MỘT SỐ BIỆN PHÁP TỔ CHỨC HOẠT ĐỘNG QUAN SÁT C CÁC CON VẬT NHẰM PHÁT TRIỂN KỸ NĂNG SO SÁNH CHO TRẺ MẪU GIÁO 5- 6 TUỔI - Pdf 11

PHẦN MỞ ĐẦU
1. Lí do chọn đề tài
Chúng ta đang sống trong thế kỉ của nền văn minh trí tuệ, nền kinh tế
tri thức. Sự phát triển của xã hội yêu cầu nghành Giáo dục và Đào tao tạo ra
nguồn nhân lực cố sức khoẻ tốt, có tri thức và năng lực HĐ sáng tạo, có tư
duy nhạy bén và có KN lao động thích ứng với sự thay đổi của xã hội.
Để đáp ứng yêu cầu thực tiễn của xã hội nghành Giáo dục và Đào tạo
đang từng bước tiến hành đổi mới toàn diện từ bậc học mầm non đến đại học
và sau đại học.
Giáo dục mầm non là mắt xích đầu tiên trong hệ thống giáo dục, là
mảnh đất xây những viên gạch đầu tiên làm nền móng cho các bậc học tiếp
theo. Mục tiêu của giáo dục mầm non là ”giúp trẻ phát triển về thể chất, tình
cảm, trí tuệ, thẩm mĩ, hình thành những yếu tố đầu tiên của nhân cách, chuẩn
bị cho trẻ vào lớp 1”. (Điều 22- luật Giáo dục, 2005).
Hiện nay ở trường mầm non, đối với lứa tuổi MG mục tiêu phát triển
nhận thức rất được coi trọng. Các KNQS, SS, phân loại là nội dung đang
được các nhà giáo dục quan tâm, ngiên cứu. Bởi lẽ, đối với trẻ mầm non QS
là công cụ, là phương tiện giúp trẻ nhận thức thế giới xung quanh. Tổ chức
HĐQS là con đường không thể thiếu được trong việc phát triển nhận thức nói
chung và các KN nói riêng. QS giúp trẻ phát hiện ra những dấu hiệu giống và
khác nhau giữa các CV cũng như sự thay đổi của thế giới xunng quanh. Chính
vì thế, thông qua QS KNSS của trẻ được hình thành và phát triển tốt nhất.
Đối tượng nhận thức của trẻ MG 5 - 6 tuổi rất phong phú, đa dạng
nhưng thế giới động vật luôn được trẻ yêu thích và có nhu cầu khám phá rất
cao. Thông qua việc QS, tìm hiểu, khám phá các CV dưới nhiều hình thức
khác nhau trẻ xuất hiện nhu cầu SS các CV, không chỉ các CV cùng nhóm,
cùng loài mà bản thân một CV trong những thời điểm khác nhau có những
1
đặc điểm khác nhau. Chính điều thú vị đó đã thôi thúc trẻ tìm hiểu, khám phá
và tiến đến SS.
Như vậy, có thể nói rằng, nếu không có QS, khám phá sẽ không phát

4.2. Nghiên cứu thực trạng về việc tổ chức HĐQS môi trường tự nhiên
và thực trạng phát triển KNSS của trẻ MG 5 - 6 tuổi ở trường mầm non hiện
nay.
4.3. Xây dựng các biện pháp tổ chức HĐQS các CV cho trẻ MG 5 - 6
tuổi nhằm phát triển KNSS.
4.4. Tổ chức thử nghiệm các biện pháp đã xây dựng để kiểm nghiệm
tính khả thi và tính hiệu quả.
5. Giả thuyết khoa học
Nếu GV mầm non biết sử dụng các biện pháp tổ chức HĐQS khám phá
về các CV một cách linh hoạt, sáng tạo giúp trẻ tiếp nhận các thông tin đầy
đủ, chính xác, trọn vẹn về CV thì năng lực QS và KNSS của trẻ sẽ được hình
thành và phát triển tốt hơn.
