LUẬN VĂN: Một số giải pháp nâng cao năng lực cung cấp dịch vụ của Công ty ADCC doc - Pdf 12

z

LUẬN VĂN:

Một số giải pháp nâng cao năng lực
cung cấp dịch vụ của Công ty ADCC


- Phương pháp thống kê.
- Phương pháp phân tích, so sánh kết hợp với hệ thông lý thuyết và phân tích định
tính định lượng.
5. Đóng góp của đề tài
- Giới thiệu tổng quan về dịch vụ tư vấn và năng lực cung cấp dịch vụ tư vấn hiện
nay ở Việt Nam.
- Phân tích, đánh giá được thực trạng cung cấp dịch của Công ty ADCC.
- Đưa ra một số biện pháp cơ bản nhằm nâng cao năng lực cung cấp dịch vụ tư vấn
cho Công ty ADCC.
6. Bố cục luận văn
Ngoài lời nói đầu, Kết luận, và Phục lục, Nội dung chính của Chuyên đề gồm 3
chương sau :
Chương I : Lý thuyết về Dự án phát triển dịch vụ tư vấn và năng lực cung cấp dịch
vụ tư vấn.
Chương 2 : Thực trạng năng lực cung cấp dịch vụ tư vấn cho các Dự án phát triển
Chương III : Một số giải pháp nâng cao năng lực cung cấp dịch vụ của Công ty
ADCC


là quá trình phân công lao động xã hội ngày càng sâu sắc cùng với tính chất phức tạp và
cạnh tranh cao của hoạt động sản xuất kinh doanh trong bối cảnh nền Kinh tế thị trường
đang diễn ra xu thế xã hội hoá, Quốc tế hoá gay gắt.
Trong định nghĩa của từ điển Oxford, tư vấn có nghĩa là “trao lời khuyên”. Theo
định nghĩa này ta có thể hiểu rằng tư vấn ở đây không mang tính chất mệnh lệnh hay chỉ
thị cho một tổ chức, cá nhân nào đó mà nó chỉ mang tính chất góp ý, dù cả trong hoạt
động quản lý - tức là hoạt động trao lời khuyên cho các nhà quản lý.
1.2 Bản chất :
Bản chất của dịch vụ tư vấn là quá trình “cung cấp lời khuyên”. Tất nhiên, giá trị
của lời khuyên còn tuỳ thuộc nhiều vào năng lực và khả năng tiếp nhận của người sử
dụng dịch vụ tư vấn. Ngày nay, tư vấn đang được đánh giá là một nghề có tiềm năng rất
lớn vì nghề tư vấn là lĩnh vực của những người cung cấp lời khuyên hữu ích cho khách
hàng trên cơ sở các quy tắc, chuẩn mực và phương thức hành nghề, sản phẩm của nghề tư
vấn là “lời khuyên”, giá trị nó mang lại là rất lớn. Lời khuyên này được tạo từ các tổ chức
và cá nhân độc lập về hoạt động với tổ chức, cá nhân tiếp nhận nó. Họ dựa trên cơ sở
phân tích các vấn đề, sự kiện, tổ chức và cá nhân làm công tác tư vấn tạo ra những sản
phẩm thoả mãn yêu cầu của khách hàng.
Tại Việt Nam hiện nay, khái niệm tư vấn được hiểu một cách đầy đủ về bản chất
và nội dung vẫn còn là vấn đề khá mới mẻ, thậm chí ngay cả với đội ngũ nòng cốt của các
tổ chức tư vấn. Tư vấn thường được hiểu một cách phổ biến như là việc bán những lời
khuyên hoặc chuyển giao năng lực giải quyết vấn đề. Hơn nữa còn cả sự lẫn lộn giữa tư
vấn và môi giới, giữa hoạt động tư vấn và việc đưa ra những lời khuyên đơn giản.
Trong đề tài này, khái niệm tư vấn được tiếp cận với tư cách là một dịch vụ
chuyên môn, trước hết là một loại hình dịch vụ. Tư vấn là một dịch vụ trí tuệ, một hoạt
động “chất xám” mà các chuyên gia cung cấp cho khách hàng theo thoả thuận việc cập
nhật thông tin, kiến thức, phát hiện các vấn đề, lựa chọn các giải pháp thích hợp về chiến
lược, sách lược, biện pháp hành động cho các trường hợp cụ thể và chuyển giao nó đến

