nghiªn cøu - trao ®æi
§Æc san vÒ b×nh ®¼ng giíi 17
ThS. Chu M¹nh hïng *
hụ nữ là một nửa thế giới. Ở Việt Nam
phụ nữ chiếm 50,5% dân số và 50,6%
lực lượng lao động xã hội.
(1)
Sự bất bình đẳng và những khoảng cách
về giới đã khiến phụ nữ bị tụt hậu so với
nam giới và chính môi trường xung quanh
mình. Những ảnh hưởng này không chỉ tác
động trực tiếp đến phụ nữ và trẻ em gái mà
còn là những tác động làm tổn hại đến tất cả
mọi người, đến sự phát triển chung của xã
hội.
Ở các nước đang phát triển, hiện tượng
lao động trẻ em giúp việc cho các gia đình
không phải là điều mới mẻ. Ở Việt Nam
cùng với quá trình chuyển đổi của nền kinh
tế thì lao động trẻ em nói chung và trẻ em
giúp việc cho các gia đình nói riêng đang đặt
ra những vấn đề cần phải nghiên cứu. Trong
phạm vi bài viết này, tác giả đề cập một số
khía cạnh liên quan đến trẻ em gái giúp việc
nên những thay đổi sâu sắc trong đời sống
của người dân. Nhu cầu về tiêu dùng và dịch
vụ cũng ngày càng gia tăng trong đó có nhu
cầu về lao động giúp việc cho các gia đình.
Một số hộ gia đình cần có người giúp đỡ
các công việc nội trợ, chăm sóc con cái, dọn
dẹp nhà cửa để họ có thể yên tâm làm việc
khác. Một số người cần thuê mướn nhân
công để giúp làm kinh tế hộ như bán hàng
hay gia công, sản xuất. Với sự tăng trưởng
kinh tế, cơ cấu nghề nghiệp cũng thay đổi và
mở rộng, nhiều ngành nghề sản xuất và dịch
vụ đã xuất hiện nhằm đáp ứng nhu cầu gia
tăng của người dân, nhất là các loại dịch vụ
cho cuộc sống sinh hoạt hàng ngày. Nghề
P
* Giảng viên Khoa luật quốc tế
Trường Đại học Luật Hà Nội nghiªn cøu - trao ®æi
18 §Æc san vÒ b×nh ®¼ng giíi
"nội trợ" hay "giúp việc trong gia đình" cũng
xuất hiện trở lại và được xã hội chấp nhận
như nhiều nghề dịch vụ khác. Nó đã tạo thu
nhập cho nhiều người có sức lao động và có
nhu cầu việc làm đồng thời giảm gánh nặng
lao động cho không ít gia đình ở thành thị.
động cơ lao động kiếm tiền nhằm tăng thu
nhập cho gia đình của các em. Hiểu rõ cuộc
sống nghèo khó và nỗi vất vả của cha mẹ và
những người thân trong gia đình, các em gái
này sớm hình thành đức tính hy sinh, ý thức
trách nhiệm trước những khó khăn của gia
đình, mong muốn góp phần giảm bớt gánh
nặng gia đình, cải thiện điều kiện sống.
Mong muốn này hết sức chính đáng, đúng
với vai trò "phụ nữ" của các em. Như vậy,
lao động giúp việc cho các gia đình ở thành
phố lớn là giải pháp đem lại lợi ích kinh tế
cho gia đình và bản thân trẻ em gái. Gia đình
không những tiết kiệm được một khoản chi
phí cho việc nuôi dưỡng các em mà các em
còn kiếm được tiền gửi về cho cha mẹ hoặc
làm vốn cho bản thân.
Bên cạnh khó khăn kinh tế thì tình trạng
thiếu việc làm ở nông thôn là một thực tế
khiến trẻ em gái ra thành phố giúp việc cho
các gia đình. Người lớn thiếu việc làm là tình
trạng chung. Song, điều đáng quan tâm hơn
là tình trạng thiếu việc làm xảy ra với cả trẻ
em. Một thực tế là người lao động và trẻ em
gái bước chân vào thị trường lao động đều
muốn tìm cho mình một cơ hội việc làm
mang lại thu nhập cao hơn, nhàn hạ hơn vì ở
nông thôn hiệu quả công việc không cao mà
lại vất vả. Có thể nói, lợi thế so sánh của
việc giúp việc gia đình so với các nghề khác
đỡ gây lo lắng và tốn kém cho gia chủ. Trẻ
em gái thường nhanh nhẹn hơn người lớn,
người già và dễ sai bảo hơn. Trên thực tế trẻ
em thường tỏ ra sẵn sàng chấp nhận sự sai
vặt, dễ bảo ban, hướng dẫn những việc mới,
cách làm mới.