6. Giới hạn nghiên cứu
Do điều kiện khách quan và chủ quan nên đề tài chỉ dùng lại ở việc
nghiên cứu những vấn đề sau:
Nghiên cứu việc hình thành và phát triển KNSS của trẻ MG 5 - 6 tuổi
trong chủ đề động vật.
Nghiên cứu việc tổ chức HĐQS các CV đặc biệt chú trọng đến vấn đề
hình thành và phát triển KNSS cho trẻ MG 5 - 6 tuổi.
Đề tài tiến hành nghiên cứu ở một số trường mầm non trên địa bàn tỉnh
Hà Tĩnh và Thành phố Vinh, tỉnh Nghệ An.
7. Phương pháp nghiên cứu
7.1. Nhóm các phương pháp nghiên cứu lí luận
3
Tìm kiếm, thu thập, phân tích, tổng hợp các tài liệu có liên quan đến
vấn đề nghiên cứu trong và ngoài nước để xác định các khái niệm công cụ cho
đề tài và xây dựng, hệ thống hoá, khái quát hoá thành lí luận về việc tổ chức
HĐQS và phát triển KNSS các CV cho trẻ MG 5 - 6 tuổi.
7.2. Nhóm các phương pháp nghiên cứu thực tiễn
7.2.1. Phương pháp điều tra anket

chức HĐQS các CV nhằm tác động có hiệu quả đến sự hình thành và phát
triển KNSS cho trẻ MG 5 - 6 tuổi ở trường mầm non.
5
Chương 1
CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA VIỆC XÂY DỰNG
CÁC BIỆN PHÁP TỔ CHỨC HOẠT ĐỘNG QS
ĐỘNG VẬT NHẰM PHÁT TRIỂN KN SS
CHO TRẺ MẪU GIÁO 5 - 6 TUỔI
1.1. CƠ SỞ LÍ LUẬN CỦA VIỆC TỔ CHỨC HĐQS CÁC CV NHẰM
PHÁT TRIỂN KNSS CHO TRẺ MẦM NON
1.1.1. Vài nét về lịch sử nghiên cứu vấn đề
1.1.1.1. Nghiên cứu của các tác giả nước ngoài
Vấn đề phát triển nhận thức cho trẻ nói chung và tổ chức HĐQS khám
phá nói riêng là một trong những nội dung quan trọng được nhiều tác giả
nước ngoài quan tâm.
Nhà giáo dục lỗi lạc của thế kỉ XX- J. A. Komemxki đã từng đưa ra đề
nghị: “việc học tập của trẻ không nên bắt đầu bằng việc giải thích bằng lời
nói về các sự vật mà bằng QS, tiếp xúc trực tiếp với sự vật hiện tượng đó”
[56]. Ông đề cao vai trò của việc hướng dẫn trẻ QS các sự vật hiện tượng và
hơn cả là QS vật thật. Ông chỉ ra rằng, trong mọi hoàn cảnh cần cố gắng cho
trẻ được tiếp xúc với vật thật, chỉ trong trường hợp không thể mới sử dụng
tranh ảnh, mô hình và bản vẽ. Trong quá trình tổ chức cho trẻ QS, tiếp xúc
với các sự vật hiện tượng của TGXQ cần tạo điều kiện để trẻ huy động tối đa
các giác quan. Chỉ có QS như thế trẻ mới hiểu biết về thế giới. Quan điểm
giáo dục tiến của ông về QS vẫn còn nguyên giá trị cho đến ngày nay.
J J. Rutxo cũng quan niệm rằng, tri thức của trẻ được hình thành và
phát triển thông qua việc tiếp xúc với đồ vật và HĐ thực tiễn. Chính trong
quá trình HĐ với đồ vật mà tri thức của trẻ được hình thành và phát triển tốt
nhất. Trong quá trình giảng dạy ông từng nói: “đồ vật, đồ vật- hãy đưa ra đồ
vật”. Tôi không ngừng nhắc đi nhắc lại rằng chúng ta lạm dụng quá mức lời

7
Một số tác giả như: Jean Marie Deketel nghiên cứu các KN nhận thức
cơ bản của con người ; Bloom, Phainer đã xác định các mức độ nhận thức của
con người qua đó giúp tìm ra những KN nhận thức cần thiết.
