TIỂU LUẬN: “TUYÊN NGÔN ĐỘC LẬP” –
ÁNG HÙNG VĂN LẬP QUỐC
MANG GIÁ TRỊ LỊCH SỬ VÀ Ý
NGHĨA THỜI ĐẠI
Với tư cách bản Tuyên ngôn lập quốc của nước Việt Nam mới, trong suốt 65 năm
qua, “Tuyên ngôn độc lập” đã đi vào lịch sử hào hùng của dân tộc Việt Nam với tư
cách lời tuyên bố đanh thép về quyền tự do, độc lập, quyền dân tộc tự quyết của dân
tộc Việt Nam, về các quyền cơ bản của con người mà nhân dân Việt Nam xứng đáng
được hưởng. Không chỉ thế,“Tuyên ngôn độc lập” còn được thừa nhận là nền tảng
chính trị - pháp lý của nước Việt Nam mới, hàm chứa những giá trị truyền thống và
đương đại, do vậy, nó luôn mang giá trị lịch sử, ý nghĩa thời đại và mãi trường tồn
cùng với sự trường tồn của dân tộc Việt Nam. Nhân kỷ niệm 65 năm Cách mạng
tháng Tám và Quốc khánh 2-9, trong bài viết này, tác giả đã đưa ra và luận giải giá
tâm khảm của bao thế hệ người Việt Nam chúng ta, vẫn sáng ngời giá trị lịch sử vĩnh
hằng và ý nghĩa thời đại lớn lao. Không chỉ thế, sau chặng đường 65 năm, giờ đây,
chúng ta hoàn toàn có quyền khẳng định và tin tưởng chắc chắn rằng,Tuyên ngôn
Độc lập mãi trường tồn với lịch sử dân tộc Việt Nam ta với tư cách ấy trong tương
lai. Không thể khác, bản Tuyên ngôn bất hủ này mãi đi cùng lịch sử dân tộc Việt
Nam ta không chỉ với tư cách một áng văn lập quốc vĩ đại, một kiệt tác về tư tưởng,
lý luận của Chủ tịch Hồ Chí Minh, mà còn với tư cách bản tổng kết những giá trị
tinh thần của cuộc đấu tranh giành độc lập dân tộc của dân tộc ta, nhân dân
ta; đồng thời cũng là lời Tuyên ngôn mở đầu kỷ nguyên mới của dân tộc Việt Nam
ta – kỷ nguyên độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội.
Thật vậy, trong 65 năm qua, nhiều chính khách, nhiều học giả trong giới nghiên cứu
và giảng dạy lý luận ở nước ta và trên thế giới đã đi đến một nhận định nhất quán
rằng, Tuyên ngôn Độc lậplà nền tảng chính trị - pháp lý của nước Việt Nam mới
(nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa trước đây, nước Cộng hòa Xã hội chủ nghĩa Việt
Nam hiện nay), hàm chứa những giá trị truyền thống và đương đại, mang giá trị lịch
sử và ý nghĩa thời đại. Rằng, Tuyên ngôn Độc lập là lời tuyên bố về quyền lựa chọn
con đường độc lập, tự do của mỗi dân tộc, về quyền dân tộc tự quyết và các quyền cơ
bản của con người: “Tất cả mọi người đều sinh ra có quyền bình đẳng. Tạo hóa cho
họ những quyền không ai có thể xâm phạm được; trong những quyền ấy, có quyền
được sống, quyền tự do và quyền mưu cầu hạnh phúc”. Khi trích dẫn lại những lời
bất hủ này trong Tuyên ngôn Độc lập năm 1776 của nước Mỹ (công bố ngày 4 tháng
7 năm 1776), Chủ tịch Hồ Chí Minh đã khẳng định: “Suy rộng ra, câu ấy có ý nghĩa
là: Tất cả các dân tộc trên thế giới đều sinh ra bình đẳng, dân tộc nào cũng có quyền
sống, quyền sung sướng và quyền tự do”(1) (chúng tôi nhấn mạnh – Đ.H.T.). Tiếp
đó, khi trích dẫn lại một câu bất hủ nữa trong Tuyên ngôn Nhân quyền và Dân
quyền của Cách mạng Dân chủ tư sản Pháp 1789 – 1794 (công bố ngày 26 tháng 8
năm 1791): “Người ta sinh ra tự do và bình đẳng về quyền lợi; và phải luôn luôn
được tự do và bình đẳng về quyền lợi”, Người khẳng định: “Đó là những lẽ phải
không ai chối cãi được”(2) (chúng tôi nhấn mạnh – Đ.H.T.).
xít…, dân tộc đó phải được tự do! Dân tộc đó phải được độc lập!”(4). Với những lời
khẳng định đanh thép đó, thay mặt Chính phủ nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa,
thay mặt toàn thể những người dân của nước Việt Nam mới, Chủ tịch Hồ Chí Minh
đã trịnh trọng tuyên bố với thế giới rằng: “Nước Việt Nam có quyền hưởng tự do và
độc lập, và sự thật đã thành một nước tự do độc lập”. Rằng, “toàn thể dân tộc Việt
Nam quyết đem tất cả tinh thần và lực lượng, tính mạng và của cải để giữ vững
quyền tự do, độc lập ấy”(5) (chúng tôi nhấn mạnh – Đ.H.T.).
