BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM TP. HỒ CHÍ MINH
Bùi Thị Xuân Lụa
MỘT SỐ BIỆN PHÁP PHÁT TRIỂN KỸ NĂNG HỢP TÁC
CHO TRẺ MẪU GIÁO 5-6 TUỔI TRONG TRÒ CHƠI
ĐÓNG VAI THEO CHỦ ĐỀ
LUẬN VĂN THẠC SĨ GIÁO DỤC HỌC
Thành phố Hồ Chí Minh - 2013
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM TP. HỒ CHÍ MINH
Bùi Thị Xuân Lụa
MỘT SỐ BIỆN PHÁP PHÁT TRIỂN KỸ NĂNG HỢP TÁC
CHO TRẺ MẪU GIÁO 5-6 TUỔI TRONG TRÒ CHƠI
ĐÓNG VAI THEO CHỦ ĐỀ
Chuyên ngành : GIÁO DỤC HỌC (GDMN)
Mã số
: 60 14 01 01
LUẬN VĂN THẠC SĨ GIÁO DỤC HỌC
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:
PGS. TS. HUỲNH VĂN SƠN
Thành phố Hồ Chí Minh - 2013
Bùi Thị Xuân Lụa
2
MỤC LỤC
LỜI CAM ĐOAN ........................................................................................................ 1
LỜI CẢM ƠN .............................................................................................................. 2
MỤC LỤC .................................................................................................................... 3
MỞ ĐẦU....................................................................................................................... 5
1. Lý do chọn đề tài .............................................................................................................5
2. Mục đích nghiên cứu ......................................................................................................7
3. Khách thể và đối tượng nghiên cứu ..............................................................................7
4. Giả thuyết khoa học ........................................................................................................7
5. Nhiệm vụ nghiên cứu .....................................................................................................7
6. Giới hạn và phạm vi nghiên cứu ...................................................................................8
7. Phương pháp nghiên cứu ...............................................................................................8
8. Những đóng góp mới của đề tài .....................................................................................9
9. Cấu trúc của luận văn ....................................................................................................9
CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÍ LUẬN VỀ PHÁT TRIỂN KỸ NĂNG HỢP TÁC CỦA
TRẺ MG 5-6 TUỔI TRONG TRÒ CHƠI ĐÓNG VAI THEO CHỦ ĐỀ............ 11
1.1. Vài nét lịch sử nghiên cứu vấn đề về kỹ năng hợp tác của trẻ MG 5-6 tuổi trong
TCĐVTCĐ .........................................................................................................................11
1.1.1. Những nghiên cứu về kỹ năng hợp tác ở nước ngoài ...........................................11
1.1.2. Những nghiên cứu về kỹ năng hợp tác ở Việt Nam ..............................................15
1.2. Lí luận về những biện pháp pháp triển kỹ năng hợp tác của trẻ MG 5-6 tuổi
trong TCĐVTCĐ ..............................................................................................................16
1.2.1. Trò chơi đóng vai theo chủ đề của trẻ MG 5-6 tuổi ..............................................16
TRIỂN KỸ NĂNG HỢP TÁC CỦA TRẺ MG 5-6 TUỔI TRONG TRÒ CHƠI
ĐÓNG VAI THEO CHỦ ĐỀ.................................................................................... 69
3.1. Cơ sở để đề xuất các biện pháp phát triển kỹ năng hợp tác của trẻ MG 5-6 tuổi
trong TCĐVTCĐ ..............................................................................................................69
3.2. Đề xuất một số biện pháp phát triển kỹ năng hợp tác của trẻ MG 5-6 tuổi trong
trò chơi đóng vai theo chủ đề ...........................................................................................69