* Khuynh hướng thứ hai: Nghiên cứu KN như là một biểu hiện của
năng lực con người.
Theo một số nhà tâm lí học sư phạm, họ coi KN là một biểu hiện của
năng lực, làm rõ khái niệm KN, kỹ xảo mối quan hệ giữa KN và kỹ xảo.Theo
các tác giả này, cơ sở của KN là tri thức và kinh nghiệm cá nhân. Theo
A.V.Petropxki, V.A.Kruchetxki, N.Đ.Lêvitov thì kỹ năng có hai loại: KN bậc
thấp và KN bậc cao [34] [19].
Xavier Roegiers xem KN như là một biểu hiện của năng lực.Theo tác
giả này, không có một KN nào tồn tại dưới dạng thuần khiết và mọi KN đều
được biểu hiện qua nội dung cụ thể [53].
Ngoài ra, khi nghiên cứu về KNSS của trẻ mầm non các tác giả
A.M.Lêusina, B.B. Đanilôva đã nghiên cứu các biện pháp hình thành KNSS số
lượng trên cơ sở thiết lập tương ứng 1:1 cho trẻ MG ở lứa tuổi khác nhau. Một
số tác giả khác như: A.N.Mesinxkaia, A.A.Liublinxkaia, A.N.Daparogiet,
A.I.Xôrokina, V.X.Mukhina cũng đã nghiên cứu khá kĩ đặc điểm phát triển
KNSS của trẻ mần non. Các tác giả này đều cùng có quan điểm là trẻ lứa tuổi
nhà trẻ chưa biết tiến hành đúng KNSS, chưa biết tách biệt các dấu hiệu bản
chất trong mỗi đối tượng. Đến tuổi MG thì KNSS ở trẻ phát triển tốt hơn, đặc
biệt là độ tuổi 4 -5. Trong giai đoạn 4 - 5 tuổi, trẻ đã biết SS để tìm ra sự
giống nhau và khác nhau giữa các CV. Hơn nữa, khi SS trẻ biết chú ý đến các
dấu hiệu cơ bản để tách bạch các đối tượng. Tuy nhiên, KNSS ở trẻ 4 - 5 tuổi
chưa thực sự thành thạo mà phải đến 5 - 6 tuổi thì KNSS mới thực hiện được
hoàn chỉnh hơn. Nhưng nhược điểm thường gặp ở trẻ mọi lứa tuổi là khi SS
trẻ chú ý đến đặc điểm bên ngoài không đặc trưng củađói tượng SS. Vì vậy,
cần có biện pháp phù hợp để giúp trẻ thực hiện KNSS có hiệu quả [6].
8

học sư phạm Hà Nội. Tác giả đưa ra một số KN như: KN tiếp xúc với trẻ KN
tổ chức chế độ sinh hoạt, KN tổ chức trò chơi, KN lên lớp các tiết học và dựa
vào các KN đó để đánh giá HĐ thực tập của sinh viên khoa giáo dục mầm
non [11].
Bàn về KNSS của trẻ mần non nói chung và KN SS trẻ MG 5 -6 tuổi
nói riêng, các nhà tâm lí học- giáo dục học mầm non và một số tác giả khác
có quan niệm như sau:
PGS. TS. Ngô Công Hoàn, nghiên cứu sự hình thành và phát triển thao
tác SS của trẻ mần non theo từng độ tuổi.Tác giả cho rằng, ngay từ tuổi nhà
trẻ (24 - 36 thàng) trẻ đã biết: “SS bánh này to hơn bánh kia, quả taó này to
hơn quả táo kia” và đến tuổi MG bé (3 -4 tuổi) “ thao tác SS từ vật có khối
lượng to nhỏ khác nhau để chọn quả cam, táo chuối tự thích quả to hơn quả
bé. Đến tuổi MG nhỡ (4 -5 tuổi) thao tác SS phát triển ở mức độ cao hơn: “
nhờ có sự tích lũy nhiều biểu tượng về các sự vật, hiện tuợng, con người, và
mối quan hệ giữa chúng dưới dạng hình ảnh mà trẻ tiến hành các thao tác tư
duy với các nhiệm vụ đơn giản (tuy nhiên sự lắp ghép SS còn khập khiễng
theo lối duy kỉ) [12].