Như vậy, có thể nói, nếu Tuyên ngôn Độc lập của Cách mạng Mỹ và Tuyên ngôn
Nhân quyền và Dân quyền của Cách mạng Pháp chỉ đưa ra và khẳng định các quyền
cá nhân của con người như một sản phẩm tự nhiên mang tính tiền định, thì Tuyên
ngôn Độc lập của nước Việt Nam mới mà Chủ tịch Hồ Chí Minh thay Chính phủ và
toàn thể nhân dân Việt Nam trịnh trọng tuyên bố với thế giới vừa đưa ra và khẳng
định quyền dân tộc tự quyết, quyền bình đẳng giữa các dân tộc, vừa đồng thời khẳng
định rằng, để đi tới các quyền tự do, bình đẳng, quyền mưu sinh cho mỗi con người,
trước hết phải giành cho được quyền tự do, độc lập cho dân tộc. Nói cách
khác, Tuyên ngôn Độc lập của nước Việt Nam mới khẳng định nền độc lập tự do của
dân tộc là điều kiện đầu tiên, bao trùm và tiên quyết cho việc tạo dựng các quyền tự
do, dân chủ, quyền bình đẳng và mưu sinh, mưu cầu hạnh phúc cho mỗi con người
và cho cả cộng đồng dân tộc. Rõ ràng, sự khẳng định đó được bắt nguồn từ truyền
thống vốn có của dân tộc Việt Nam ta – truyền thống đặt sự tồn tại của cả cộng đồng
dân tộc lên trên sự tồn tại của mỗi cá nhân con người, coi “quyền lợi dân tộc giải
phóng cao hơn hết thảy”(6).
Xuất phát từ truyền thống hào hùng trong suốt chiều dài lịch sử hàng nghìn năm đấu
tranh dựng nước và giữ nước của dân tộc ta mà xét, có thể nói, Tuyên ngôn Độc
lập của nước Việt Nam mới chính là sự kế thừa có sáng tạo để nâng lên tầm cao mới
quyền thiêng liêng bất khả xâm phạm của dân tộc – “Toàn vẹn lãnh thổ cho Tổ quốc
và độc lập cho đất nước”(7). Vì những quyền thiêng liêng nhất ấy mà cả dân tộc ta,
hết thảy mọi người dân nước Việt “thà hy sinh tất cả, chứ nhất định không chịu mất
nước, nhất định không chịu làm nô lệ”(8) và cho “dù có phải đốt cháy cả dãy Trường
tranh giành độc lập, tự do cho nhân dân Mỹ lúc bấy giờ. Sau đó 15 năm, ngày 26
tháng 8 năm 1791, nhân loại toàn thế giới lại được chứng kiến sự ra đời Tuyên ngôn
Nhân quyền và Dân quyền của nước Pháp sau thắng lợi của cuộc Cách mạng Dân
chủ tư sản. Bản Tuyên ngôn này đã công khai thừa nhận các quyền tự do, dân chủ
của con người, quyền bình đẳng của mọi người trước pháp luật, quyền chống áp bức,
bóc lột và do vậy, nó đã có ảnh hưởng lớn tới cuộc đấu tranh của nhân dân các nước
đang chống chế độ phong kiến lúc bấy giờ. Đầu thế kỷ XX, nhân loại toàn thế giới
lại một lần nữa được chứng kiến sự ra đời Tuyên ngôn về quyền của nhân dân lao
động bị áp bức của nước Nga Xôviết sau thắng lợi của Cách mạng tháng Mười vĩ đại
(ngày 7 tháng 11 năm 1917). Đây là bản Tuyên ngôn mở đầu một thời đại mới – thời
đại quá độ từ chủ nghĩa tư bản lên chủ nghĩa xã hội trên phạm vi toàn thế giới, thức
tỉnh giai cấp công nhân và toàn thể nhân loại bị áp bức, soi sáng con đường cho các
dân tộc bị nô dịch, áp bức đi tới cách mạng giải phóng và tiến lên chủ nghĩa xã hội.
Tiếp theo bản Tuyên ngôn này của nước Nga Xôviết, Tuyên ngôn Độc lập của nước
Việt Nam mới đã mở ra một thời kỳ mới trong lịch sử nhân loại đương đại – thời kỳ
các nước thuộc địa và nửa thuộc địa vùng lên giành độc lập, làm tan rã chế độ thực dân
cũ, đi vào quỹ đạo của chủ nghĩa xã hội theo con đường quá độ gián tiếp, với phương
thức phát triển “rút ngắn”.
