nghiên cứu - trao đổi
14 tạp chí luật học số 10/2006
Ths. Trần Thị hiền *
nh vi cụng v ca cụng chc nhm
thit lp, duy trỡ v bo v trt t xó
hi. Khi thc thi cụng v, cụng chc vi
danh ngha i din cho Nh nc thi
hnh quyn lc cụng. Trong quỏ trỡnh cụng
chc thc thi cụng v, cú th cú vic lm
xõm hi n quyn v li ớch hp phỏp ca
cỏc ch th khỏc. Vn quan trng l Nh
nc phi t ra phng thc nhm khc
phc, sa cha. Quy nh v trỏch nhim vt
cht ca cụng chc t ra ngha v i vi
cụng chc phi bi thng thit hi nu thi
hnh cụng v gõy thit hi cho cỏc ch s
hu hp phỏp l mt cỏch thc hu hiu cho
vic t hon thin Nh nc. Bi vit ny
bn v khỏi nim trỏch nhim vt cht ca
cụng chc nhm phõn bit trỏch nhim vt
cht ca cụng chc vi trỏch nhim bi
thng thit hi trong giao dch dõn s.
Vi cỏch thc iu chnh ca phỏp lut trong
xó hi hin i, thut ng trỏch nhim phỏp lớ
cú th c nhỡn nhn di hai gúc sau:
ca cụng chc l loi trỏch nhim phỏp lớ
theo cỏch nhỡn nhn gúc th hai. Theo
ú, trỏch nhim vt cht ca cụng chc l
hu qu phỏp lớ bt li v ti sn m cụng
chc phi gỏnh chu trc Nh nc, nu
trong khi thi hnh cụng v gõy thit hi v
ti sn ca Nh nc hoc ca ngi khỏc.
Trỏch nhim vt cht ca cụng chc l
mt dng trỏch nhim phỏp lớ c th, do phỏp
lut quy nh v phỏt sinh trờn c s phỏp
H
* Gi
ng vi
ờn Khoa hnh chớnh
-
nh n
c
Trng i hc Lut H Ni nghiên cứu - trao đổi
tạp chí luật học số 10/2006 15
lut. Phỏp lut quy nh v trỏch nhim vt
cht ca cụng chc th hin xu hng tt
yu ca mt nh nc dõn ch, cụng bng v
vn minh - nh nc phỏp quyn. Nh nc
qun lớ xó hi bng phỏp lut, iu ú cú
ch s hu hp phỏp no khỏc c phỏp
lut bo v. Cú thit hi xy ra l mt trong
nhng yu t quan trng xỏc nh cú trỏch
nhim vt cht ca cụng chc hay khụng.
Song cng cn thy rng ch khi no gia
vic thi hnh cụng v v thit hi xy ra cú
mi liờn h nht nh vi nhau mi xỏc nh
trỏch nhim bi thng thit hi ú l dng
trỏch nhim vt cht ca cụng chc. Nu
cụng chc gõy thit hi v ti sn m thit
hi ú khụng liờn quan n vic thi hnh
cụng v thỡ trỏch nhim bi thng thit hi
trong trng hp ny l dng trỏch nhim
bi thng thit hi dõn s. Do v trớ phỏp lớ
ca mỡnh, cụng chc thng xuyờn cú c hi
tip xỳc, s dng ti sn nh nc vo mc
ớch chung vỡ li ớch cng ng, trong nhng
trng hp nht nh, cụng chc cũn c
s dng quyn lc nh nc thc thi cụng
v. Quyn hn Nh nc trao cho cụng chc
hon ton khụng phi l c quyn, c li
m l phng tin cn thit cụng chc
hon thnh cụng v, nhim v c giao,
quyn hn ú luụn tng ng vi ngha v
phỏp lớ bt buc. Trong chng mc nht
nh, Nh nc t ra yờu cu i vi cụng
chc cao hn so vi nhng cụng dõn khỏc v
phng din ý thc trỏch nhim i vi xó
hi v cng ng. H cn phi l nhng
ngi lm vic cú nguyờn tc, cú k lut, cú
công chức và Nhà nước và như vậy trách
nhiệm vật chất của công chức luôn luôn là
trách nhiệm trước Nhà nước.