PGS. TS. Nguyễn Ánh Tuyết, Trong quá trình nghiên cứu về đặc điểm
và sự phát triển tâm lí của trẻ em từ 0- 6 tuổi, bà cho rằng, quá trình tư duy
của con người phải dùng đến các thao tác trí tuệ như: phân tích, tổng hợp, SS,
trừu tượng hóa, khái quát hóa và bà còn khẳng định rằng, SS là một trong
những thao tác cơ bản của tư duy, cần cho cuộc sống, lao động và học tập của
con người. Đặc biệt đối với trẻ em lứa tuổi MG SS cần cho HĐ của trí tuệ, SS
càng tốt thì sự phát triển trí tuệ về cả hai phương diện cảm tính và lí tính đều
diễn ra một cách thuận lợi [48].
Ngoài ra, các công trình nghiên cứu luận án tiến sĩ, thạc sĩ cũng đề cập
đến vấn đề hình thành và phát triển KNSS cho trẻ mầm non
10
Tổng kết một số công trình nghiên cứu của các tác giả trong và ngoài
nước về các vấn đề liên quan đến QS và sự phát triển các KN nhận thức của

QS, trẻ cần thời gian để QS. Người lớn có thể sử dụng câu hỏi để định hướng
sự QS của trẻ, giúp trẻ chú ý, tập trung vào những chi tiết nhỏ và nói về những
gì chúng đang nhìn thấy. QS là một KN cho phép chúng học được nhiều hơn
những gì chúng đang nhìn thấy. QS cho phép trẻ phát hiện những đặc điểm
chủ yếu, quan trọng, đặc biệt của sự vật hiện tượng cũng như những thay đổi
và sự khác nhau của chúng (18, Tr 69- 70).
Theo chúng tôi: QS là một quá trình tâm lí, nhận thức có mục đích, có
kế hoạch của chủ thể nhằm thu được biểu tượng trọn vẹn, chính xác về CV
đang trực tiếp tác động vào các giác quan. Quá trình QS có sự tham gia của
nhiều yếu tố như tri giác có chủ định, chú ý có chủ định, tư duy, ngôn ngữ và
trí nhớ.
Từ hai khái niệm cuối cùng về HĐ và QS có thể hiểu: HĐQS là một
trong những HĐ nhận thức của con người, là sự tương tác giữa chủ thể với
CV đang tác động vào các giác quan của chủ thể) một cách có mục đích, có
kế hoạch nhằm thu được những thông tin trọn vẹn về CV đó trong khoảng
thời gian nhất định. HĐQS có sự tham gia đầy đủ của các thành phần tâm lí
như: tri giác có chủ định, tri giác có suy nghĩ, các thao tác tư duy và ngôn
ngữ.
1.1.2.2. Biện pháp tổ chức HĐQS
Theo từ điển tiếng việt, “biện pháp là cách tiến hành giải quyết một vấn
đề cụ thể” [37].
Theo quan điểm đổi mới trong giáo dục, biện pháp là cách làm cụ thể
của GV nhằm tác động lên trẻ để đạt được mục đích đã đề ra. Biện pháp phải
tạo ra được mối liên hệ giữa GV và trẻ, trong đó trẻ vừa là khách thể vừa là
chủ thể tích cực của quá trình nhận thức còn GV chỉ là người tạo cơ hội,
hướng dẫn, gợi mở các HĐ cho trẻ.
12
Như vậy, có thể hiểu biện pháp là cách làm cụ thể, cách giải quyết một
vấn đề cụ thể nào đó theo mục đích đã đề ra. Trong nhiều trường hợp biện
pháp được xem như là cách thức HĐ giữa GV và trẻ.