nghiệp, một tổ chức quần chúng…) : đại đa số các Doanh nghiệp, tổ chức sản xuất, kinh
doanh tầm cỡ trên thế giới đều có các nhà tư vấn riêng. Phần lớn các dự án, các chương
trình đổi mới, cải cách đều có ý kiến của các chuyên gia. Một số Chính phủ phải thuê
chuyên gia tư vấn nước ngoài để giải quyết các vấn đề Kinh tế - xã hội. Nhiều chương
trình cải cách dưới sự tài trợ của các tổ chức Chính phủ hoặc phi Chính phủ cũng yêu cầu
sử dụng dịch vụ tư vấn nhu là điều kiện bắt buộc.
Tư vấn cho cá nhân : đây là một loại hình rất phổ biến trong nền kinh tế thị
trường và ở mọi Quốc gia. Không co cá nhân nắm bắt được mọi vấn đề đã, đang và sẽ xảy
ra trong xã hội. Các doanh nhân, không phụ thuộc vào quy mô, lĩnh vực hoạt động đều có
nhu cầu sư dụng dịch vụ tư vấn. Trong nhiều hoạt động, cá nhân cần cho những lời
khuyên của không phải một chuyên gia mà một tập thể chuyên gia tư vấn để đưa ra quyết
định đúng. Nhiều nguyên thủ Quốc gia sử dụng cả một bộ máy cố vấn gồm các chuyên
gia giỏi, có kiến thức rộng, am hiểu sâu và kỹ năng tổng hợp nhiều vấn đề thuộc các lĩnh
vực khác nhau.
Việc phân chia tư vấn theo đối tượng khách hang là cá nhân hay tổ chức cũng chỉ
mang ý nghĩa tương đối vì mỗi tổ chức được điều hành, quản lý bởi những cá nhân. Trong
nhiều trường hợp, tư vấn cho một tổ chức chính là tư vấn cho một cá nhân (nhà quản lý,
người điều hành hay người phụ trách tổ chức) và ngược lại cho một tổ chức cá nhân cũng
là tư vấn cho tổ chức mà cá nhân đóng góp vai trò quản lý, lãnh đạo.

2.2 Phân loại theo chuyên môn tư vấn.
Tư vấn chính trị : đây là hoạt động tư vấn về các nguyên tắc, phương thức, quyết
sách trong lĩnh vực chính trị. Có thể nói, nhờ tư vấn, trong những hoàn cảnh nhất định có
khả năng thay đổi một thể chế chính trị; tạo nên một cuộc cách mạng, một cuộc đảo chính
hoặc về những vụ việc, sự kiện trong quan hệ chính trị giữa các Quốc gia, giữa một Quốc
gia với tổ chức Quốc tế…
Tư vấn pháp luật : đây là một trong những hoạt động tư vấn được hình thành