Sự ra đời Tuyên ngôn Độc lập của nước Việt Nam mới không phải là tự phát, mà đã
được suy ngẫm từ khi Chủ tịch Hồ Chí Minh còn là người thanh niên yêu nước
Nguyễn Ái Quốc gửi đến Hội nghị Vécxây bản Yêu sách của nhân dân An
Nam (ngày 18 tháng 1 năm 1919) gồm 8 điểm để đòi các quyền tự do, dân chủ cho
nhân dân Việt Nam(9). Nó là kết quả của một sự khám phá lớn, của một quá trình
khảo nghiệm sâu sắc không chỉ những bản Tuyên ngôn lập quốc bất hủ trong lịch sử
nhân loại, mà cả những bản Tuyên ngôn lập quốc bất hủ và những bài học lịch sử
trong lịch sử hàng nghìn năm dựng nước và giữ nước của dân tộc Việt Nam.
Trong Tuyên ngôn Độc lập, tư tưởng Hồ Chí Minh về quyền dân tộc tự
quyết và các quyền cơ bản của con người đã gắn kết với nhau một cách nhuần
nhuyễn. Quyền dân tộc thiêng liêng và quyền cơ bản của con người – hai lĩnh vực
hội chủ nghĩa cũng chính là đang thực hiện và phát triển tư tưởng cơ bản đó
của Tuyên ngôn Độc lập.
Không chỉ khẳng định tư tưởng độc lập cho dân tộc, tự do và dân chủ cho nhân dân,
quyền cơ bản cho con người,Tuyên ngôn Độc lập của nước Việt Nam mới còn thể
hiện sâu sắc truyền thống yêu nước, tinh thần đoàn kết, ý thức cộng đồng, ý chí độc
lập tự chủ, tự lực tự cường mà dân tộc ta đã hun đúc nên qua hàng ngàn năm đấu
tranh dựng nước và giữ nước. Trong suốt chiều dài lịch sử đó, dân tộc Việt Nam, nhân
dân Việt Nam đã không phải một lần đối đầu với những thử thách khốc liệt và phải tự
mình lựa chọn hoặc là “thà hy sinh tất cả, chứ nhất định không chịu mất nước, nhất
định không chịu làm nô lệ”, chấp nhận hy sinh, mất mát cho dù có to lớn đến đâu
chăng nữa, kể cả tính mạng, xương máu, kể cả phải “đốt cháy cả dãy Trường Sơn” để
giữ vững quyền tự do, độc lập cho dân tộc, hoặc là chịu sự đồng hóa, nô dịch để rồi đi
đến chỗ diệt vong. Với những truyền thống quý báu, nhất là truyền thống yêu nước, đã
được hun đúc bởi chiều dài lịch sử, chiều sâu ý chí, bằng những cuộc đấu tranh kiên
cường, bất khuất, chấp nhận mọi hy sinh, mất mát, kể cả tính mạng, xương máu, dân
tộc ta, nhân dân ta đã đánh thắng nhiều thế lực xâm lược hùng mạnh hơn mình gấp
bội, giữ vững quyền sống, quyền được tồn tại bình đẳng, quyền tự do và độc lập cho
dân tộc, “quyền sống, quyền sung sướng và quyền tự do” cho nhân dân với tư cách
những quyền thiêng liêng, bất khả xâm phạm, bảo vệ vững chắc cả ý chí lẫn khát vọng
được sống, được hạnh phúc trong độc lập, tự do cho cả cộng đồng dân tộc và cho mỗi
người dân nước Việt.
Không chỉ thể hiện sâu đậm truyền thống hào hùng, ý chí kiên cường, bất khuất xuyên
suốt lịch sử nhiều thế kỷ đó của dân tộc Việt Nam ta, của nhân dân Việt Nam
ta, Tuyên ngôn Độc lập của nước Việt Nam mới còn phản ánh một tính cách, một tâm
thế cũng rất đặc thù Việt Nam – đó làsự đoàn kết, đồng tâm, nhất trí, cố kết dân tộc để
tạo nên sức mạnh cộng đồng và khát vọng vươn tới tự khẳng định mình với tư cách
một dân tộc, một quốc gia có chủ quyền với lòng tự tôn, tự hào chính đáng. Tính cách,
tâm thế đặc thù Việt Nam này đã trở thành một giá trị tinh thần mang sức mạnh vật
ngôn Độc lập này, tiếng nói chung, ý chí chung của cả dân tộc ta đều được khẳng
định, được phản ánh và thể hiện một cách đậm nét, đanh thép. Dù cách diễn đạt, cách
thể hiện có khác nhau, nhưng các bản Tuyên ngôn ấy đều là những áng văn bất hủ và
trên hết, nội dung và ý tưởng vẫn là một. Dẫu cho khoảng cách về thời gian có thể
cách xa nhau hàng thiên niên kỷ, nhưng tư tưởng, quan điểm, quan niệm về quyền dân
tộc tự quyết, cơ bản và thiêng liêng của dân tộc Việt Nam với tư cách một quốc gia
độc lập, có chủ quyền và toàn vẹn lãnh thổ, về các quyền con người của người Việt
Nam với tư cách con người theo đúng nghĩa của từ này đều được các bản Tuyên ngôn
ấy khẳng định một cách kiên quyết, tuyên bố một cách đanh thép mà “không ai chối
cãi được”, không ai “không thể không công nhận”.