Theo Paul Hersey, KN là khả năng sử dụng tri thức, các phương pháp,
kĩ thuật và thiết bị cần thiết cho việc thực hiện các nhiệm vụ nhất định có
được từ kinh nghiệm, giáo dục và đào tạo [33]. Theo X.I. Kixegop, KN là khả
năng thực hiện có hiệu quả hệ thống hành động phù hợp với mục đích và điều
kiện thực hiện hệ thống này [31]. Xavie Roegier quan niệm, KN là khả năng
thực một cái gì đó. Đó là một HĐ được thực hiện [53].
GS. Nguyễn Quang Uẩn, PGS. TS Ngô Công Hoàn, Trần Quốc Thành
cho rằng, “KN là năng lực của con người biết vận dụng các thao tác của một
hành động theo đúng quy trình” [59].
Trên cơ sở đó chúng tôi đưa ra cách hiểu về KN như sau:
+ KN là năng lực HĐ có hiệu quả của chủ thể, nó có được do luyện tập
mà thành. KN nếu được luyện tập nhiều sẽ trở thành kĩ xảo.
+ KN là biết cách thực hiện một hành động nào đó theo đúng quy trình
dựa trên sự hiểu biết, tri thức, kinh nghiệm mà chủ thể có được trong quá
trình vận dụng có hiệu quả các thao tác cụ thể trong điều kiện về không gian
và thời gian nhất định.
* Khái niệm SS
Có nhiều quan điểm khác nhau bàn về khái niệm SS. Tuy nhiên qua tìm
hiểu các quan điểm của các tác giả chúng tôi thấy có thể phân chia thành hai
khuynh hướng.
Khuynh hướng thứ nhất, xem xét SS trong một quá trình nhận thức. Đại
diện cho khuynh hướng này gồm các tác giả:
Nguyễn Quang Uẩn, Nguyễn Văn Luỹ, Đinh Văn Vang xem xét “SS là
quá trình dùng trí óc để xác định sự giống nhau hay khác nhau, sự đồng nhất
14
hay không đồng nhất, sự bằng nhau hay không bằng nhau giữa các CV nhận
thức (sự vật, hiện tượng)”[60, tr.151].
Một số tác giả khác như: Tạ Ngọc Thanh, Nguyễn Thành Nhân cũng
quan điểm SS là dùng trí óc để xác định sự giống nhau, khác nhau và sự
đồng nhất, không đồng nhất giữa các SVHT. “SS là nhìn vào cái này để xem

nhiệm vụ SS và cũng như cách thức SS các sự vật.
1.1.2.4. Biện pháp tổ chức HĐQS các CV nhằm phát triển KNSS cho trẻ
MG 5 - 6 tuổi
Từ hai khái niệm cuối cùng về biện pháp tổ chức HĐQS và KNSS của
trẻ MG 5 - 6 tuổi trong HĐ khám phá khoa học về môi trường xung quanh
chúng tôi đề xuất khái niệm về biện pháp tổ chức HĐQS các CV nhằm phát
triển KNSS cho trẻ MG 5 - 6 tuổi như sau:
Đó là cách làm cụ thể của GV nhằm sắp xếp, bố trí các HĐ giữa cô và
trẻ một cách có mục đích, có kế hoạch theo một hệ thống sao cho trẻ thu
được biểu tượng trọn vẹn, chính xác về CV thông qua tiếp xúc (khảo sát, thực
hiện các thao tác SS) bằng các giác quan. Trên cơ sở đó trẻ có khả năng tìm
ra những dấu hiệu giống- khác nhau giữa các CV hoặc sự đồng nhất- không
đồng nhất và sự thay đổi, sự phát triển của một CV trong khoảng thời gian
nhất định và dần dần trẻ nắm được mục đích, nhiệm vụ, cách thức SS.