Truyền thống văn hoá trọng tuổi cũng
ảnh hưởng tới việc các gia đình lựa chọn
người giúp việc nhiều tuổi hay ít tuổi. Người
lớn tuổi đi làm việc không muốn bị những
người ít tuổi sai bảo, vì vậy tạo nên tâm lý
ngại thuê người lớn giúp việc.
Sự khác biệt về văn hoá giữa các thế hệ,
giữa những người ở các địa vị xã hội khác
nhau cũng ảnh hưởng tới việc lựa chọn
người giúp việc. Người già, người lớn tuổi ở
nông thôn hay có thói quen hoặc cách nói bỗ
bã trong giao tiếp với người ít tuổi hơn. Tập
quán này được coi là bình thường ở nông
thôn nhưng không dễ được chấp nhận ở các
gia đình thành phố. Người già, người lớn
tuổi khó bỏ thói quen cố hữu còn trẻ em giúp
việc thì dễ thích nghi với nếp sống văn hoá
trong các gia đình thành phố, dễ uốn nắn
hơn. Đây là lý do để họ muốn tìm người giúp
việc là trẻ em gái và thường là trẻ em gái
dưới 18 tuổi vì phụ nữ 18 - 20 tuổi khi ở và
sinh hoạt cùng gia đình gia chủ sẽ gặp những
khó khăn đặc thù và những lý do tế nhị về
giới. Bản thân trẻ em gái giúp việc cũng ý
20 §Æc san vÒ b×nh ®¼ng giíi
Mặc dù công việc gia đình chủ yếu vẫn do
phụ nữ thực hiện nhưng mang màu sắc mới:
Nó không còn là việc riêng, khép kín trong
nội bộ gia đình mà trở thành mối quan tâm
và chú ý của xã hội.
Thứ nhất, về phương diện pháp lý quốc
tế, trẻ em gái là đối tượng bảo vệ của hai
công ước quốc tế: Công ước về xoá bỏ các
hình thức phân biệt đối xử với phụ nữ
(CEDAW) và Công ước về quyền trẻ em.
Việt Nam là một trong những quốc gia sớm
phê chuẩn hai công ước này và đang từng
bước bảo đảm cho những quy định của hai
công ước trên thực tiễn. Những thành tựu đạt
được trong cuộc đấu tranh trong sự bình
đẳng về giới và chống các hình thức phân
biệt đối xử với phụ nữ đã phản ánh quan
điểm về phụ nữ của Đảng và Nhà nước Việt
Nam. Tuy nhiên, việc những trẻ em gái sớm
phải bỏ học và tham gia lao động cũng đặt ra
nhiều vấn đề cần nghiên cứu nhằm đảm bảo
quyền phụ nữ trên thực tế.
Thứ hai, cần tiếp tục nâng cao nhận thức
cho toàn Đảng, toàn dân về tầm quan trọng
của việc thực hiện chiến lược con người nói
chung và việc thực hiện "quyền phụ nữ" nói
riêng đã được quy định trong Công ước về
chống các hình thức phân biệt đối xử với
đăng ký tạm trú cho trẻ em gái đến giúp
việc. Mặt khác, cần có hợp đồng lao động
theo mẫu chung có sự chứng nhận của
chính quyền địa phương, trong hợp đồng
cần ghi rõ quyền lợi và nghĩa vụ của mỗi
bên đặc biệt là quyền lợi của trẻ em gái nghiªn cøu - trao ®æi
§Æc san vÒ b×nh ®¼ng giíi 21
Xem tiếp trang 40
(1).Xem: “Vấn đề phụ nữ và trẻ em thời kỳ 2001 - 2010”,
Bộ lao động - thương binh và xã hội - Quỹ nhi đồng LHQ,
Nxb. Lao động - xã hội, Hà Nội 2002, tr. 138.
(2).Xem: Điều 1 Công ước của Liên hợp quốc về
quyền trẻ em năm 1989.
(3).Xem: Điều 25, Luật bảo vệ, chăm sóc và giáo dục
trẻ em năm 2004.