Báo cáo " Thời hạn cung cấp chứng cứ của đương sự " - Pdf 11


36 - Tạp chí luật học
nghiên cứu - trao đổi

ThS. Bùi Thị Huyền *
1. Một trong những nguyên tắc đặc
trng, quan trọng của tố tụng dân sự là
nghĩa vụ cung cấp chứng cứ: Đơng sự có
nghĩa vụ cung cấp chứng cứ để bảo vệ quyền
lợi của mình. Toà án có nhiệm vụ xem xét
mọi tình tiết của vụ án và khi cần thiết có thể
thu thập thêm chứng cứ để bảo đảm cho việc
giải quyết vụ án đợc chính xác, nguyên tắc
này đợc ghi nhận tại Điều 3 Pháp lệnh thủ tục
giải quyết các vụ án dân sự (TTGQCVADS),
Điều 4 Pháp lệnh thủ tục giải quyết các vụ án
kinh tế (TTGQCVAKT), Điều 3 Pháp lệnh thủ
tục giải quyết các tranh chấp lao động
(TTGQCTCLĐ).
Theo nguyên tắc này, mỗi đơng sự, tổ
chức x hội khởi kiện, viện kiểm sát khởi tố
vì lợi ích chung có nghĩa vụ cung cấp cho
toà án các chứng cứ để chứng minh cho yêu
cầu khởi kiện, khởi tố của mình, phía đơng
sự đối lập cũng có thể đa ra chứng cứ để
yêu cầu lại đối với đơng sự phía bên kia và
việc phản đối của mình đối với yêu cầu của
đơng sự đối lập. Tuỳ theo trình độ, năng
lực của mỗi đơng sự mà họ có thể tự mình
hoặc nhờ luật s hay thông qua ngời đại
diện thu thập chứng cứ để chứng minh trớc

quyết tranh chấp liên quan đến lợi ích của
họ nên họ có điều kiện cung cấp cho toà án
các chứng cứ của vụ việc. Mặt khác, việc
xác định trách nhiệm cung cấp chứng cứ
thuộc về các đơng sự nhằm mục đích để
các đơng sự cân nhắc, tính toán kĩ khi đa
* Giảng viên khoa t pháp
Trờng đại học luật Hà Nội nghiên cứu - trao đổi
Tạp chí luật học - 37

ra các yêu cầu và ràng buộc trách nhiệm
của các bên khi đa ra yêu cầu của mình, vì
nếu đa ra yêu cầu mà không đa ra đợc
chứng cứ để chứng minh cho các yêu cầu
đó thì toà án sẽ căn cứ vào các chứng cứ có
trong hồ sơ vụ việc để giải quyết và đơng
sự còn phải chịu án phí cho phần yêu cầu
không đợc toà án chấp nhận. Nhng hiện
nay ở nớc ta, trình độ dân trí nói chung
cha cao, hiểu biết pháp luật của nhân dân
còn hạn chế, không phải đơng sự nào cũng
có đủ điều kiện (kinh tế, x hội) để nhờ luật
s bảo vệ quyền lợi cho mình. Hơn nữa, các
đơng sự thờng có tâm lí chỉ cung cấp cho
toà án những chứng cứ có lợi cho họ, vì vậy
nhiều trờng hợp mặc dù đơng sự đ cung
cấp chứng cứ thông qua đơn kiện và các tài

những trờng hợp này thời gian giải quyết
nhiều vụ việc vợt quá thời hạn tối đa pháp
luật quy định. Thậm chí, nếu đơng sự
kháng cáo và tại phiên toà phúc thẩm họ
mới xuất trình chứng cứ và nếu chứng cứ
mới đợc chấp nhận thì bản án, quyết định
sơ thẩm có thể bị cải sửa hoặc huỷ. Theo
quy định của pháp luật hiện hành, việc cung
cấp chứng cứ của đơng sự, có lợi thế là
bảo đảm cho bản án, quyết định đợc đúng
đắn khách quan nhng mặt khác có thể sẽ
kéo dài thời gian giải quyết vụ việc nếu
đơng sự hay luật s của đơng sự cố
tình lợi dụng.
3. Pháp lệnh TTGQCVAKT và Pháp
lệnh TTGQCTCLĐ đ mạnh dạn xác định
cụ thể thời hạn bị đơn phải cung cấp chứng
cứ: Trong thời hạn 10 ngày (đối với vụ kiện
kinh tế) và 7 ngày (đối với vụ kiện lao
động), kể từ ngày nhận đợc thông báo, bị
đơn và ngời có quyền lợi nghĩa vụ liên
quan phải gửi cho toà án ý kiến của
mình bằng văn bản về đơn kiện và các
tài liệu khác có liên quan đến việc giải
quyết vụ việc.
(1)