1.1.3. Cơ sở lí luận của việc tổ chức HĐQS các CV cho trẻ MG 5 - 6 tuổi
nhằm phát triển KNSS
1.1.3.1. HĐQS khám phá các CV của trẻ MG 5 - 6 tuổi
a. Vai trò của HĐQS khám phá các CV với sự phát triển nhận thức của trẻ:
Đối với trẻ em lứa tuổi mầm non, HĐ khám phá khoa học nói chung và
HĐQS các CV nói riêng chiếm vai trò quan trọng trong quá trình phát triển
nhận thức cho trẻ. Nó không chỉ đơn thuần là giúp trẻ nắm được những kiến
thức cơ bản về các CV mà mục đích chính của HĐ là dạy trẻ quá trình tìm tòi,
16
khám phá cấu tạo, quá trình phát triển, mối quan hệ giữa cấu tạo với môi
trường sống, với thức ăn và với con người; dạy trẻ cách suy nghĩ nhiều hơn
những gì mà chúng đang làm, đang nhìn thấy từ các CV; khơi dậy tính tò mò,
ham hiểu biết thích khám phá ở trẻ về các CV; khuyến khích trẻ khám phá,
xem xét các CV bằng các giác quan; lôi cuốn trẻ vào quá trình thăm dò, thử
nghiệm để trau dồi các KN: QS, SS, phân loại, phỏng đoán,suy luận. Nhờ
vậy, các giác quan của trẻ ngày càng trở nên nhanh nhạy và chính xác hơn.

rỡ, caí mỏ nhọn màu vàng )
Trẻ MG lớn vừa có thể QS cùng với cô giáo vừa có thể QS cùng với
bạn bè trong nhóm. Trẻ MG 5- 6 tuổi cũng còn QS theo cá nhân, ở đây trẻ chủ
động lựa chọn, vận dụng cách thức khảo sát, phân tích CV, tự mình thực hiện
nhiệm vụ do GV giao (QS SS và sắp xếp các CV theo thứ tự thấp nhất đến
cao nhất trẻ có thể xếp các CV cạnh nhau để SS hoặc dùng phương pháp đo).
Như vậy, HĐQS của trẻ MG 5 - 6 tuổi vừa mang những đặc điểm QS của trẻ
mầm non vừa có những tính chất riêng của lứa tuổi.
c. Yêu cầu khi tổ chức HĐQS các CV cho trẻ MG 5 - 6 tuổi:
Trước khi tổ chức HĐQS GV phải LKH chi tiết, cụ thể, rõ ràng từng
nội dung cần thực hiện. Đối tượng QS được lựa chọn phải mang dấu hiệu đặc
trưng của loài, đáp ứng hứng thú và nhu cầu nhận thức của trẻ, đồng thời giải
quyết được nhiệm vụ nhận thức đã đề ra. Đối với trẻ MG lớn CV QS phải
phức tạp và số lượng nhiều hơn lứa tuổi khác. Mục đích, nhiệm vụ QS phải
phù hợp với đối tượng nhận thức là trẻ 5 - 6 tuổi, phải đảm bảo nguyên tắc
“vùng phát triển gần nhất” của Vưgotxki. Chuẩn bị chu đáo trước khi QS về
không gian, bố trí CV QS; chuẩn bị kiến thức và tâm thế cho trẻ.
Sau khi kết thúc QS GV cần cho trẻ tham gia thảo luận, nhận xét, đánh
giá kết quả HĐ cùng nhau trong suốt thời gian QS.
18
GV cần phải có hồ sơ ghi chép lại kết quả QS của từng trẻ để nhận xét
một cách khách quan và chính xác về kết quả đạt được của từng trẻ sau mỗi
lần QS.
d Nội dung cho trẻ MG 5 - 6 tuổi QS khám phá các CV:
Hiện nay, ở trường mầm non nội dung cho trẻ khám phá khoa học
thường được tổ chức thực hiện theo các chủ đề. Chủ đề “động vật” bao gồm
các nội dung sau:
* Quan sát vật nuôi trong gia đình:
Đây là nhóm các CV gần gũi và quen thuộc nhất đối với trẻ. Vì thế vật
nuôi trong gia đình là nội dung đầu tiên cần cung cấp cho trẻ. Trẻ lứa tuổi này

giản giữa CV với môi trường sống, với con người. Trẻ biết các suy luận, phán
đoán và giải thích các mối liên hệ đơn giản.