Có thể nói, bản lĩnh và phẩm giá Việt Nam mà, trongTuyên ngôn Độc lập của nước Việt
Nam mới, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã kết tinh và thể hiện một cách sâu sắc là bản lĩnh và
phẩm giá của cả một dân tộc biết dựng xây và giữ gìn quyền sống, quyền tồn tại của cả
cộng đồng với tư cách một dân tộc; đồng thời cũng phản ánh một cách đậm nét khát
vọng sống, khát vọng tồn tại của con người Việt Nam; và hơn nữa, đó còn là khát vọng
được sống, được tồn tại trong độc lập, tự do với tư cách một động lực tinh thần mạnh
mẽ thúc đẩy mỗi con người Việt Nam và cả cộng đồng dân tộc Việt Nam phát triển theo
hướng tiến bộ, văn minh.
Chúng ta đều biết, trong lịch sử nhân loại, “sự biến mất” trên bản đồ chính trị thế giới
của một số dân tộc nào đó, cộng đồng người nào đó đã được coi là sự kiện chứng tỏ
không ít dân tộc, không ít cộng đồng người, do những nguyên nhân khác nhau, đã
không vượt qua được sự nô dịch, đồng hóa của các thế lực xâm lăng. Xét trên bình
diện này, có thể khẳng định, việc thành lập Nhà nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa có
chủ quyền và toàn vẹn lãnh thổ mà, trong Tuyên ngôn Độc lập, Chủ tịch Hồ Chí Minh
đã trịnh trọng tuyên bố trước toàn thế giới chính là thành quả cao quý nhất trong lịch
sử đấu tranh dựng nước và giữ nước của dân tộc ta, là thước đo sự trưởng thành vượt
bậc trong ý thức, tinh thần dân tộc, trong bản lĩnh và phẩm giá của người Việt Nam
chúng ta.
Trong lịch sử Việt Nam, lịch sử hào hùng của hàng ngàn năm dựng nước và giữ nước,
ngôn Độc lập này còn là nền tảng chính trị - pháp lý của nước Việt Nam mới. Trên
bình diện quốc gia cũng như trên bình diện quốc tế, Tuyên ngôn Độc lậpđều chứa
đựng những yếu tố vượt thời đại và với tư cách đó, nó mang sức sống mãnh liệt và
mãi trường tồn với thời gian.
Thật vậy, quyền dân tộc tự quyết, các quyền cơ bản của con người với tư cách những
quyền thiêng liêng, bất khả xâm phạm mà, trong Tuyên ngôn Độc lập của nước Việt
Nam mới, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã trịnh trọng tuyên bố trước nhân dân toàn thế giới
không chỉ là những giá trị bất hủ dành riêng cho dân tộc Việt Nam, nhân dân Việt
Nam, mà còn là những giá trị bất hủ dành cho mọi dân tộc, cho cả nhân loại. Hướng
đến các quyền đó là xu thế tất yếu của mọi dân tộc, của tất cả mọi người trong cộng
đồng nhân loại ở thời đại ngày nay. Chính vì lẽ đó, khi Tuyên ngôn Độc lập được
công bố đã làm nức lòng các dân tộc và nhân dân các nước gần xa có chung cảnh ngộ
như dân tộc Việt Nam, nhân dân Việt Nam; nó báo hiệu một thời đại mới – thời đại
giải phóng các dân tộc và nhân dân các nước thuộc địa khỏi ách áp bức, bóc lột của
chủ nghĩa thực dân trên quy mô toàn cầu, thời đại phá tan xiềng xích của chủ nghĩa
thực dân, thời đại của các dân tộc và nhân dân các nước bị áp bức, bóc lột giành lại
quyền sống, quyền tồn tại trong độc lập, tự do, hòa bình và bình đẳng cho dân tộc
mình, quyền sống, quyền tự do, dân chủ và mưu cầu hạnh phúc cho nhân dân mình.
(11)
“Không có gì quý hơn độc lập, tự do” và do vậy, phải “quyết đem tất cả tinh thần và
lực lượng, tính mạng và của cải để giữ vững quyền tự do, độc lập ấy” là một giá trị
vừa mang ý nghĩa lịch sử, vừa mang ý nghĩa thời đại và do đó, là một giá trị vĩnh hằng
mà Chủ tịch Hồ Chí Minh vĩ đại đã rút ra không chỉ từ thực tiễn đấu tranh của riêng
mình, của dân tộc Việt Nam, mà cả từ thực tiễn đấu tranh của nhiều vĩ nhân, nhiều dân
tộc trên thế giới trong suốt chiều dài lịch sử và đương đại. Giá trị này không chỉ luôn
được đặt ra trong thời kỳ chủ nghĩa thực dân đang thống trị thế giới, mà còn luôn được
đặt ra trong thời đại ngày nay, khi những kẻ đại diện cho quyền lợi ích kỷ của các
nước lớn, các cường quốc vẫn nhân danh quyền con người, ủng hộ dân chủ để can
đáng được thừa nhận là một áng văn bất hủ không chỉ thể hiện và phản ánh được khí
phách hào hùng của các thế hệ người Việt Nam trong suốt chiều dài lịch sử dân tộc,
mà còn thâu tóm được cả tinh thần của thời đại chúng ta hôm nay.