Trong quá trình xây dựng dự thảo Bộ
luật tố tụng dân sự, việc có nên quy định cụ


nguyên đơn trong thời hạn 8 ngày kể từ
ngày nhận đợc trát đòi.
(3)

- Bộ luật tố tụng dân sự Đài Loan quy
định: Nguyên đơn không có quyền thay đổi,
bổ sung đơn khởi kiện sau khi bị đơn đ
nhận đợc bản sao đơn khởi kiện hoặc
thông báo về nội dung đơn khởi kiện nếu
không có sự đồng ý của bị đơn.
(4)

- Điều 134 Bộ luật tố tụng dân sự Pháp
quy định: Thẩm phán ấn định thời hạn và
nếu cần thì ấn định cả thể thức trao đổi giấy
tờ, tài liệu, trờng hợp vi phạm có thể bị
phạt tiền để cỡng chế.
(5)

- Điều 32 Bộ luật tố tụng dân sự - Thơng
sự năm 1972 của chính quyền Sài Gòn cũ cũng
ấn định thời hạn bị đơn cung cấp chứng cứ là 8
ngày kể từ ngày bị đơn nhận đợc trát đòi
(6)

4. Nh vậy, chỉ riêng vấn đề cung cấp
chứng cứ có những nớc pháp luật tố tụng
dân sự ấn định thời hạn cụ thể (thờng là từ
8 đến 20 ngày) để bị đơn phải cung cấp
chứng cứ, có những nớc không ấn định


đối những yêu cầu đó cũng thay đổi theo.
Nh vậy, việc cung cấp chứng cứ phụ thuộc
vào chính yêu cầu của các đơng sự, điều
đó không có nghĩa đơng sự đợc quyền
cung cấp chứng cứ ở bất kì thời điểm nào,
trong bất kì giai đoạn nào của quá trình tố
tụng mà cần có giới hạn nhất định. Giới hạn
đó phải đợc toà án xác định đối với từng
vụ việc cụ thể.
5. Hiện nay, theo quy định tại Điều 3 Pháp
lệnh TTGQCVADS, Điều 4 Pháp lệnh
TTGQCVAKT, Điều 3 Pháp lệnh TTGQCTCLĐ,
nhiệm vụ xác minh, thu thập chứng cứ khi
cần thiết đ đợc quy định nhng mới chỉ
dừng lại ở quy định chung cho toà án. Thực
tế trong tố tụng dân sự, khi chánh án (hoặc
chánh toà toà dân sự, kinh tế, lao động) đ
phân công cho thẩm phán giải quyết vụ việc
nào đó thì dờng nh thẩm phán phải thực
hiện toàn bộ các khâu trong quá trình xây
dựng hồ sơ, ra các quyết định tố tụng cần
thiết, kể cả quyết định giải quyết vụ việc
bằng việc công nhận thoả thuận giữa các
bên đơng sự (hoà giải thành hoặc thuận
tình li hôn) và cuối cùng là xét xử vụ việc
với t cách là chủ toạ phiên toà. Vì vậy,
thẩm phán đợc giao giải quyết vụ việc cụ
thể thì nhiệm vụ xác minh, thu thập chứng
cứ để lập hồ sơ vụ việc cũng nh việc xác


(1).Xem: Pháp lệnh thủ tục giải quyết các vụ án kinh
tế (1994), Pháp lệnh thủ tục giải quyết các tranh
chấp lao động (1998).
(2).Xem: Phạm Hng Pháp luật tố tụng dân sự ở
Đan Mạch và Thụy Điển, Tạp chí TAND, số
1/1998, tr.42.
(3).Xem: Một số vấn đề về cơ sở lí luận và thực tiễn
của việc xây dựng Bộ luật tố tụng dân sự, Đề tài 95
- 98 - 046/ĐT, TANDTC, H.1996.
(4).Xem: Lu Tiến Dũng Nội dung cơ bản của Bộ
luật tố tụng dân sự Đài Loan, TANDTC năm1992.
(5).Xem: Bộ luật tố tụng dân sự của Cộng hoà Pháp,
Nxb. Chính trị quốc gia, H.1998.
(6) .Xem: Bộ luật tố tụng dân sự - thơng sự (1972)
của Chính quyền Sài Gòn cũ.


Nhờ tải bản gốc
Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status