nghiên cứu - trao đổi
12 - Tạp chí luật học
Trần Thái Dơng *
ếu tiếp cận từ góc độ công cụ quản lí của
Nhà nớc thì việc nghiên cứu những nội
dung, phơng thức thực hiện chức năng kinh tế
của Nhà nớc Cộng hoà XHCN Việt Nam có thể
đợc triển khai trên các bình diện khái quát sau:
- Nhà nớc thực hiện chức năng quản lí đối
với kinh tế nhà nớc;
- Nhà nớc điều chỉnh hoạt động kinh tế
bằng pháp luật và các công cụ quản lí vĩ mô khác;
- Nhà nớc thực hiện chức năng kinh tế thông
qua tổ chức và hoạt động của bộ máy nhà nớc.
Trong phạm vi bài viết này, tác giả xin đợc
trao đổi một số nhận thức lí luận và thực tiễn về
vấn đề quản lí đối với kinh tế nhà nớc nh là một
trong những nội dung, phơng thức thực hiện
chức năng kinh tế của Nhà nớc ta hiện nay.
1. Trong nền kinh tế kế hoạch hoá tập
trung, với sự độc tôn của kinh tế nhà nớc thì
đơng nhiên cũng không tồn tại sự phân công,
phối hợp vai trò giữa các thành phần kinh tế.
Ngày nay, vấn đề phạm vi và vai trò của kinh
tế nhà nớc cần đợc xác định phù hợp với quy
tế nhà nớc phù hợp với quy luật vận động của
nền kinh tế thị trờng thì vấn đề ai sử dụng
(kinh doanh, khai thác dịch vụ ) tài sản hay
các nguồn lực nói chung của Nhà nớc, về
quyền lợi, nghĩa vụ và trách nhiệm của họ nh
thế nào cần đợc xác định rõ. Từ đó có thể
hình thành nên khái niệm chủ thể kinh tế nhà
nớc với tính cách là hình thức tổ chức của
kinh tế nhà nớc trong nền kinh tế thị trờng.
Trên cơ sở sở hữu nhà nớc, các chủ thể kinh
tế nhà nớc hoạt động độc lập với hệ thống các
cơ quan nhà nớc (chính quyền). Nh thế, xét
N
* Trờng đại học luật Hà Nội nghiên cứu - trao đổi
Tạp chí luật học - 13
về khía cạnh chủ thể thì có thể quan niệm rằng
phạm vi kinh tế nhà nớc chính là phạm vi các
chủ thể kinh tế nhà nớc. Qua đây cũng có thể
thấy đợc ý nghĩa quan trọng của xác định chủ
thể của quyền sử dụng (kinh doanh, khai thác
dịch vụ ) tài sản hay mọi nguồn lực nói chung
của Nhà nớc đối với sự thể hiện trên thực tế
vai trò chủ đạo của kinh tế nhà nớc trong nền
kinh tế thị trờng định hớng XHCN. Tất yếu
kinh tế ở đây chính là tài sản nhà nớc phải
cấu hợp lí, nắm chắc các ngành, các lĩnh vực
then chốt của nền kinh tế quốc dân và thờng
xuyên nâng cao hiệu quả kinh tế- x hội thì
kinh tế nhà nớc mới thực hiện đợc vai trò
chủ đạo của mình. Đó cũng chính là nội dung
cốt lõi trong quan điểm của Đảng về vai trò
chủ đạo của kinh tế nhà nớc trong nền kinh tế
thị trờng định hớng XHCN ở nớc ta.
(1)
Thật ra, kinh tế nhà nớc đều có tính tất
yếu khách quan ở các mô hình kinh tế trên thế
giới. Nhng với bản chất của dân, do dân, vì
dân, Nhà nớc Cộng hoà XHCN Việt Nam
không phải là nhà t bản lớn và kinh tế nhà
nớc ở nớc ta không phải là hình thức biểu
hiện của CNTB độc quyền nhà nớc mà là
hình thức của nền kinh tế công hữu phục vụ
cho lợi ích của nhân dân trong đó Nhà nớc là
ngời đại diện. Vì thế, việc thực hiện vai trò
chủ đạo của kinh tế nhà nớc trong nền kinh tế
thị trờng định hớng XHCN là vấn đề thực
tiễn và lí luận còn rất mới mẻ ở nớc ta hiện
nay. Về mặt nhận thức, cần thấy vai trò chủ đạo
của kinh tế nhà nớc trong nền kinh tế thị trờng
ở nớc ta là sản phẩm của sự tồn tại nhiều
thành phần kinh tế phát triển theo định
hớng XHCN; nếu không có sự phân công,
phối hợp tốt vai trò của các thành phần kinh
tế thì cũng không có đợc vai trò chủ đạo
giữa Nhà nớc với chủ thể kinh tế nhà nớc
đợc thể hiện trên hai phơng diện cơ bản sau:
Thứ nhất, với t cách là ngời quản lí toàn
bộ nền kinh tế quốc dân gồm tất cả các chủ thể
kinh tế thuộc mọi thành phần kinh tế, Nhà
nớc thực hiện sự quản lí các chủ thể kinh tế
nhà nớc bằng pháp luật còn chủ thể kinh tế
nhà nớc hoạt động độc lập với cơ quan nhà
nớc, bình đẳng về quyền và nghĩa vụ nh mọi
chủ thể thuộc các thành phần kinh tế khác.