- Nguyên tắc giải quyết bồi thường thiệt
hại trong trách nhiệm vật chất của công chức
không thể là nguyên tắc thỏa thuận, tự định
đoạt mức bồi thường giữa Nhà nước và công
chức gây thiệt hại như nguyên tắc bồi
thường thiệt hại trong giao dịch dân sự mà
phải là nguyên tắc quyết định hành chính
dựa trên cơ sở thiệt hại thực tế kết hợp xem
xét các yếu tố hoàn cảnh, nhân thân công
chức. Sở dĩ phải áp dụng nguyên tắc đó vì tài
sản phải bồi thường, bồi hoàn trong trách
nhiệm vật chất của công chức là tài sản nhà
nước. Công chức với tư cách là người hoạt
động phục vụ công quyền, Nhà nước là thiết
chế chính trị đại diện cho dân chúng, tài sản
nhà nước là tài sản của toàn dân. Nếu áp
dụng nguyên tắc thỏa thuận, tự định đoạt
mức bồi thường thiệt hại trong trách nhiệm
vật chất của công chức sẽ không đảm bảo
tính khách quan, không đảm bảo nguyên tắc
không đặc quyền đặc lợi của công chức. Mặt
khác nếu áp dụng nguyên tắc thỏa thuận, tự
định đoạt mức bồi thường thiệt hại trong
trách nhiệm vật chất của công chức còn có
thể tạo điều kiện cho việc lạm dụng quyền
lực nhà nước để trục lợi cá nhân.
- Do hành vi gây thiệt hại được thực hiện
nghiªn cøu - trao ®æi
t¹p chÝ luËt häc sè 10/2006 17
công chức trong hoạt động công vụ rất đa
dạng về hình thức biểu hiện. Đó có thể là các
hành vi vi phạm nghĩa vụ công chức, vi
phạm các điều pháp luật cấm, vi phạm do
kéo dài việc giải quyết các vấn đề đã chín
muồi hoặc có đủ khả năng, cơ sở pháp lí để
giải quyết nhưng không chịu giải quyết hay
đưa ra những quyết định không hợp lí dẫn
đến hậu quả gây thiệt hại về tài sản cho Nhà
nước, cho các cơ quan, tổ chức, cá nhân
Vấn đề đặt ra thế nào là “trong khi thi hành
công vụ” cần được xác định rõ ràng thì mới
có cơ sở để xác định việc bồi thường thiệt hại
là trách nhiệm vật chất của công chức hay là
trách nhiệm bồi thường thiệt hại dân sự hoặc
trách nhiệm bồi thường vật chất theo quy
định của luật lao động đối với những người
lao động theo hình thức hợp đồng lao động.
- Trách nhiệm vật chất của công chức
thường được áp dụng kèm theo dạng trách
nhiệm pháp lí khác. Một hành vi vi phạm
pháp luật có thể đồng thời xâm hại đến nhiều
khách thể khác nhau, có nghĩa là đồng thời
xâm hại đến nhiều quan hệ xã hội được pháp
luật bảo vệ. Trong những trường hợp như
bồi thường thiệt hại. Công chức không thể
đồng thời gánh chịu hai lần bồi thường cho
một vi phạm pháp luật gây thiệt hại.
Những phân tích trên đây cho thấy trách
nhiệm vật chất của công chức là một dạng
trách nhiệm bồi thường thiệt hại đặc biệt,
được áp dụng đối với công chức thi hành
công vụ, vi phạm pháp luật gây thiệt hại về
tài sản của Nhà nước hoặc của người khác.
Trách nhiệm vật chất của công chức là một
chế định của pháp luật hành chính. Hành vi
vi phạm pháp luật trong khi thi hành công vụ
của công chức gây thiệt hại về tài sản, ở mức
độ nhất định đã phá vỡ trật tự hoạt động
công vụ, làm tổn hại đến uy tín của đội ngũ
cán bộ, công chức cần phải được xử lí theo
đúng quy định của pháp luật./.
(1). Điều 52 Hiến pháp năm 1992.