3.2.1. Biện pháp 1: Xây dựng môi trường thân thiện trong lớp giữa GV với trẻ và giữa
các trẻ với nhau. ..............................................................................................................69
3.2.2. Biện pháp 2: Giúp trẻ biết thỏa thuận, thương lượng trong khi chơi trò chơi
ĐVTCĐ. ..........................................................................................................................71
3.2.3. Biện pháp 3: Tạo tình huống chơi mang tính hợp tác và ứng xử theo hướng hợp
tác. ...................................................................................................................................73
3.3. Thực nghiệm một số biện pháp phát triển kỹ năng hợp tác của trẻ MG 5-6 tuổi
trong trò chơi đóng vai theo chủ đề. ...............................................................................75
3.3.1. Khái quát về tổ chức thực nghiệm.........................................................................75
3.3.2. Kết quả nghiên cứu thực nghiệm ..........................................................................77
KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ................................................................................... 95
TÀI LIỆU THAM KHẢO ........................................................................................ 99
PHỤ LỤC ................................................................................................................. 105
4
MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
Trong xã hội loài người, hợp tác với người khác được xem là một nhu cầu tất
yếu của cuộc sống. Từ thuở sơ khai, sự tồn tại và phát triển của loài đã thúc đẩy con
người liên kết, hợp tác với nhau: từ săn bắt, hái lượm cho đến chống lại thú dữ…
Cuộc sống ngày càng hiện đại, con người càng cần đến sự hợp tác và chỉ có sự hợp
tác mới mang lại một kết quả tốt đẹp, từ những điều thuộc về công việc của mỗi cá
thuận, thông cảm và giúp đỡ những trẻ khác trong nhóm… Chính nhờ sự hợp tác của
trẻ thông qua các hoạt động ở trường mầm non mà đặc biệt là thông qua chơi đã giúp
trẻ có cơ hội được gần gũi bạn bè, chia sẻ kinh nghiệm, cùng nhau thỏa thuận, đàm
phán, thiết lập mối quan hệ với bạn cùng chơi một cách chân thực và rõ nét nhất. Như
vậy có thể khẳng định rằng: phát triển kỹ năng hợp tác cho con người là cần thiết và
phải bắt đầu ngay từ lứa tuổi MG, đây chính là thời điểm giáo dục thuận lợi và có
hiệu quả.
Việc giáo dục kỹ năng hợp tác cho trẻ MG 5-6 tuổi có thể được thực hiện thông
qua nhiều con đường khác nhau. Một trong những con đường thuận lợi để hình thành
và phát triển là thông qua trò chơi đóng vai theo chủ đề (ĐVTCĐ). Bởi trò chơi
ĐVTCĐ mang tất cả những nét cơ bản của trò chơi theo nghĩa rộng, nó chứa đầy tính
xúc cảm và lòng say mê của trẻ, tính tự lực và tự tổ chức, tính tích cực và sáng tạo, tính
hợp tác… Trò chơi đó đúng theo nghĩa mà X.L. Rubinstein nhận xét “Trò chơi là biểu
hiện biên độ của đứa trẻ và bên cạnh đó chính trò chơi được xây dựng trên mối quan hệ
qua lại của đứa trẻ và người lớn” [49].
Xuất phát từ những lí do trên đây, chúng tôi lựa chọn đề tài: “Biện pháp phát
triển kỹ năng hợp tác của trẻ MG 5-6 tuổi trong trò chơi đóng vai theo chủ đề” làm
đề tài nghiên cứu.
6
2. Mục đích nghiên cứu
Nghiên cứu nhằm tìm ra một số biện pháp phát triển kỹ năng hợp tác của trẻ MG
5 - 6 tuổi trong trò chơi đóng vai theo chủ đề.
3. Khách thể và đối tượng nghiên cứu
3.1. Khách thể nghiên cứu:
Quá trình tổ chức TCĐVTCĐ của trẻ MG 5-6 ở trường mầm non.
3.2. Đối tượng nghiên cứu
Biện pháp phát triển kỹ năng hợp tác của trẻ MG 5-6 tuổi trong trò chơi đóng
Tham khảo các công trình nghiên cứu, sách báo, tạp chí chuyên ngành về các
vấn đề có liên quan, từ đó hệ thống và khái quát hóa các khái niệm công cụ làm cơ sở
lý luận cho đề tài.
