xuất khẩu từ 140 triệu lên 9.900 triệu USD. Mặt khác, họ tổ chức cung cấp
thông tin về thị tr-ờng thế giới, giới thiệu các cơ hội và những quy định
trong buôn bán quốc tế, giúp các doanh nghiệp phát triển [23, 291]. Chính
phủ Thái Lan còn có những biện pháp khuyến khích xuất khẩu nh-: Bỏ chế
độ hạn ngạch (quota), không thu thuế xuất khẩu, nhà xuất khẩu chỉ phải
nộp thuế lợi tức nếu có, tạo tín dụng thuận tiện cho các nhà kinh doanh
đ-ợc vay vốn -u đãi, khi cần thiết đ-ợc chính phủ hỗ trợ việc xuất khẩu,
định h-ớng thị tr-ờng chủ yếu, can thiệp để ký những hợp đồng lớn [13, 36].
hóa của một nền nông nghiệp h-ớng ra xuất khẩu là chủ yếu. Thực hiện đa
dạng hóa sản xuất nông nghiệp trên cơ sở phát huy các lợi thế tuyệt đối và
t-ơng đối (lợi thế so sánh) phục vụ cho mục tiêu xuất khẩu là con đ-ờng
chủ yếu để nâng cao hiệu quả của nền kinh tế nông nghiệp, từ kinh nghiệm
này trong quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp, nông thôn,
Đảng ta chủ tr-ơng: "phát triển toàn diện nông - lâm - ng- nghiệp, gắn với
công nghiệp chế biến nông - lâm - thủy sản, đổi mới cơ cấu kinh tế nông
nghiệp và nông thôn" [23, 19-21].
18
Thứ hai: áp dụng công nghệ chế biến nhiều trình độ, có trọng điểm,
mũi nhọn đi tắt lên hiện đại, tạo điều kiện chuyển sang lấy công nghệ chế
biến hiện đại làm chủ yếu. Trong điều kiện từ một n-ớc nông nghiệp lạc
hậu, trải qua nhiều năm chiến tranh, chịu ảnh h-ởng của mô hình kinh tế
tập trung quan liêu bao cấp kéo dài, làm cho đất n-ớc rơi vào tình trạng
khủng hoảng kinh tế xã hội. Sau 15 năm đổi mới, nền kinh tế có những
b-ớc khởi sắc nhất định. Song do sự gia tăng dân số, sức ép công ăn việc
làm quá lớn, ngân sách còn hạn hẹp nên tuy đã ra khỏi khủng hoảng kinh tế
xã hội, nh-ng còn một số yếu tố ch-a vững chắc nh- Đảng ta đã nhận định.
Trong điều kiện đó, việc bố trí cơ cấu công nghệ phải đa dạng, đa trình độ,
đồng thời phải biết lựa chọn khâu, ngành và mặt hàng mũi nhọn đi tắt lên
hiện đại là quan điểm đúng trong quá trình phát triển công nghiệp chế biến.
Ba là: Phối hợp đồng bộ các chính sách và giải pháp để đạt mục
tiêu đã đề ra trong từng thời kỳ nhất định, đặc biệt đối với các nông sản
xuất khẩu, các n-ớc b-ớc đầu đều có chính sách bảo hộ và các ch-ơng trình
hỗ trợ đặc biệt để tạo dựng ngành hàng xuất khẩu.
Ví dụ: Các xí nghiệp sơ chế nguyên liệu ở Malaysia, các cơ sở chế
biến nông, lâm, thủy sản ở Thái Lan, Malaisia, Philippin Trên cơ sở phát
triển các mặt hàng này, các n-ớc tập trung phát triển các ngành chế biến có
hàm l-ợng khoa học công nghệ cao.
một ngành cần đ-ợc phát triển và có nhiều điều kiện phát triển ở n-ớc ta -
một n-ớc có tiềm năng nông, lâm nghiệp nhiệt đới.