Nhà nớc có nghĩa vụ tôn trọng quyền tự chủ
về tài chính, quyền chủ động trong các hoạt
động của chủ thể kinh tế nhà nớc còn chủ thể
kinh tế nhà nớc có nghĩa vụ tuân thủ nghĩa
vụ thuế và các nghĩa vụ khác theo quy định
của pháp luật. Nhìn chung, ở khía cạnh này,
quan hệ giữa Nhà nớc và chủ thể kinh tế
nhà nớc cũng giống nh quan hệ giữa Nhà
nớc với các loại chủ thể khác thuộc mọi
thành phần kinh tế.
Thứ hai, với t cách là ngời đại diện cho
sở hữu toàn dân, Nhà nớc đầu t vốn cho các
chủ thể kinh tế nhà nớc (thông qua hoạt động
của chủ thể đầu t vốn nhà nớc) nhng tài sản
của chủ thể kinh tế nhà nớc lại đợc tách
bạch với khối tài sản của Nhà nớc và thuộc
quyền sử dụng (kinh doanh, khai thác dịch vụ)
của các chủ thể đó. Nhà nớc thành lập chủ thể
kinh tế nhà nớc, đầu t vốn cho chủ thể kinh
tế nhà nớc hoạt động và khi đó chúng có t
doanh nghiệp khác. Đặc biệt, Nghị định của
Chính phủ số 63/2001/NĐ-CP ngày 14/9/2001
về chuyển đổi doanh nghiệp nhà nớc, doanh
nghiệp của tổ chức chính trị, chính trị - x hội
thành công ti trách nhiệm hữu hạn một thành
viên đ đánh dấu bớc tiến mới trong quá trình nghiên cứu - trao đổi
Tạp chí luật học - 15
thống nhất hoá cơ sở pháp lí cho các hình thức
hoạt động kinh doanh ở nớc ta, theo đó, các
loại hình doanh nghiệp nêu trên đợc hoạt
động trên cơ sở Luật doanh nghiệp. ở nớc ta
hiện nay đang tồn tại mô hình tổng công ti nhà
nớc (thờng gọi là tổng công ti 90 và 91) do
Chính phủ thành lập và trực tiếp quản lí còn
theo tinh thần Nghị định số 63/2001/NĐ-CP
nêu trên thì các doanh nghiệp nhà nớc độc lập
(không phải là thành viên của tổng công ti)
đợc chuyển đổi thành công ti trách nhiệm hữu
hạn một thành viên phải đặt dới quyền của cơ
quan nhà nớc đợc xác định là đại diện chủ
sở hữu công ti. Đối với doanh nghiệp nhà nớc
là thành viên của tổng công ti, nếu chuyển đổi
thành công ti trách nhiệm hữu hạn một thành
viên thì hội đồng quản trị tổng công ti lại đợc
xác định là đại diện chủ sở hữu công ti (Điều 2
và Điều 3 Nghị định số 63/2001/NĐ-CP).
lập ra các công ti đầu t tài sản nhà nớc đại
diện quyền sở hữu tài sản của Nhà nớc, tham
dự vào việc ràng buộc hoạt động kinh doanh
của chủ thể kinh tế nhà nớc, phụ trách việc thu
li từ tài sản nhà nớc, tái đầu t vốn nhà nớc
và đầu t mới, chuyển nhợng tài sản nhà
nớc.
(2)
Hiện nay ở nớc ta, vấn đề tách bạch hoạt
động quản lí nhà nớc về kinh tế với hoạt động
của các chủ thể kinh tế nhà nớc đợc đặt ra
không chỉ với hoạt động của các doanh nghiệp
mà cả với hoạt động của các đơn vị sự nghiệp
nữa. Mặt khác, việc xác định nội dung và
phơng thức quản lí của Nhà nớc với kinh tế
nhà nớc cũng cần phải có sự phân biệt với
mỗi loại chủ thể nh doanh nghiệp hoạt động
kinh doanh, doanh nghiệp hoạt động công ích
và các tổ chức hoạt động trong các lĩnh vực
văn hoá, khoa học, y tế, giáo dục, thông tin
Doanh nghiệp nhà nớc hoạt động công
ích là loại hình doanh nghiệp đặc trng cho sự
cần thiết về tham gia của Nhà nớc vào nền
kinh tế thị trờng nhằm khắc phục những
khiếm khuyết của cơ chế thị trờng, đảm bảo
sự phát triển toàn diện và bền vững của x hội.
Mục tiêu của doanh nghiệp nhà nớc hoạt
động công ích là phục vụ cho toàn x hội.