Tuyên ngôn Độc lập này của nước Việt Nam mới còn hoàn toàn xứng đáng được coi
là một kiệt tác về tư tưởng, lý luận của Chủ tịch Hồ Chí Minh – anh hùng giải phóng
dân tộc, nhà văn hóa lớn, nhà hiền triết của thời đại chúng ta. Không chỉ thế, Tuyên
ngônnày còn thể hiện tình cảm yêu nước nồng nàn, lòng tự hào với truyền thống anh
hùng, bất khuất của dân tộc Việt Nam vốn đã in đậm dấu ấn ở Chủ tịch Hồ Chí Minh.
Ý chí sắt đá trong bản hùng văn này, độ nhạy cảm, tinh tế về chính trị, sự am hiểu sâu
sắc về nền văn hóa dân tộc và văn hóa thế giới, tính nhân đạo và nhân văn trong lối
sống, trong phong cách ứng xử, cộng với trí tuệ sắc sảo trong tư duy và tài hành văn,
sử dụng ngôn ngữ tiếng Việt đến độ tinh tế, trong sáng và uyển chuyển của Chủ tịch
Hồ Chí Minh đã đem lại cho Tuyên ngôn Độc lập quyền mãi trường tồn cùng thời
gian không chỉ với tư cách một văn bản chính trị, một bản Tuyên ngôn lập quốc vĩ đại,
hoàn toàn xứng đáng như một áng hùng văn lập quốc mang giá trị lịch sử và ý nghĩa
thời đại, mà còn với tư cách nỗi niềm sâu lắng, khát vọng cháy bỏng của một dân tộc
mới hồi sinh và thực sự đã hồi sinh, là tiếng nói từ đáy lòng của một anh hùng dân tộc
suốt đời phấn đấu, hy sinh cho độc lập, tự do của Tổ quốc mình, dân tộc mình, cho
hạnh phúc của nhân dân mình – Tổ quốc Việt Nam, dân tộc Việt Nam, nhân dân Việt
Nam. q (*) Phó giáo sư, tiến sĩ, Phó tổng biên tập Tạp chí Triết học.
(1) Hồ Chí Minh. Toàn tập, t.4. Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội, 1995, tr.1.
(2) Hồ Chí Minh. Sđd., t.4, tr.1.
(3) Hồ Chí Minh. Sđd., t.4, tr.3.
(4) Hồ Chí Minh. Sđd., t.4, tr.3.
(5) Hồ Chí Minh. Sđd., t.4, tr.4.
(6) Hồ Chí Minh. Sđd., t.3, tr.198.
(7) Hồ Chí Minh. Sđd., t.4, tr.469.
Cách đây gần nửa thế kỷ, ngày 01/12/1961, tại Đại hội đảng bộ Hà Nội, Chủ tịch Hồ
Chí Minh đã nói:
“Mục đích của chủ nghĩa xã hội là gì?
Nói một cách giản đơn và dễ hiểu là: không ngừng nâng cao đời sống vật chất và
tinh thần của nhân dân, trước hết là nhân dân lao động(1).
Hơn 30 năm sau, vào tháng 1/1994, Hội nghị đại biểu toàn quốc giữa nhiệm kỳ khóa
VII của Đảng đã cụ thể hóa thêm quan điểm ấy của Chủ tịch Hồ Chí Minh khi khẳng
định: “Có ý kiến cho rằng hình thức sở hữu là phương tiện, không nên coi là mục
tiêu. Chỉ có tăng trưởng kinh tế, nâng cao đời sống của nhân dân mới là mục tiêu.
Cần có nhận thức đầy đủ hơn và thống nhất hơn về vấn đề này.
Đúng là phát triển kinh tế - xã hội, nâng cao đời sống nhân dân, thực hiện dân giàu,
nước mạnh, xã hội công bằng,văn minh mới là mục đích cuối cùng”(2) (chúng tôi
nhấn mạnh - L.H.T.) của sự nghiệp xây dựng chủ nghĩa xã hội.
Đây là lần đầu tiên Đảng ta xác định một cách cụ thể, rõ ràng mục đích cuối
cùng của sự nghiệp xây dựng chủ nghĩa xã hội, trong đó “dân giàu”, “nước
mạnh”, “công bằng”,“văn minh” đều được coi là các thành tố của mục đích cuối
cùng mà dứt khoát chúng ta phải đạt tới khi hoàn thành sự nghiệp xây dựng chủ
nghĩa xã hội ấy(3).