e. Các loại hình QS và các hình thức tổ chức HĐQS cho trẻ MG 5 - 6 tuổi
Trong quá trình tổ chức cho trẻ khám phá khoa học về môi trường tự
nhiên có thể sử dụng đa dạng các loại hình QS Như:
QS nhận biết đặc điểm đặc trưng của một CV hoặc một nhóm các CV
cùng loài. Đây là loại hình QS truyền thống được sử dụng TX ở tất cả các chủ
đề và các lứa tuổi mầm non.
QS phân biệt, phân loại các CV theo nhiều dấu hiệu khác nhau (cấu tạo,
ích lợi, nơi sống, sinh sản, thức ăn, vận động, )
QS, SS nhiều CV nhằm tìm ra những đặc điểm giống và khác nhau
giữa chúng, đặc điểm đặc trưng của các thể và của loài.
QS phát hiện sự thay đổi và phát triển của CV theo các giai đoạn (QS
quá trình phát triển của ếch, QS tìm hiểu vòng đời của bướm ).
QS quá trình và cách thức khi tổ chức thí nghiệm, TN(QS cách săn
mồi của hổ, báo; QS gà mẹ dẫn đàn gà con đi kiếm mồi? ).
Để tiến hành các loại hình QS trên GV có thể tổ chức HĐQS dưới
nhiều hình thức khác nhau: QS tập thể (cả lớp), QS theo nhóm nhỏ, QS cá
20
nhân. Thời gian QS có thể dài hạn (QS quá trình phát triển của CV) hoặc
ngắn hạn tuỳ thộc vào loại hình và CV QS. Phạm vi QS rộng (QS tổng thể,
đại thể) hoặc hẹp (QS bộ phận, chi tiết) phụ thuộc vào mục đích QS.
1.1.3.2. Quá trình hình thành và phát triển KNSS của trẻ MG
a. Các giai đoạn hình thành và phát triển KNSS ở trẻ MG 5 - 6 tuổi
Điểm qua một số quan điểm của các tác giả nghiên cứu về quá trình
hình thành và phát triển KN nói chung và KN của trẻ mầm non nói riêng
chúng tôi thấy có hai khuynh hướng nghiên cứu:
Khuynh hướng thứ nhất: Nghiên cứu quá trình hình thành KNSS trong
mối quan hệ với tri thức, KN và kĩ xảo đã có. Tiêu biểu cho hướng nghiên cứu
này gồm các tác giả sau:

Các tác giả theo khuynh hướng này đề cao vai trò của việc cung cấp
hành động mẫu hay sự hướng dẫn của người có kiến thức và sự luyện tập
hành động trong các điều kiện khác nhau để hình thành KN.
Như vây, Tổng hợp hai khuynh hướng nghiên cứu trên chúng ta có
được cách nhìn đầy đủ và toàn diện hơn về quá trình hình thành và phát triển
KN của con người nói chung. Trên cơ sở đó chúng tôi mạnh dạn đưa ra các
giai đoạn hình thành và phát triển KNSS của trẻ trong HĐ khám phá khoa học
về môi trường xung quanh như sau:
Giai đoạn 1: Dựa trên vốn hiểu biết và các kĩ xảo đã có trong sinh
hoạt để tìm kiếm cách thức thực hiện hành động SS. Trẻ thực hiện hành
động SS nhưng chưa đầy đủ và thiếu chính xác theo phương thức “thử và
sai”.
Giai đoạn 2: QS hành động mẫu (kèm theo lời giải thích hành động
mẫu) của người lớn và làm theo mẫu để có được sự hiểu biết về cách thức
thực hiện hành động SS theo đúng quy trình.
Giai đoạn 3: Tạo cơ hội cho trẻ được thực hiện các hành động SS
trong HĐ hàng ngày và vận dụng các hành động đó vào việc giải quyết các
tình huống SS trong thực tiễn để hình thành, rèn luyện và phát triển KNSS
ở trẻ.