quan hệ hành chính với nhà đầu tư nên nhà tư vấn ít chịu sự chi phối của khách hang và
dễ dàng tiếp thu ý kiến của các chuyên gia có liên quan, vì thế có thể đưa ra những ý kiến
tư vấn có tính khách quan, độc lập. Tính khả thi, khoa học của tư vấn độc lập cũng thường
cao hơn so với tư vấn nội bộ.
3. Đối tượng, phạm vi hoạt động của tư vấn.
Hiện nay, tư vấn đã tham gia vào hầu hết các hoạt động kinh tế, chính trị, văn hóa
xã hội. Hầu hết các tổ chức kinh tế - xã hội trên thế giới, các cơ quan quản lý Nhà nước,
các tổ chức Chính phủ và phi Chính phủ đều sử dụng dịch vụ tư vấn trong quá trình thực
hiện hoạt động. Vai trò của các nhà tổ chức tư vấn trong sự phát triể Kinh tế - xã hội ngày
càng tăng, mặc dù nó không thể hiện bằng những con số, chỉ tiêu cụ thể.
Việc sử dụng tư vấn đã trở thành một nhu cầu không thể thiếu đối với các tổ
chức, cá nhân trong việc ổn định và phát triển. Quan niệm về sử dụng tư vấn đã thay đổi,
người ta sử dụng tư vấn không phải khi không giải quyết được vấn đề, khi công việc gặp
trở ngại, mà là sử dụng tư vấn như là một thông lệ, biện pháp hữu hiệu nâng cao hiệu qủa
sản xuất kinh doanh. Thực tế cho thấy việc sử dụng dịch vụ tư vấn đã góp phần đưa ra
nhiều ý tưởng hành động và nắm bắt được những cơ hội kinh doanh mới. Như vậy, dịch
vụ tư vấn có thể giúp khách hàng khắc phục khó khăn, cải thiện tình hình hiện tại hoặc để
tạo ra hướng phát triển mới.
Đối tượng phục vụ của tư vấn rất đa dạng. Tuy nhiên, để thuận tiện trong việc
nghiên cứu các nội dung về hiện trạng phát triển của các loại hình tư vấn và đề ra các biện
pháp phát triển phù hợp, đối tượng của phục vụ tư vấn được chia thành các loại sau : 3.1 Chính phủ, các cơ quan Nhà nước
Xã hội ngày càng phát triển thì nhu cầu tư vấn của các khu vực Nhà nước cũng
tăng theo. Mặc dù Chính phủ và các cơ quan Nhà nước thường có một cơ quan chuyên
môn để tham mưu và tư vấn nội bộ nhưng nhu cầu sử dụng các dịch vụ tư vấn bên ngoài

hiện nay.
1. Khả năng và kinh nghiệm chung của các Công ty tư vấn.
Đây là những thông tin cơ bản ban đầu để giới thiệu khả năng và kinh nghiệm
của một hãng tư vấn với khách hàng. Trong bộ tiêu chí đánh giá và lựa chọn nhà thầu tư
vấn, năng lực và kinh nghiệm của Công ty tư vấn đựoc xem xét đầu tiên mặc dù tỷ trọng
điểm của tiêu chí này thường không cao. Tuỳ theo từng gói thầu tư vấn cụ thể, tỷ trọng
của từng tiêu chí này có thể sẽ được điều chỉnh cho phù hợp. Tuy nhiên, tỷ trọng của tiêu
chí này thường chỉ chiếm từ 0.1 đến 0.2. Tức là chỉ chiếm tối đa từ 10 đến 20 điểm trong
thang điểm 100 của bộ tiêu chí đánh giá. Năng lực và kinh nghiệm của Công ty tư vấn
được nghiên cứu chi tiết theo từng khía cạnh sau :
1.1 Khả năng chung
Thời gian tồn tại và phát triển : khả năng chung của Công ty tư vấn được đề cập
đến thời gian tồn tại và phát triển càng dài thì sẽ có năng lực thực hiện và cung cấp dịch
vụ tư vấn tốt hơn những Công ty mới thành lập.
Dịch vụ chủ yếu : một Công ty tư vấn chỉ có một hoặc một số dịch vụ chủ yếu
cung cấp cho thị trường. Chẳng hạn, dịch vụ nghiên cứu thị trường, dịch vụ tư vấn tài
chính và thuế các doanh nghiệp… Những dịch vụ chủ yếu hay lĩnh vực chuyên môn chính
này có ý nghĩa quyết định đến năng lực thực hiên công việc tư vấn. Có nghĩa là một công
ty tư vấn dịch vụ chủ yếu là nghiên cứu thị trưòng cho các doanh nghiệp như AC Nielsen
(Hoa Kỳ) sẽ không có năng lực để thực hiện công việc tư vấn phát triển cộng đồng. Hoặc
ngược lại, một Công ty chuyên cung cấp dịch vụ tư vấn kỹ thuật và công nghệ như COWI
(Đan Mạch) sẽ không có năng lực cung cấp dịch vụ tư vấn tài chính và thuế cho doanh
nghiệp như Ensrt & Young hay KPMG.
1.2 Kinh nghiệm của tư vấn
Ngoài việc Công ty cung cấp các dịch vụ chủ yếu liên quan đến chuyên môn của
gói thầu thì những thông tin về kinh nghiệm thưc hiện các dịch vụ tư vấn có tính chất
tương tự là hết sức có ý nghĩa để xác định năng lực của Công ty. Những thông tin về kinh
nghiệm thực hiện công việc tương tự để chứng tỏ năng lực thực hiện và cung cấp dịch vụ
tư vấn gồm :