7.2. Phương pháp nghiên cứu thực tiễn
7.2.1. Phương pháp quan sát:
Tiến hành dự giờ, quan sát và ghi chép quá trình tổ chức các TCĐVTCĐ nhằm
phát triển kỹ năng hợp tác của trẻ MG 5- 6 tuổi của giáo viên mầm non.
7.2.2. Phương pháp điều tra bằng bảng hỏi:
Sử dụng phiếu điều tra đội ngũ giáo viên trực tiếp dạy trẻ MG 5-6 tuổi ở một số
trường mầm non thuộc quận 12, quận 3 trên địa bàn TPHCM về thực trạng kỹ năng
hợp tác của trẻ MG 5-6 tuổi trong TCĐVTCĐ và các biện pháp phát triển kỹ năng
hợp tác của trẻ MG 5-6 tuổi trong TCĐVTCĐ.
7.2.3. Phương pháp phỏng vấn:
8
Phỏng vấn một số trẻ MG 5-6 tuổi, giáo viên mầm non và BGH để thu thập
thông tin về một số biểu hiện của kỹ năng hợp tác của trẻ MG 5-6 tuổi trong
TCĐVTCĐ.
7.2.4. Phương pháp thực nghiệm:
Thực nghiệm một số biện pháp phát triển kỹ năng hợp tác của trẻ MG 5-6 tuổi
trong TCĐVTCĐ theo mô hình thực nghiệm được xác lập.
7.3. Phương pháp thống kê toán học:
Xử lí số liệu thu được bằng phần mềm SPSS.
8. Những đóng góp mới của đề tài
- Hệ thống hoá cơ sở lí luận của việc phát triển kỹ năng hợp tác của trẻ MG 5-6
tuổi trong TCĐVTCĐ.
- Làm rõ thực trạng kỹ năng hợp tác của trẻ MG 5-6 tuổi trong TCĐVTCĐ.
- Đề xuất một số biện pháp phát triển kỹ năng hợp tác của trẻ MG 5-6 tuổi trong
TCĐVTCĐ nhằm áp dụng trong thực tiễn.
Dạy học hợp tác được áp dụng ở các nước Phương Tây từ cuối thế kỷ XVIII đầu
thế kỷ XIX. Năm 1789, Linh mục A. Bel và các thầy giáo đã đưa ra hình thức dạy
học tương trợ. Với hình thức dạy học này, người học được chia ra thành từng nhóm
hoạt động, giáo viên tạo điều kiện cho người học được cùng nhau trò chuyện, đàm
thoại, hợp tác chia sẻ, giúp đỡ nhau tìm hiểu, khám phá đối tượng nhận thức nhằm
hình thành và phát triển kỹ năng hợp tác cho người học đồng thời nâng cao hiệu quả
dạy học.
Tiếp đó, học hợp tác được phát triển mạnh mẽ bởi đại tá Francis Parker trong ba
thập niên cuối của thế kỷ XIX, khi ông này giữ chức quản lý hệ thống trường công ở
Quycy, bang Masa Chusetts. Thời kỳ đó, với tư tưởng và các thủ tục học hợp tác mà
ông khuyến khích sử dụng trong hệ thống các trường đã nhận được nhiều sự ủng hộ và
đánh giá rất cao, được ví như “Mặt đất trơ trụi sau mùa đông bắt gặp những cơn mưa
mùa xuân và nắng ấm” [50, 2].