22
Giai đoạn 4: Trên cơ sở hiểu biết về cách thức SS và thực hiện các
hành động SS trong thực tiễn dần dần người lớn giúp trẻ hiểu được mục đích
và nhiệm vụ của SS.
d. Đặc điểm hình thành và phát triển KNSS ở trẻ MG 5 - 6 tuổi trong HĐQS
khám phá các CV
Đối với trẻ MG 5 - 6 tuổi, nhận thức của trẻ chủ yếu vẫn là nhận thức
cảm tính và tư duy trực quan - hình tượng vẫn chiếm ưu thế.Vì thế, trẻ nhận
biết biểu tượng của các sự vật, hiện tượng trong thế giới xung quanh thông
qua việc tiếp xúc bằng các giác quan (mắt nhìn, tay sờ, tay nghe, mũi ngửi ).
Thông qua con đường nhận thức này trẻ có được biểu tượng về màu sắc, đặc

trẻ nói chung và phát triển KNSS nói riêng. Môi trường vật chất cung cấp đầy
đủ đối tượng cho trẻ tiến hành các HĐ nhận thức trong đó có HĐ QS và SS.
Để tiến hành SS trẻ phải có đối tượng để khảo sát, tìm ra những đặc điểm đặc
trưng và những đặc điểm giống và khác nhau giữa chúng đồng thời chúng
cũng là chứng cứ xác thực để chứng minh KQSS của trẻ. Hiện nay ở trường
mầm non rất coi trọng việc tổ chức môi trường HĐ cho trẻ đặc biệt là môi
trường ở các góc.
Ở góc thiên nhiên, cây cối, CV, đồ dùng thật luôn thu hút sự chú ý của
trẻ. Các CV ở đây khơi dậy hứng thú, nhu cầu nhận thức cũng như SS của trẻ.
Các HĐ ở góc thiên nhiên tạo cơ hội cho trẻ được sử dụng và phối hợp nhiều
hơn các giác quan trong quá trình QS, rèn luyện độ nhanh nhạy và chính xác
của các giác quan làm cho giác quan của trẻ ngày càng hoàn thiện hơn. Trẻ có
thể độc lập tiến hành SS, tự do HĐ theo ý thích cá nhân hoặc có thể HĐ nhóm
tuỳ vào khả năng của trẻ. Đối tượng ở góc thiên nhiên phong phú và đa dạng
nên trẻ có cơ hội phát hiện được những đặc điểm mới lạ mà trước đó trẻ chưa
hề thấy. Ở góc xây dựng, trẻ cần phải QS, SS để lựa chọn các vật liệu cần
24
thiết và phù hợp chủ đề và ý tưởng của trẻ. Trẻ phải SS vật này với vật kia,
SS kết quả xây dựng công trình hôm nay với hôm qua để biết được sự tiến
bộ của mình. Ở góc đóng vai trẻ cũng phải QS và SS để lựa chọn đồ dùng đồ
chơi phù hợp với vai diễn, SS năng lực nhập vai giữa các bạn với nhau để
phân chia vai hợp lí, SS kết quả sau mỗi lần chơi.
Ngoài ra, môi trường ngoài lớp học cũng có ảnh hưởng đến quá trình
hình thành và phát triển KNSS cho trẻ.
GV mầm non là người thiết kế các HĐ, dẫn dắt trẻ vào các tình huống
có vấn đề kích thích hứng thú HĐ cho trẻ, giúp đỡ trẻ khi cần thiết, đáp ứng
nhu cầu HĐ, khơi dậy tiềm năng của mỗi trẻ. GV mầm non còn cung cấp đối
tượng, hướng dẫn cách thức SS, giúp trẻ kiểm nghiệm kết quả SS.
Hiện nay, đổi mới giáo dục yêu cầu về mặt phương tiện, kĩ thuật rất
cao. Đối với mỗi HĐ cần phải sử dụng phương tiện kĩ thuật hỗ trợ như: Máy


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status