2. Phương pháp tiếp cận và kế hoạch thực hiện tư vấn.
Nếu như “khả năng và kinh nghiệm chung” là một yếu tố thể hiện năng lực cung
cấp dịch vụ của công ty có “tính tĩnh”, tức là trong một hoàn cảnh nhất định, công ty tư
vấn không thể sửa đổi hoặc điều chỉnh được yêu tố này để nâng cao năng lực cung cấp
dịch vụ tư vấn, thì “phương pháp tiếp cận và kế hoạch thực hiện” mà Công ty đề xuất để
cung cấp dịch vụ là một yếu tố có “tính động”, có nghĩa là công ty có thể nghiên cứu để
đề xuất một phương pháp tiếp cận và kế hoạch thực hiện tốt nhất để thể hiện năng lực
thực hiện công việc cao nhất. Trong bộ tiêu chí đánh giá năng lực của Công ty tư vấn, tuỳ
theo từng gói thầu dịch vụ cụ thể, tỷ trọng của tiêu chí này thường chiếm từ 0.35 đến 0.45
trong bộ tiêu chí đánh giá, tức là chiếm từ 35 đến tối đa là 45 điểm trong thang điểm 100
của bộ tiêu chí. Theo tiêu chí này, năng lực cung cấp dịch vụ của tư vấn được thể hiện ở
các khía cạnh sau đây :
2.1 Hiểu biết về nội dung công việc yêu cầu và sản phẩm tư vấn cần đạt
Để thực hiện và cung cấp được dịch vụ tư vấn theo đúng yêu cầu, việc Công ty tư
vấn phải hiểu biết rõ được các nội dung công việc và kết quả tư vấn cần đạt là điều kiện
hết sức cần thiết. Năng lực cung cấp dịch vụ thể hiện ở chỗ Công ty tư vấn hiểu biết về
nội dung công việc và kết quả ở mức độ như thế nào. Cụ thể sự hiểu biết của Công ty tư
vấn phải bao quát được các nội dung sau :
Bối cảnh của công việc.
Mối liên hệ giữa công việc với những công việc khác liên quan.
Nội dung chính cần thực hiện công việc.
Kết quả đầu ra của dịch vụ mà khách hàng cần.
Trong sơ đồ mời thầu, những thông tin cơ bản nhất về công việc và sản phẩm
thường được khách hàng cung cấp cho các Công ty tham gia đấu thầu. Tuy nhiên, Công ty
tư vấn phải tìm hiểu them từ những kênh thông tin khác nhau để có được những hiểu biết