Nhưng “văn minh” là gì?
“Văn minh” là khái niệm được nhà dân tộc học Mỹ - Lewis H. Morgan (1818 - 1881)
dùng để chỉ một trình độ phát triển của xã hội loài người với một phương thức sống
đối lập với tình trạng dã man. Theo sự trình bày lại một cách rất khái quát của
Ph.Ăngghen trong tác phẩm “Nguồn gốc của gia đình, của chế độ tư hữu và của nhà
nước” thì trong cuốn “Xã hội cổ đại ” của Morgan được xuất bản năm
1877, Morgan đã phân chia xã hội cổ đại ra thành các thời đại sau: “Thời đại mông
muội - thời đại trong đó việc chiếm hữu những sản vật tự nhiên sẵn có chiếm ưu thế;
những sản phẩm do con người tạo ra thì chủ yếu đều là những công cụ tạo điều kiện
thuận lợi cho việc chiếm hữu kia. Thời đại dã man - thời đại trong đó con người học
được cách chăn nuôi súc vật và làm ruộng, học được những phương pháp thông qua
hóa và văn minh là trùng nhau, nhưng ở Đức lại khác. Ở Đức, văn hóa là lĩnh vực
các giá trị tinh thần, còn văn minh bao gồm lĩnh vực các giá trị vật chất(10). Nhà văn
hóa học Hữu Ngọc cũng nhấn mạnh rằng: “Văn hóa bao gồm hệ thống những giá trị
để đánh giá một sự việc, một hiện tượng (đẹp hay xấu, đạo đức hay vô luân, phải hay
trái…) theo cộng đồng ấy. Còn văn minhthì chỉ toàn bộ những phương tiện vật chất
và kỹ thuật phục vụ cho những mục đích lợi ích của đời sống con người trong quan
hệ của nó với môi trường”(11). TheoS.Hungtington - tác giả cuốn sách “Sự va chạm
của các nền văn minh” - thì các tư tưởng gia người Đức đã vạch một ranh giới rõ nét
giữa văn minh (là cái gì thuộc về công nghiệp, công nghệ, cả các yếu tố vật chất)
và văn hóa (là cái gì liên quan đến giá trị, lý tưởng và các phẩm chất trí tuệ, nghệ
thuật và đạo đức cao siêu của xã hội). “Quan niệm này không được ở đâu chấp
nhận”(12). Trong tài liệu mácxít trước đây thì khái niệm văn minh cũng được dùng
để chỉ nền văn hóa vật chất. Tuy nhiên, những cố gắng không mệt mỏi nhằm hạn chế
nội dung và ý nghĩa của khái niệm văn minh chỉ trong lĩnh vực các giá trị vật chất,
những phát kiến mới trong lĩnh vực kỹ thuật và những thành tựu trong lĩnh vực tạo ra
những tiện nghi mới cho cuộc sống của con người đang vấp phải sự phản đối có lý.
Những người phản bác lưu ý rằng, trong số các phát minh vĩ đại góp phần tạo nên
văn minh có những hiện tượng, như tổ chức nhà nước, thị trường, tiền tệ, luật pháp,
nền dân chủ, máy in, các phương tiện thông tin hiện đại, v.v Rõ ràng là, khoa học
và kỹ thuật hiện đại đang đưa lại và tiếp tục đảm bảo sự tiến bộ vật chất của xã hội,
nhưng không nên vì thế mà coi nội dung của văn minh chỉ bao gồm lĩnh vực các giá
trị vật chất(13).
Ngược lại với khuynh hướng tách bạch văn minh với văn hóa trên đây, lại còn có
khuynh hướng gắn văn minh với văn hóa, thậm chí đồng nhất chúng với nhau.
TheoS.Hungtington, ở ngoài nước Đức, nhiều người đồng ý với nhận định
của Braudel rằng, “muốn tách biệt văn hóa ra khỏi nền móng của nó là văn
minh theo cách người Đức thì thật là ngớ ngẩn”(14).
Đối với Braudel, một nền văn minh là “một không gian, một vùng văn hóa”, “một
tập hợp các hiện tượng và đặc điểm văn hóa”. Wallerstein định nghĩa văn minh là
một “tổng thể nhất định nào đó gồm nhãn quan thế giới, phong tục, cấu trúc và văn
Hà Nội, 1993), thì năm 1967, nhà văn hóa học Pháp - Abraham Moles cho biết đã có
250 định nghĩa về văn hóa. Năm 1992, nhà văn hóa học Phan Ngọc thông báo: Theo
một nhà dân tộc học Mỹ, “đã có ngót 400 định nghĩa khác nhau về cái từ văn
hóa”(19).