Thành phố Hồ Chí Minh có vị trí thuận lợi, nằm ở giữa vùng đồng
bằng Nam Bộ có nhiều -u đãi cho nền nông nghiệp, có nhiều sông ngòi,
cận kề biển lại là đầu mối giao thông quan trọng. Thành phố Hồ Chí Minh
cũng là trung tâm công nghiệp phát triển từ lâu, do đó có nhiều tiềm năng
phát triển công nghiệp chế biến nông, lâm sản.
Việc đẩy mạnh phát triển công nghiệp chế biến nông, lâm sản ở
thành phố Hồ Chí Minh là một yêu cầu bức xúc.
20
Ch-ơng 2
Thực trạng và tiềm năng phát triển
công nghiệp chế biến nông, lâm sản
ở thành phố Hồ Chí Minh
2.1. Đặc điểm thành phố Hồ Chí Minh với khả năng phát
triển công nghiệp chế biến nông, lâm sản
2.1.1. Vị trí của thành phố Hồ Chí Minh
Thành phố Hồ Chí Minh nằm trên vùng đồi núi thoai thoải cao hơn
mặt sông từ 2 đến 10 m, có diện tích rộng 2.056 km
2
, Bắc giáp tỉnh Tây
Ninh, Tây giáp tỉnh Long An, Đông giáp tỉnh Đồng Nai - Bình D-ơng, Nam
ăn thông ra biển. Thành phố nằm ở giữa hai hệ thống sông Đồng Nai và
sông miền Tây, là cửa ngõ của các đ-ờng thủy lẫn đ-ờng bộ, nối với
Campuchia và hạ Lào, là nơi hội tụ của nhiều sông với hệ thống kênh rạch
thuận lợi, nhờ đó làm cho sông và biển nối liền lại thành một hệ thống
cảng, cầu cảng và biển. Cùng với các cảng hàng không thuận lợi, những
điều kiện địa hình trên làm cho thành phố Hồ Chí Minh là một trong những
2.1.2. Tiềm năng phát triển công nghiệp chế biến nông, lâm sản
trên địa bàn thành phố Hồ Chí Minh
Thành phố Hồ Chí Minh với điều kiện, vị trí thuận lợi, gắn với nhiều
nguồn lực của công nghiệp chế biến, nên có tiềm năng để phát triển công
nghiệp chế biến nông, lâm sản, đó là:
Thứ nhất, Thành phố có thế mạnh về công nghiệp, tiểu thủ công
nghiệp, nhất là công nghiệp chế biến nông, lâm sản.
Tr-ớc ngày miền Nam hoàn toàn giải phóng, một số cơ sở vật chất
kỹ thuật trong công nghiệp đã hình thành. Mặc dù sản xuất công nghiệp và
tiểu thủ công nghiệp phục vụ cho nhu cầu chiến tranh thông qua việc cung
22
cấp thực phẩm, quân trang, quân dụng, sự phân bố mang tính tự phát,
thiếu hẳn một số ngành cơ bản và then chốt. Sau ngày miền Nam hoàn
toàn giải phóng, cơ sở vật chất đ-ợc tiếp quản gần nh- nguyên vẹn và đ-ợc
tiếp tục tăng c-ờng qua các thời kỳ kế hoạch 5 năm (1986 - 1990) nhất là từ
1991 - 1995.
Năng lực sản xuất trong một số ngành công nghiệp nhờ vậy đã tăng
thêm. Một số sản phẩm chủ yếu do thành phố sản xuất nh- vải, thuốc lá,
bột ngọt, đồ hộp, tân d-ợc chiếm hơn một nửa sản l-ợng của cả n-ớc.
Nhiều sản phẩm đã có mặt trên thị tr-ờng thế giới. Thành phố có một hệ
thống lao động làm việc trong công nghiệp và tiểu thủ công nghiệp chiếm
khoảng 40% tổng số lao động trong các ngành kinh tế, đóng góp khoảng
một nửa tổng thu nhập quốc dân của thành phố và chiếm một phần ba giá
trị sản l-ọng công nghiệp của cả n-ớc. Nếu tính riêng tiểu thủ công
nghiệp thành phố chiếm khoảng 50% giá trị sản l-ợng tiểu thủ công nghiệp
của cả n-ớc.