dụng đối với những thay đổi có thể xảy ra trong quá trình thực hiện công việc. Những vấn
đề trong điều khoản tham chiếu cần được Công ty tư vấn đề xuất giải quyết một cách sáng
tạo và hiệu quả. Trong quá trình đánh giá và lựa chọn, phương pháp tiếp cận của Công ty
tư vấn nào được đánh giá tốt thì Công ty đó được đánh giá có năng lực thực hiện và cung
cấp dịch vụ. Số điểm đánh giá phương pháp tiếp cận càng cao thì năng lực cung cấp dịch
vụ càng cao và ngược lại.
Trên thực tế, với từng lĩnh vực chuyên môn nhất định, mỗi Công ty tư vấn thường
có một cách tiếp cận khung đã được mô hình hoá thành một phương pháp tiếp cận đặc
trưng của Công ty đó. Chẳng hạn tập đoàn tư vấn Grant Thornton mô hình hoá phương
pháp tiếp cận thành sơ đồ các vòng tròn khép kin, mỗi một vòng tròn mô tả một bước
thực hiện công việc thể hiện các vấn đề cần giải quyết và kết quả đạt được từ việc giải
quyết các vấn đề đó. Công ty tư vấn và kiểm toán KPMG lại mô hình hoá phương pháp
tiếp cận bằng một sơ đồ chuỗi từ trái qua phải, mỗi một mắt xích mô tả một bước thực
hiện công việc thể hiện các vấn đề cần giải quyết và kết qủ đạt được từ việc giải quyết các
vấn đề đó. Như vậy, có thể thấy rằng phương pháp tiếp cận của từng công việc khác nhau
là không giống nhau nhưng các Công ty tư vấn thường cố gắng thể hiện phương pháp tiếp
cận dưới dạng một mô hính đặc trưng riêng mang màu sắc Marketing của Công ty.
2.4 Kế hoạch thực hiện công việc
Viêc đưa ra được một kế hoạch thực hiện phù hợp với yêu cầu trong điều khoản
tham chiếu là rất cần thiết cho Công ty tư vấn. Đây cũng là một yếu tố thể hiện năng lực
cung cấp dịch vụ của Công ty tư vấn. Khách hàng luôn yêu cầu các Công ty tư vấn đề
xuất được một kế hoạch thực hiện khớp với những yêu cầu trong điều khoản tham chiếu
và hài hoà với tiến trình chung của tổng thể. Tất cả các hoạt động chính được nêu trong
điều khoản tham chiếu cần phải được thể hiện trong kế hoạch công việc và lịch biểu thực
hiện (thời gian bắt đầu và thời gian kết thúc) phải phù hợp với đầu r among muốn của
khách hàng và sử dụng tối ưu nguồn lực đầu vào. Kế hoạch công việc cần thể hiện được
mối liên hệ với phương pháp tiếp cận có tính thực tiễn cao và được thực hiện một cách

chốt và các chuyên gia, mối liên hệ giữa các chuyên gia và mối liên hệ của nhóm chuyên
gia với khách hàng và các đối tượng thực hiện. Ngoài ra, một kế hoạch tổ chức thực hiện
và bố trí nhân sự tốt phải trình bày rõ chức năng của từng vị trí, từng chuyên gia và các
công việc mà các chuyên gia được đề xuất sẽ thực hiện trong suốt quá trình thực hiện
công việc.
3. Nguồn nhân lực tham gia thực hiện công việc
Sản phẩm của tư vấn là sản phẩm trí tuệ mà các chuyên gia đề xuất thực hiện là
yếu tố quyết định chất lượng của dịch vụ tư vấn. Do đó, năng lực cung cấp dịch vụ của
Công ty tư vấn phụ thuộc gần như hoàn toàn vào trình độ chuyên môn và kinh nghiệm
của các chuyên gia. Do đặc điểm này, các nhà tài trợ cũng dựa vào yếu tố này để đánh giá
và xác định năng lực của nhà thầu tư vấn. Điểm đánh giá đội ngũ nhân sự do nhà thầu tư
vấn đề xuất càng cao thì nhà thầu càng có năng lực cung cấp dịch vụ tư vấn. Trong bộ tiêu
chí đánh giá năng lực của Công ty tư vấn, tuỳ theo từng gói thầu dịch vụ cụ thể, tỷ trọng
của tiêu chí đánh giá trình độ chuyên môn và kinh nghiệm của các đội ngũ nhân sự đề
xuất thường chiếm tỷ trọng từ 0.4 đến 0.5 trong bộ tiêu chí đánh giá, tức là chiếm 40 đến
50 điểm trong thang điểm 100 của bộ tiêu chí.
Lý lịch khoa học, được gọi tắt là “CV”, của chuyên gia hầu như là cơ sở duy nhất
để đánh giá sự phù hợp của chuyên gia được đề xuất với yêu cầu về chuyên môn và kinh
nghiệm cho từng vị trí công việc được mô tả trong điều khoản tham chiếu. Trong những
trường hợp cần thiết, khách hàng có thể sử dụng them phương pháp phỏng vấn để đánh
giá chính xác hơn sự phù hợp của chuyên gia đối với công việc yêu cầu.
3.1 Trưởng nhóm tư vấn
Trưởng nhóm tư vấn có vai trò quan trọng nhất trong cơ cấu tổ chức quản lý và
thực hiện của nhà thầu tư vấn và có ý nghĩa quyết định đối với sản phẩm tư vấn giao nộp
khách hàng. Do đó, năng lực của trưởng nhóm tư vấn là yếu tố quan trọng và trưởng
nhóm tư vấn thường được đánh giá riêng trong nhóm chuyên gia được đề xuất. Năng lực
của trưởng nhóm tư vấn thường được xem xét và đánh giá theo các nội dung sau :