Chính sách của Đảng và Nhà nớc ta hiện nay
vụ trực tiếp cho nền kinh tế và đời sống x hội
do các doanh nghiệp công ích, các tổ chức sự
nghiệp cung cấp. Đối với loại dịch vụ này thì
"nhiệm vụ của nhà nớc không phải là cung
ứng dịch vụ mà là trông nom để cho những
dịch vụ đó đợc thực hiện."
(4)
Nh vậy thì doanh nghiệp nhà nớc hoạt
động công ích và các tổ chức sự nghiệp cũng
cần phải đợc đặt trong thế cạnh tranh thích
hợp để có thể đem lại những sản phẩm dịch vụ
tốt nhất cho x hội. Mặt khác, đối với các chủ
thể kinh tế nhà nớc loại này, chế độ chủ quản
hành chính cũng phải đợc xoá bỏ dần theo sự
hoàn thiện của nền kinh tế thị trờng và bộ
máy nhà nớc, sao cho các chủ thể kinh tế -
x hội nói chung đều bình đẳng hoạt động
trên cơ sở luật pháp mà không cần tới sự
can thiệp trực tiếp của cơ quan nhà nớc.
Từ những điểm vừa nêu trên, có thể nhận
thấy rằng quan hệ tài sản giữa Nhà nớc với
chủ thể kinh tế nhà nớc hiện nay vẫn còn
đang trong quá trình chuyển đổi. Với các
doanh nghiệp đ cổ phần hoá, quan hệ ấy đợc
thể hiện thông qua hoạt động và t cách của
chủ thể đầu t vốn nhà nớc trong công ti,
nghĩa là Nhà nớc (thông qua chủ thể đầu t
vốn nhà nớc) trở thành ngời đầu t, ngời sở
hữu và tham gia quản lí doanh nghiệp nh là
kinh tế nhà nớc bởi lẽ nếu kinh tế nhà nớc nghiên cứu - trao đổi
Tạp chí luật học - 17
không vơn tới vai trò chủ đạo thì có nghĩa
nền kinh tế thị trờng định hớng XHCN ở
nớc ta không thể thực hiện đợc. Từ đó có thể
khẳng định rằng đổi mới kinh tế nhà nớc và đổi
mới quản lí kinh tế nhà nớc là nội dung quan
trọng hàng đầu trong sự nghiệp đổi mới kinh
tế và chính trị ở nớc ta hiện nay. Quá trình
này không chỉ đáp những những nhu cầu
của các quan hệ kinh tế trong nớc mà còn
phù hợp với các đòi hỏi của quá trình hội
nhập kinh tế quốc tế.
Hiện nay, những giải pháp để đổi mới kinh
tế nhà nớc nh lựa chọn hớng đầu t đúng
đắn, xác định cơ cấu hợp lí, cải cách hệ thống
thể chế, bộ máy nhà nớc, xác định lại nhiệm
vụ chức năng của các cơ quan nhà nớc cần
phải đợc tiến hành một cách đồng bộ. Một
trong những biện pháp đang đợc giới quản lí
và các nhà khoa học quan tâm là xác định chủ
thể kinh doanh vốn nhà nớc với tính cách là
loại hàng hoá đợc luân chuyển theo quy luật
vận động của nền kinh tế thị trờng. Tuy thế,
việc tổ chức các công ti kinh doanh vốn nhà
nớc cũng chỉ thực hiện đợc khi nào có các
hiệu quả của hoạt động đầu t vốn nhà nớc và
hoạt động quản lí nhà nớc thì Nhà nớc có
thể thực hiện đợc chức năng kinh tế của mình
thông qua vai trò chủ đạo của kinh tế nhà nớc
trong nền kinh tế quốc dân. Tính chất quan hệ
giữa Nhà nớc với chủ thể kinh tế nhà nớc
nh vậy không chỉ thể hiện những đặc trng cơ
bản của chế độ doanh nghiệp hiện đại
(6)
mà
còn thể hiện vai trò mới của Nhà nớc trong
nền kinh tế thị trờng định hớng XHCN./.
(1).Xem: Đảng cộng sản Việt Nam, Văn kiện Đại hội
đại biểu toàn quốc lần thứ IX, Nxb. Chính trị quốc gia,
H 2000, tr. 13.
(2), (5).Xem: Trơng Văn Bân (chủ biên), Bàn về cải
cách toàn diện doanh nghiệp nhà nớc, Nxb. Chính trị
quốc gia, H.1996, tr. 222, 240, 241.
(3).Xem: Ngô Ngọc Bửu và Đào Đăng Kiên, "Hợp đồng
của các pháp nhân công quyền trong quản lí nhà nớc",
Tạp chí quản lí nhà nớc, H.1997, tr. 47.
(4).Xem: Đêvit Âuxbot & Tétgheblo, Đổi mới hoạt động
của chính phủ, Nxb. Chính trị quốc gia, H.1997, tr. 63.
(6).Xem: Viện kinh tế thế giới, Cải cách doanh nghiệp
nhà nớc ở Trung Quốc - so sánh với Việt Nam, Nxb.
Khoa học x hội, H. 1997, tr.138.