Thứ hai, Có lực l-ợng cán bộ khoa học kỹ thuật đông đảo, một tiềm
năng phát triển công nghiệp chế biến nông, lâm sản.
Theo số liệu thống kê năm 1999, lực l-ợng cán bộ khoa học kỹ
phụ cận phát triển có khả năng cung ứng nhu cầu thiết yếu về l-ơng thực,
thực phẩm, nguyên liệu cho công nghiệp chế biến và tạo ra sự hài hòa cân
bằng về môi tr-ờng sinh thái. Thành phố Hồ Chí Minh có tiềm năng thế
mạnh phát triển công nghiệp chế biến, có vùng ngoại thành thuận lợi cho
việc phát triển nông, lâm nghiệp. Các huyện ngoại thành với hơn nửa triệu
nhân khẩu nông nghiệp, hơn 360 ngàn lao động chiếm 62,5% nhân khẩu
nông nghiệp, với diện tích gieo trồng các loại tính đến năm 1995 là 107.774
ha, trong đó, cây l-ơng thực 81.251 ha, rau đậu các loại 13.160 ha, cây
công nghiệp hàng năm 12.837 ha, cây hàng năm khác 526 ha [11, 75], tạo
nguồn nguyên liệu cho công nghiệp chế biến.
24
Thứ năm, Thành phố Hồ Chí Minh còn có lợi thế khác mà các địa
ph-ơng khác không có. Đó là:
- Một thành phố dân c- đông đúc, hơn 5 triệu dân, ch-a kể ng-ời
trong và ngoài n-ớc qua lại trên địa bàn thành phố. Số dân lớn tạo nên sức
mua lớn, làm cho thị tr-ờng đầu ra của công nghiệp chế biến nông, lâm sản
ngày càng tăng, đồng thời cho phép mở rộng thị tr-ờng các yếu tố đầu vào
của công nghiệp chế biến.
- Là một trung tâm giao l-u quốc tế thuận lợi so với cả n-ớc, thành
phố Hồ Chí Minh mở ra triển vọng to lớn cho việc thực hiện quan hệ kinh tế
đối ngoại với nhiều hình thức nh-: xuất nhập khẩu, hợp tác sản xuất, liên
doanh liên kết và đầu t- n-ớc ngoài. Thế mạnh này có tác dụng to lớn đối
với việc phát triển công nghiệp chế biến nh- tăng kim ngạch xuất khẩu, đổi
mới công nghệ, tạo nguồn vật t- thông qua nhập khẩu, gọi vốn đầu t-, hình
thành các khu chế xuất, khu công nghiệp kỹ thuật cao, trong đó có công
nghiệp chế biến.
- Vị trí của thành phố thuận lợi, nằm giữa Nam Bộ, Nam Trung Bộ
và Tây Nguyên, có khả năng mở rộng thị tr-ờng đầu ra hàng công nghiệp
chế biến đến các địa ph-ơng trong khu vực, đồng thời cho phép thu hút các
phần kinh tế xã hội chủ nghĩa phát triển, mà chủ yếu là kinh tế quốc doanh
phát triển. Qua cải tạo đã quốc hữu hóa 1.071 xí nghiệp công nghiệp quan
trọng chủ chốt của công nghiệp thành phố lúc bấy giờ, của 3.987 hộ t- sản
công nghiệp, biến nó thành các xí nghiệp công nghiệp xã hội chủ nghĩa.
Toàn bộ cơ sở vật chất, kinh doanh của hệ thống ngân hàng, tài chính,
th-ơng mại, dịch vụ của t- sản mại bản, t- sản th-ơng mại lớn bao gồm
110.044 hộ (kiêm thu gom nguyên liệu, bảo quản, sơ chế, bán) cũng đ-ợc
cải tạo. Ngoài ra, cải tạo 190.092 hộ t- sản, biến nó thành các xí nghiệp