trên 10 năm, và đã tham gia thực hiện tối thiểu là 4 công việc thuộc lĩnh vực tương tự.
Tuy nhiên, khách hàng không yêu cầu chuyên gia phải có kinh nghiệm làm trưởng nhóm
tư vấn trước đó cho các công việc thuộc lĩnh vực tương tự.
(3) Kinh nghiệm trong khu vực và ngôn ngữ : nội dung này chỉ được khách hàng
áp dụng để đánh giá cho chuyên gia tư vấn Quốc tế. Giống như trưởng nhóm tư vấn, các
chuyên gia khách cũng được yêu cầu phải có kinh nghiệm làm việc trong khu vực hoặc
kinh nghiệm làm việc tại Quốc gia của khách hàng, chẳng hạn Việt Nam. Mặt khác,
chuyên gia tư vấn sẽ được đánh giá cao hơn nếu biết ngôn ngữ chính thống của khách
hàng, chẳng hạn là tiếng Việt.
Qua việc tìm hiểu và phân tích năng lực cung cấp dịch vụ ở phần trên, có thể kết
luận rằng năng lực cung cấp dịch vụ của hang tư vấn là một pham trù có “tính động” rất
cao. Năng lực cung cấp dịch vụ không chỉ chịu ảnh hưởng bởi các yếu tố nội tại của hãng
tư vấn mà còn chịu ảnh hưởng hởi yếu tố bên ngoài hang, đó là lĩnh vực chuyên môn của
công việc thực hiện. Chẳng hạn, một Công ty có nhiều kinh nghiệm thực hiện và có đội
ngũ chuyên gia rất giỏi về lĩnh vực tài chính công sẽ được đánh giá là không có năng lực
cung cấp dịch vụ tư vấn cho một hoạt động thuộc lĩnh vực phát triển nông thôn.
Hơn thế nữa, sự chuẩn bị của Công ty cho từng công việc cũng là một yếu tố ảnh
hưởng đến năng lực cung cấp dịch vụ của Công ty cho hoạt động đó. Ví dụ, trường hợp
Công ty tư vấn đầu tư nhiều thời gian tìm hiểu và chuẩn bị hồ sơ dự thầu đầy đủ với việc
đề xuất một phương pháp tiếp cận, một bản kế hoạch công việc và một mô hình tổ chức
thực hiện hợp lý, cùng với việc đề xuất một đội ngũ chuyên gia giỏi thì năng lực cung cấp
dịch vụ của Công ty sẽ cao hơn trường hợp Công ty đầu tư ít thời gian tìm hiểu và chuẩn
bị không chu đáo.
III. Nhu cầu phát triển dịch vụ tư vấn.
1. Thực trạng dịch vụ tư vấn hiện nay ở Việt Nam.
1.1 Quá trình hình thành và phát triển.
Tư vấn đã tồn tại và phát triển ở Việt Nam từ lâu, chủ yếu dưới hình thức tư vấn