11
Kế tục Parker, vào cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX, John Dewey - một nhà giáo
dục Mỹ cùng các cộng sự đã đề ra và thực thi tư tưởng dân chủ, đề cao khía cạnh xã
hội của việc học và vai trò của nhà giáo dục trong việc giáo dục học sinh một cuộc
sống dân chủ. Ông cho rằng: nếu con người muốn học cách để sống, hợp tác họ phải
trải nghiệm quá trình sống hợp tác trong nhà trường. Cuộc sống trong lớp học cần thể
hiện quá trình dân chủ hóa trong một thế giới vi mô và trung tâm của cuộc sống dân
chủ ở đây chính là sự hợp tác giữa các thành viên trong nhóm. Cuộc sống trong lớp
không phải là một bước chuẩn bị cho cuộc sống trong xã hội mà nó chính là bản thân
cuộc sống của học sinh, do vậy ngay tại đây, các em cần được dạy và trải nghiệm sự
biết cảm thông với người khác, tôn trọng quyền của người khác và biết làm việc cùng
nhau để giải quyết vấn đề theo lẽ phải. Xuất phát từ ý tưởng đó ông đã xây dựng “nhà
trường tích cực ”, trong đó ông đã phát triển học hợp tác của học sinh tạo nên một
môi trường làm việc chung để học sinh có cơ hội trao đổi kinh nghiệm thực hành,
phát triển lý luận và phát triển khả năng trừu tượng hóa [8].
đua và cá nhân [18]. Họ cho rằng: sự hợp tác của trẻ chỉ được hình thành bằng cách
tổ chức nhóm. Sự hợp tác phụ thuộc vào sự tích cực tham gia của các thành viên
trong nhóm. Mỗi người chỉ có thể thành công khi mọi người trong nhóm cùng thành
công.
1.1.1.2. Nghiên cứu về hoạt động chơi nhằm phát triển kỹ năng hợp tác của trẻ
mẫu giáo
Khởi đầu cho việc xây dựng học thuyết về trò chơi gắn liền với các tên tuổi nổi
tiếng thế kỉ XIX như: S. Chiller, G. Spencer, G. V. Plekhanop… Khi xây dựng các
quan điểm của mình về Triết học, Hình học và nhất là quan điểm về nghệ thuật, họ
đồng thời đề cập tới trò chơi như một hiện tượng rất phổ biến trong cuộc sống, liên
kết sự xuất hiện của trò chơi với sự xuất hiện của nghệ thuật.
13
Theo V. Vient nhà Triết học người Anh đã chỉ ra “Trò chơi - chính là lao động
của trẻ nhỏ. Không một trò chơi nào mà lại không có trong mình một nguyên mẫu từ
một dạng lao động… khi chơi những mục đích lao động bị loại bỏ” [48].
Theo học thuyết cổ điển về trò chơi của K. Groos (1861-1946) thì trò chơi là
một hình thức hoạt động sống mà trong đó các cơ thể non nớt được hoàn thiện. Trong
quá trình vui chơi, những đứa trẻ lĩnh hội được những kinh nghiệm lịch sử của loài
người. Quan điểm của V. Vient, K. Groos, S. Chiller… mặc dù được phát triển theo
các trường phái khác nhau nhưng đều có ảnh hưởng lớn trong việc xây dựng lý luận
về trò chơi cũng như việc đưa trò chơi vào lĩnh vực giáo dục trẻ [45].
Vào những năm 30 của thế kỷ XX, trường phái Tâm lý học Xô Viết, đi đầu là
các nhà Tâm lý học như: L.X. Vưgotxky, D.B. Enconhin, A.N. Leonchep… các nhà
Tâm lý học này đã đưa ra một cách nhìn mới về bản chất xã hội về trò chơi trẻ em và
bắt đầu đề cập đến tính hợp tác trong trò chơi ĐVTCĐ.
L.X. Vưgotxky cho rằng: mâu thuẫn và sự giải quyết mâu thuẫn là những đặc điểm
giao [36].
Trong quyển “Trò chơi phân vai theo chủ đề và việc hình thành nhân cách cho
trẻ mẫu giáo” của Lê Minh Thuận đã đề cập đến tính hợp tác với bạn bè của trẻ mẫu
giáo qua các TCĐVTCĐ, tác giả đã xây dựng cách hướng dẫn trò chơi phân vai theo
chủ đề cho trẻ mẫu giáo theo các giai đoạn, lứa tuổi với mục đích phát triển nhân
cách trẻ [37].