Tuy có quá nhiều định nghĩa về văn hóa, nhưng vào tháng 11 năm 2001, Đại hội
đồng UNESCO lần thứ 31 đã thông qua được “Tuyên bố toàn cầu về văn hóa”, trong
đó có đưa ra được một định nghĩa về văn hóa đáng chú ý: “Văn hóanên được
xem (chúng tôi nhấn mạnh - L.H.T.) là một tập hợp (the set) các đặc điểm nổi bật về
tinh thần, vật chất, tri thức và tình cảm của xã hội hay một nhóm xã hội, và ngoài văn
học, nghệ thuật, nó còn bao gồm lối sống, cách thức cùng chung sống, các hệ thống
giá trị, các truyền thống và tín ngưỡng”(20). Còn về văn minh thì bản
thânS.Hungtington ở gần cuối cuốn sách “Sự va chạm của các nền văn minh” đã viết
một cách dè dặt: “Văn minh có thể là (người trích nhấn mạnh) một sự hòa trộn phức
tạp các mức cao của đạo đức, tôn giáo, học vấn, nghệ thuật, triết học, công nghệ,
phồn thịnh, và có thể còn nhiều tố chất khác”(21).
Những điều vừa trình bày ở trên cho thấy cả khái niệm văn minh lẫn khái niệm văn
hóa đều là những khái niệm đa nghĩa, mặc dầu mức độ có khác nhau. Vì vậy,
dù đồng nhấtvăn minh với văn hóa hay phân biệt văn minh với văn hóa thì trên thực
tế, nghĩa của khái niệm văn minh vẫn không rõ ràng.
Tuy bất đồng trong các định nghĩa về văn minh, nhưng theo S.Hungtington, các học
giả nói chung đồng ý với nhau trong cách xác định các nền văn minh lớn trong lịch sử
đã từng tồn tại trên thế giới. Tuy nhiên, họ lại bất đồng về tổng số nền văn minh đã
tồn tại trong lịch sử. Quigleykhẳng định có 16 trường hợp và có thể có 8 trường hợp
bổ sung. Toynbee cho con số 21 rồi 23. Spengler cho con số 8 nền văn minh
lớn. McNeill đưa ra con số 9 nền văn minh trong toàn bộ lịch sử. Bagby cũng cho
cùng con số đó hoặc 11, nếu Nhật Bản được tính tách biệt khỏi văn minh Trung Hoa
và Chính thống giáo được tính tách khỏi châu Âu.Braudel có số 9, còn
theo Rostovanyi thì có 7 nền văn minh đương thời. Sau khi phục hồi thư tịch có liên
quan, Melkokết luận là “có sự nhất trí tương đối” cho ít nhất 12 nền văn minh lớn, 7
- Xã hội văn minh có nghĩa là khi ăn trầu, không nhổ nước bọt đỏ lòm ra phố.
- Ứng xử văn minh ư? Thí dụ, ra ngoài đường đi xe đạp, xe máy, đi bộ, v.v. theo
đúng luật lệ giao thông.
- Văn minh còn có nghĩa là hành động theo lẽ phải, làm đúng không phải chỉ vì luật
pháp hay có ai đó bắt buộc mình phải làm.
- Văn minh có nghĩa là cố gắng làm cái gì tốt, đẹp, thật.
- Văn minh nghĩa là phải hiện đại như ở Âu, Mỹ hay ở các nước châu Á phát triển
khác.
- Văn minh có nghĩa là không đánh vợ; không đẻ ra một đàn con để chúng nhếch
nhác; không dùng ma túy,…
- “Xây dựng một xã hội văn minh” chủ yếu là nhằm chống lại “sinh hoạt nông thôn
lạc hậu”.
- Văn minh không có nghĩa là học vấn kiểu hàn lâm, mà là các mối quan hệ nhân sự,
ứng xử. Một người có thể hiểu biết về khoa học uyên bác mà vẫn thiếu văn minh.
- Văn minh là không ích kỷ, nghĩ đến tập thể.
- Có vị giáo sư đại học trình bày: “Có nhiều nền văn minh. Việt Nam có nền văn
minh lúa nước đã mang lại những giá trị văn hóa nhân văn, đạo đức, lễ độ, là sức
mạnh của dân tộc Việt Nam, cần bảo vệ chống lại những yếu tố dã man của hiện đại”
v.v (23).
Chắc những câu trả lời tương tự những câu được tác giảHữu Ngọc kể lại trên đây
cũng còn không ít kể từ năm 1994 - năm mà khẩu hiệu “Dân giàu, nước mạnh, xã hội
công bằng, văn minh” được coi là mục tiêu cuối cùng của chúng ta và lần đầu tiên
được chính thức ghi vào một trong những văn kiện rất quan trọng của Đảng - Văn
kiện Hội nghị đại biểu toàn quốc giữa nhiệm kỳ khóa VII. Mặc dầu vậy, cho đến nay,
kể từ năm 1994, vẫn chưa có một văn kiện nào của Đảng giải thích rõ thuật ngữ “văn
minh” trongmục tiêu cuối cùng kể trên được dùng theo nghĩa nào?