chí là số lượng chuyên gia tư vấn và thị phần của các Công ty tư vấn trong nước so với thị
phần của các Công ty tư vấn nước ngoài. Số chuyên gia tư vấn dung để đo mức tăng
trưởng về quy mô và mức độ chuyên nghiệp của tư vấn Việt Nam. Thị phần tư vấn thể
hiện sự vươn lên về trình độ chuyên môn và năng lực của Công ty tư vấn Việt Nam so với
tư vấn nước ngoài trong các dự án phát triển và thể hiện một phần sự đóng góp của tư vấn
Việt Nam (tiết kiệm chi phí thuê tư vấn nước ngoài, tăng sự tự chủ, độc lập trong việc giải
quyết các bài toán thực tiễn đặt ra).
Về số lượng chuyên gia tư vấn, số lượng chuyên gia có trình độ đại học trở lên
làm việc thường xuyên trong Công ty Việt Nam hành nghề tư vấn chuyên nghiệp trong 3
lĩnh vực chủ yếu : tư vấn kỹ thuật – xây dựng, tư vấn đầu tư - quản lý, tư vấn pháp lý đã
tăng lên tương đối nhiều so với giai đoạn đầu phát triển. Điều này cho thấy ngành tư vấn
của Việt Nam có mức tăng trưởng về quy mô và mức chuyên nghiệp đáng kể trong thời
gian vừa qua. Nếu như trước năm 1995, số lượng chuyên gia tư vấn của Việt Nam còn
dưới 15.000 người nhưng đến năm 1998 đã trên 15.000 người và hiện nay con số đó ước
tính là khoảng 25.000 người.
Về thị phần, tỷ lệ giữa tổng doanh thu của các Công ty tư vấn của Việt Nam so
với tổng phí đầu tư nước ngoài từ các dự án tài trợ ODA tại Việt Nam đã tăng lên đáng kể
trong những năm vừa qua. Điều này cho thấy sự vươn lên đánh kể về số lượng và mức độ
chuyên nghiệp của ngành tư vấn Việt Nam trong nhữn năm vừa qua. Nếu như thị phần so
với tư vấn nước ngoài trong các dự án ODA tại Việt Nam khoảng 10-15% từ giai đoạn
1995 đến 1998 thì đến nay thị phần của các Công ty tư vấn trong nước đã chiếm trên 25%
so với tư vấn Quốc tế. Hiện nay, đối với các gói thấu tư vấn có giá trị nhỏ, thường là dưới
200.000 USD, các nhà tài trợ đã đồng ý cho phép Công ty tư vấn Việt Nam đảm nhận
thực hiện 100%. Đối với gói thầu có giá trị lớn, các nhà tài trợ thường quy định một mức
tối thiểu sự tham gia của các chuyên gia tư vấn Việt Nam vào gói thầu (thường là 15-
20%).
2. Định hướng phát triển tư vấn Việt Nam đến năm 2020

vực, đứng đầu khu vực trong một số lĩnh vực mà Việt Nam có thế mạnh. Ngoài ra, ngành
tư vấn có thể giải quyết hầu hết các bài toán đặt ra, có thể đảm nhiệm làm tư vấn chính
trong hấu hết các dự án, đồng thời tham gia tích cực vào các dự án phát triển trong khu
vực.

CHNG 2
Thc trng nng lc cung cp dch v t vn cho cỏc D ỏn phỏt trin

I. Gii thiu cụng ty ADCC :
1. Quá trình hình thành và phát triển của Công ty ADCC:
- Tên Doanh nghiệp: Công ty Thiết kế và T- vấn xây dựng công trình hàng
không Quân chủng Phòng không - Không quân;
- Tên tiếng Anh: Airport Design and Construction Consultancy Company;
- Tên viết tắt: ADCC;
- Địa chỉ giao dịch: 180 đ-ờng Tr-ờng Chinh, Ph-ờng Kh-ơng Th-ợng, Quận Đống
Đa, Thành phố Hà Nội;
- Điện thoại: 048.537988, 048.522.684, 069.562538, 069.562533;
- Fax: 048.534468.
Công ty ADCC là đơn vị đ-ợc thành lập trên cơ sở Xí nghiệp khảo sát, thiết
kế và xây dựng công trình hàng không của Quân chủng - Không quân.
Ngày 6/11/1990, Th-ợng t-ớng Đào Đình Luyện, Thứ tr-ởng Bộ Quốc phòng ký