Tác giả Phạm Thị Thu Hương với đề tài “Một số biện pháp hình thành tính hợp
tác qua TCĐVTCĐ cho trẻ mẫu giáo 3-4 tuổi” đã đưa ra một số biện pháp nhằm hình
thành tính hợp tác cho trẻ mẫu giáo 3-4 tuổi trong TCĐVTCĐ như: tạo tình huống
trong quá trình chơi của trẻ, mở rộng mối quan hệ qua lại giữa các vai chơi [17].
Tác giả Hồ Thị Ngọc Trân cho rằng: sự hợp tác của trẻ mẫu giáo 3-4 tuổi bắt
đầu được hình thành thông qua hoạt động vui chơi. Tác giả khẳng định: nhờ sự hợp
15
tác trong hoạt động vui chơi mà dần dần trẻ học được cách thiết lập mối quan hệ đúng
đắn trong xã hội [35, 17].
Tác giả Vũ Thị Nhâm chỉ ra một số biện pháp phát triển kỹ năng hợp tác cho trẻ
MG 5-6 tuổi qua TCĐVTCĐ: khuyến khích trẻ chia sẻ kinh nghiệm, ý tưởng chơi
cùng nhau, tạo không gian chơi và bố trí nguyên vật liệu thiên nhiên, nguyên vật liệu
phế thải trong các góc chơi để kích thích trẻ tích cực hợp tác với nhau [25].
Trong “Bộ chuẩn phát triển trẻ 5 tuổi” thì tích cực hợp tác là một trong những
nội dung quan trọng thuộc lĩnh vực tình cảm - quan hệ xã hội cần rèn cho trẻ mẫu
giáo 5-6 tuổi để chuẩn bị vào lớp một. “Bộ chuẩn phát triển trẻ 5 tuổi” cũng đưa ra
các chỉ số thể hiện sự hợp tác với bạn bè và mọi người xung quanh như: lắng nghe ý
kiến của mình với người khác, trao đổi ý kiến với người khác, thể hiện sự thân thiện,
đoàn kết với bạn bè, chấp nhận sự phân công của nhóm bạn và người lớn, sẵn sàng
thực hiện nhiệm vụ đơn giản cùng người khác [2].
Kết quả nghiên cứu của các nhà khoa học và các tác giả nêu trên đã đề cập đến
sự cần thiết của việc giáo dục kỹ năng hợp tác nhằm góp phần phát triển và hoàn
trẻ mô phỏng một mảng nào đó của cuộc sống người lớn trong xã hội bằng việc nhập
vào (hay còn gọi là đóng vai) một nhân vật nào đó để thực hiện chức năng xã hội của
họ bằng những hành động mang tính tượng trưng” [32, 13].
Vậy có thể hiểu: “TCĐVTCĐ là dạng trò chơi sáng tạo, đặc trưng của lứa tuổi
mẫu giáo, phản ánh một mảng hiện thực của cuộc sống xã hội, lao động, mối quan hệ
giữa con người với con người, thông qua việc đóng vai người lớn mà trẻ thực hiện
hành động theo chức năng xã hội mà họ đảm nhận”.
b. Bản chất của TCĐVTCĐ
Trò chơi ĐVTCĐ mang bản chất xã hội. Tính xã hội của trò chơi ĐVCCĐ được
thể hiện ở nguồn gốc xuất hiện, lịch sử phát triển, nội dung trò chơi và đồ chơi của
trẻ. Mặt khác, tính xã hội của loại trò chơi này còn thể hiện trong diễn biến quá trình
hình thành và phát triển hoạt động chơi của đứa trẻ.
17
Về nguồn gốc xuất hiện trò chơi, ngay từ những năm đầu của thế kỷ XX. G.V
Plêkhanov đã cho rằng, sự xuất hiện của trò chơi trẻ em (trong đó có TCĐVTCĐ) gắn
liền với nhu cầu của xã hội loài người. Trong “Tâm lý học trò chơi” Đ.B. Encônhin
cũng đã làm rõ quan điểm này của G.V. Plêkhanov [21, 60].