Trong tình hình không chỉ ở Việt Nam, mà cả ở nhiều nơi trên thế giới, thậm chí
ngay trong giới học giả, nội hàm của khái niệm "văn minh" vẫn chưa rõ ràng thì để
cho thành tố"văn minh" trong "mục tiêu cuối cùng" có thể thực sự đi vào cuộc sống,
Gần 10 năm sau nữa, vào năm 1941, dưới sự lãnh đạo trực tiếp của Chủ tịch Hồ Chí
Minh và Ban chấp hành Trung ương Đảng, Mặt trận “Việt Nam độc lập đồng minh”
(gọi tắt là Việt Minh) đã ra đời. Tháng 10/1941, Tổng bộ Việt Minh đã công
bố Tuyên ngôn, Chương trình, Điều lệ nói rõ tôn chỉ, mục đích của mình là liên hiệp
tất cả các tầng lớp nhân dân đang cùng nhau đánh đuổi Nhật - Pháp, làm cho Việt
Nam hoàn toàn độc lập. Trong Chương trình của Việt Minh ngay từ khi ấy đã có ghi
rõ, về chính trị: “Ban bố các quyền tự do dân chủ cho nhân dân: tự do ngôn luận, tự
do xuất bản, tự do tổ chức, tự do tín ngưỡng, tự do đi lại trong nước, tự do xuất
dương”(26).
Tại Quảng trường Ba Đình, ngày 2/9/1945, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã đọc bản Tuyên
ngôn độc lập do Người khởi thảo tuyên bố thành lập nước Việt Nam Dân chủ Cộng
hòa. Mở đầu bản Tuyên ngôn độc lập, sau khi nhắc lại những “lời bất hủ trong
bản Tuyên ngôn Độc lập năm 1776 của nước Mỹ”:
“Tất cả mọi người đều sinh ra có quyền bình đẳng. Tạo hóa cho họ những quyền không
ai có thể xâm phạm được; trong những quyền ấy, có quyền được sống, quyền tự do và
quyền mưu cầu hạnh phúc”.
Và, trong bản “Tuyên ngôn Nhân quyền và Dân quyền của Cách mạng Pháp năm
1791”:
“Người ta sinh ra tự do và bình đẳng về quyền lợi; và phải luôn luôn được tự do và
bình đẳng về quyền lợi”.
Hồ Chí Minh khẳng định: “Đó là những lẽ phải không ai chối cãi được”(27).
Chính vì những lẽ phải không ai chối cãi được đó mà nhân dân Việt Nam, cũng như
nhân dân các nước khác, có quyền và phải được sống trong tự do. Chiều 16/1/1946,
trả lời các nhà báo trong và ngoài nước về Liên bang Đông Dương, Hồ Chí Minh
nói: “Nếu người ta muốn dùng chữ Liên bang Đông Dương để làm thành một cái gì
giam trói, ràng buộc quyền tự do, quyền sinh hoạt của chúng tôi, nhất định không thể
xong được. Bởi vì ai cũng muốn sống tự do”(28). Xuất phát từ tinh thần ấy, ngày
19/9/1945, Hồ Chí Minh xác định: “Các công việc của Chính phủ làm phải nhằm vào
một mục đích duy nhất (chúng tôi nhấn mạnh - L.H.T.) làmưu tự do hạnh
thế nào? Đối với mọi vấn đề, mọi người tự do bày tỏ ý kiến của mình, góp phần tìm ra
chân lí. Đó là một quyền lợi mà cũng là một nghĩa vụ của mọi người”(38). Tự do,
theo Ph.Ăngghen, là năng lực hành động trên cơ sở nắm được cái tất yếu, còn theo
một tác giả khác thì tự do là có thể làm bất cứ điều gì không hại đến người khác,
không vi phạm quyền tự do của người khác. Mức độ phức tạp của các quan niệm trên
đây về tự do có thể khác nhau, nhưng những cách giải thích ấy ít nhiều người dân có
thể hiểu được, có thể tiếp nhận được. Trong khi đó, khái niệm văn minh quá đa nghĩa.
Vì vậy, theo chúng tôi, ta nên nghĩ đến phương án thay thành tố “văn minh” bằng
thành tố “tự do”. Việc thay này sẽ giúp người dân dễ hiểu hơn và do đó dễ làm hơn.
Và, việc thay thế này thực ra không phải là một việc gì quá mới vì ngay từ năm 1946,
giữa lúc ở trong nước thù trong không ít mà giặc ngoài cũng nhiều, đang câu kết với
nhau gây cho ta rất nhiều khó khăn, có những khó khăn tưởng như không thể vượt qua
được, nhưng Hồ Chí Minh đã đưa những quyền tự do ấy vào “Hiến pháp nước Việt
Nam Dân chủ Cộng hòa” - văn bản pháp lý đầu tiên và quan trọng nhất của Nhà nước
ta - lúc bấy giờ. Còn hiện nay, thế và lực của ta mạnh nhiều gấp bội so với 64 năm
trước.