thành 2 Công ty với 2 chức năng cơ bản riêng biệt. Đây là một b-ớc tiến quan trọng của
một doanh nghiệp quân đội trong cơ chế thị tr-ờng.
Với t- cách là một Công ty hạch toán độc lập, ngay sau khi tách ra, Công ty ADCC
đã nhanh chóng ổn định tổ chức, bắt tay vào thực hiện những nhiệm vụ SXKD theo
chức năng, nhiệm vụ của mình. Với ph-ơng châm vừa củng cố lực l-ợng, vừa tiến hành
sản xuất kinh doanh, năm 1993, Công ty ADCC tiếp tục tiến hành Dự án thiết kế qui
hoạch CHK QT Nội Bài. Ngay trong năm đầu tiên hoạt động độc lập, Công ty đã đ-ợc
các Chủ đầu t- tin t-ởng giao cho các nhiệm vụ: Lập Luận chứng KTKT đầu t- nâng
cấp đ-ờng CHC CHK Cát Bi ( Hải Phòng ), Lập Luận chứng KTKT đầu t- nâng cấp
đ-ờng CHC CHK Phú Bài ( Huế ) và Lập Luận chứng KTKT đầu t- xây dựng CHK
Cần Thơ ( Hậu Giang )
Năm 1994, ngoài các công trình chuyển tiếp, Công ty tiếp tục nhận đ-ợc các công
trình nh-: Qui hoạch CHK QT Đà Nẵng, qui hoạch mạng sân bay dân dụng toàn quốc.
Doanh thu của Công ty trong năm đạt gần 3 tỷ VNĐ. Trong năm 1994, Công ty đã lập
Dự án nâng cấp sân đỗ máy bay CHK QT Tân Sơn Nhất ( TP Hồ Chí Minh ). Sau
này, công tác thiết kế công trình này đ-ợc tặng huy ch-ơng vàng và là 1 trong 10
công trình xây dựng tiêu biểu của thập kỷ 90 của Thế kỷ 20. Cho đến nay, công tác
thiết kế công trình này vẫn là công trình thiết kế duy nhất đ-ợc tặng th-ởng huy
ch-ơng vàng của ngành xây dựng.
Năm 1995, cả 2 lĩnh vực quân sự và dân dụng đều có nhu cầu khá lớn trong đầu
t- qui hoạch, xây dựng các công trình hàng không, Công ty đã thể hiện năng lực của
mình ở hầu hết các chức năng: lập Dự án, t- vấn, khảo sát, thiết kế, thẩm định, kiểm
định và t- vấn giám sát. Công ty tiếp tục nhận đ-ợc các đơn hàng từ các Chủ đầu t
Doanh thu năm 1995 của Công ty đạt gần 6 tỷ VNĐ.
Ngày 17/5/1996, Quân chủng Không quân ký Quyết định số 341/QĐ-QCKQ sát
nhập Công ty ADCC và một số công ty xây dựng khác vào Tổng Công ty bay dịch vụ
Việt Nam. Trong năm này, Công ty ADCC đã triển khai thêm hàng loạt các công trình

ga hành khách CHK QT Tân Sơn Nhất với nhà thầu Nhật Bản. Đây là một sự kiện
đánh dấu sự phát triển v-ợt bậc của Công ty trong lĩnh vực t- vấn các công trình hàng
không. Doanh thu trong năm đạt 7,5tỷ VNĐ.
Năm 2002, tr-ớc tình hình công việc t- vấn chuyên ngành không có những b-ớc đột
biến, Ban Lãnh đạo Công ty quyết tâm tham gia thị tr-ờng giao thông và các thị tr-ờng
khác. Đây là một quyết định rất quan trọng, mang tính đột phá. Chính vì vậy, doanh
thu của Công ty đã tăng lên con số 8,5 tỷ VNĐ.
Năm 2003 là năm đột biến nhất của Doanh nghiệp. Công ty liên tiếp nhận đ-ợc
các công trình lớn, th-ờng xuyên là nơi tiếp xúc với các nhà t- vấn n-ớc ngoài. Qui mô của
doanh nghiệp đ-ợc mở rộng vào những năm tr-ớc đã phát huy tác dụng. Lần đầu tiên
trong hơn 10 năm hoạt động, doanh thu của Công ty đã v-ợt ng-ỡng 10 tỷ và đạt con số
hơn 11 tỷ VNĐ.


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status