Khi phân tích nguồn gốc, lịch sử phát triển của trò chơi trẻ em, một lần nữa tác
giả Đ.B. Encônhin khẳng định: “Sự xuất hiện của trò chơi không phải bắt nguồn từ
tác động của các động lực bên trong mang tính chất bản năng, bẩm sinh mà bắt nguồn
từ điều kiện xã hội trong cuộc sống của trẻ” [21, 62].
Bản chất của TCĐVCCĐ thể hiện trong nội dung của trò chơi, nó phản ánh, mô
phỏng lại một cách sinh động đa dạng, sáng tạo các mối quan hệ xã hội với những
chuẩn mực đạo đức, phong tục, tập quán... mà xã hội quy định, phản ánh cách thức
lao động, hoạt động của người lớn. Mặt khác, ở mỗi dân tộc, đất nước, ở mỗi thời đại
khác nhau, nội dung trò chơi cũng khác nhau. Biểu hiện bản chất xã hội của trò chơi
còn tìm thấy trong nguồn gốc xuất hiện thể loại, nội dung, chức năng, cấu trúc, chất
liệu và hình thái bên ngoài của đồ chơi. Đồ chơi trẻ em, bạn đồng hành của trẻ, cũng
cách mỗi người.
Từ những phân tích trên cho thấy, bản chất của TCĐVTCĐ là sự “mô hình hóa”
những mối quan hệ xã hội trong cuộc sống của người lớn và chịu sự chi phối của
chúng. Mối quan hệ xã hội của người lớn được trẻ quan tâm trở thành đối tượng hành
động trong trò chơi, nhằm thỏa mãn nhu cầu được giống như người lớn của trẻ. Việc
khẳng định bản chất xã hội của TCĐVTCĐ có ý nghĩa quan trọng trong khi xác định
vai trò của người lớn, đặc biệt là giáo viên mầm non trong việc tổ chức cho trẻ chơi
nói chung cũng như tổ chức cho trẻ chơi TCĐVTCĐ. Từ đó làm cơ sở để xác định hệ
thống kỹ năng tổ chức cho trẻ chơi loại trò chơi này.
Để hiểu rõ thêm bản chất của TCĐVTCĐ, cần nắm rõ những đặc điểm chủ yếu và
vai trò của nó đối với sự phát triển của trẻ mẫu giáo.
19
1.2.1.2. Đặc điểm của TCĐVTCĐ ở tuổi Mẫu giáo
a. TCĐVTCĐ là một dạng hoạt động không mang tính bắt buộc mà mang tính tự
do, tự nguyện rất cao:
Vui chơi không phải là hoạt động tạo ra sản phẩm và hành động chơi không
buộc phải tuân theo một phương thức chặt chẽ nhất định.
Nguyên cớ thúc đẩy trẻ tham gia vào trò chơi chính là sức hấp dẫn từ bản thân
trò chơi chứ không hề bị ràng buộc bởi những cái khác, kể cả kết quả của sự vui chơi
đó. Chẳng hạn, trong trò chơi “khám bệnh”, yếu tố hấp dẫn trẻ chính là việc người
“bác sĩ” đeo ống nghe vào tai và hành động đặt ống nghe lên người bệnh, kê đơn
thuốc, dặn dò cách điều trị… chứ không phải là việc có khám đúng bệnh và chữa
khỏi bệnh hay không. Có nghĩa là động cơ của hoạt động vui chơi nằm ngay trong
quá trình hoạt động chứ không phải nằm ở kết quả của hoạt động [10]. Chính vì vậy,
trẻ chơi mang tính tự nguyện rất cao, trẻ thích chơi trò chơi nào thì chơi một cách say
mê trò chơi đó. Có vui thì mới chơi mà đã chơi thì phải vui. Mọi sự bắt buộc hay
Mặc dù, TCĐVTCĐ phản ánh những hiện tượng có thực trong cuộc sống xung
quanh trẻ, nhưng hành động của trẻ chỉ có tính chất mô phỏng lại một cách khái quát,
tượng trưng (hành động giả vờ). Mặt khác, trong khi chơi, trẻ sử dụng những đồ vật,
đồ chơi thay thế. Những vật thay thế này mang tính ký hiệu tượng trưng và được trẻ
sử dụng không theo đúng chức năng của chúng. Ví dụ: ghế làm ôtô; que làm xi-lanh;
khăn làm giường... Hoặc trẻ dùng hành động của mình để thực hiện chức năng của
một vật. Ví dụ: lấy que tre hoặc cây bút để vào cánh tay của bạn - hành động tiêm cho
bệnh nhân; đưa tay lên tai - hành động nghe điện thoại... Chính đặc điểm này của
TCĐVTCĐ làm nảy sinh hoàn cảnh tưởng tượng và thúc đẩy sự tưởng tưởng ở trẻ.
Đây là những đặc điểm đặc trưng của TCĐVTCĐ. Khi chơi, trẻ đắm mình trong
hoàn cảnh chơi, kết thúc trò chơi cũng là lúc trẻ ra khỏi hoàn cảnh chơi. Đặc điểm
này của TCĐVTCĐ có ý nghĩa đặc biệt quan trọng trong sự phát triển nhận thức của
21
trẻ. Nhờ đó mà trẻ bước sang một loại hình nhận thức mới, đặc trưng của con người.
Đó là sự nhận thức thế giới xung quanh thông qua một hệ thống ký hiệu [30, 18].
1.2.1.3. Cấu trúc của TCĐVTCĐ
Khi nghiên cứu TCĐVTCĐ, các nhà Tâm lý học, Giáo dục học đều thống nhất
cấu trúc của TCĐVTCĐ bao gồm các thành tố sau: chủ đề chơi; nội dung chơi; vai
chơi; hành động chơi; đồ chơi; tình huống tưởng tượng (hoàn cảnh chơi hay hoàn
cảnh tưởng tượng); mối quan hệ của trẻ trong khi chơi.
Các thành tố này có liên hệ mật thiết với nhau và bổ sung cho nhau trong đó vai
chơi và hoàn cảnh tưởng tượng là hai thành tố đặc biệt quan trọng.
a. Chủ đề và nội dung của trò chơi
* Chủ đề chơi:
“Chủ đề chơi là mảng hiện thực được phản ánh vào các trò chơi trẻ em” [37].
Theo V.X. Mukhina thì phạm vi hiện thực mà trẻ được tiếp xúc càng rộng bao nhiêu
thì các chủ đề của trò chơi càng nhiều hình nhiều vẻ bấy nhiêu. Trong khi chơi, mọi
như trong “bệnh viện” thì ai là y tá, ai là bác sĩ, ai là bệnh nhân, quan hệ của họ với
nhau ra sao. Tuy nhiên, mối quan hệ này mới chỉ dừng lại ở hình thức bên ngoài
thông qua những hành vi quan hệ như: bác sĩ khám cho bệnh nhân, y tá chích thuốc
cho bệnh nhân…
Ở trẻ mẫu giáo lớn (5- 6 tuổi) trẻ quan tâm đến những mối quan hệ bên trong
như: mặt tình cảm, đạo đức của mối quan hệ đó. Bác sĩ ân cần chăm sóc, động viên,
an ủi bệnh nhân, trò chuyện với bệnh nhân… Hoặc có thể là thái độ không lịch sự
như: quát nạt, la mắng bệnh nhân…
Do đó đối với nội dung chơi, cần phải quan tâm xem xét khía cạnh tích cực hay
tiêu cực của mảng hiện thực mà trẻ em tái tạo để từ đó có những cách thức tổ chức,
biện pháp tác động cho phù hợp với trẻ.
23