Hợp đồng ngoại thương và vai trò của hợp đồng ngoại thương trong hoạt động kinh doanh xuất nhập khẩu - Pdf 11

lịch sử kinh tế quốc dân
quá trình mở cửa kinh tế đối ngoại của trung quôc từ
năm 1978 đến nay : thực trạng và triển vọng
mục lục
lời giới thiệu
phần I khái quát tình hình ngoại thơng trung quốc trớc khi mở cửa
<1978>
I . Tình hình hoạt động ngoại thơng
II. Yêu cầu của việc mở cửa với bên ngoài
phần II quá trình mở cửa của trung quốc từ năm 1978 đến nay
I . Nội dung của chính sách mở cửa
II. Tác động của chính sách mở cửa đối với hoạt động kinh tế đối ngoại của
Trung Quốc
1.Tình hình ngoại thơng
a.Cơ cấu xuất khẩu
b.Cơ cấu nhập khẩu
c.Thị trờng xuất nhập khẩu
2.Tình hình FDI
3.Tình hình du lịch
III. Những vấn đề đặt ra trong quá trình cải cách
1.Về chính sách
2.Thực tiễn
phần III bài học kinh nghiệm cho Việt Nam và kết luận

phần I
khái quát tình hình ngoại thơng
trung quốc trớc khi mở cửa <1978>
I.Tình hình hoạt động ngoại thơng
Ngoại thơng là một bộ phận quan trọng của nền kinh tế quốc dân . nó đảm đơng
nhiệm vụ trao đổi, giao lu kinh tế với nớc ngoài,góp phần tăng cờng và bảo đảm cơ
sở vật chất kĩ thuật,tạo tiền đề cho sự phát triển kinh tế của mỗi quốc gia. Với một

hiện có trọng điểm, tập trung đợc các lực lợng đơn lẻ thành sức mạnh tổng hợp nên
đã vợt qua đợc nhiều thử thách trong cạnh tranh mậu dịch quốc tế
Song cùng với sự phát triển của hoạt động ngoại thơng đặc biệt vào những năm
70, sau khi Trung Quốc đã khôi phục đợc chiếc ghế ở liên hợp quốc và trớc sự thay
đổi mạnh của tình hình kinh tế trong nớc và quốc tế, thể chế ngoại thơng trớc đây
đã bộc lộ những hạn chế và những nhợc điểm nghiêm trọng trong công tác ngoại th-
ơng từ lâu nay. Những hạn chế và nhợc điểm đó biểu hiện ở một số mặt sau:
Thứ nhất, trong một thời gian dài nhà nớc duy trì chính sách kinh doanh độc
quyền, thống nhất chỉ thông qua các công ty ngoại thơng chuyên nghiệp làm cho
tình trạng buôn bán luôn trong thế bị động , không thể phát huy đợc tình năng động
và sáng tạo trong kinh doanh ngoại thơng. Sản xuất của các doanh nghiệp ngoại th-
ơng bị tách hẳn với tiêu thụ tạo ra hình thức buôn bán đơn lẻ, tản mạn thiếu các
kênh tiêu thụ ra thị trờng quốc tế.
Thứ hai, doanh nghiệp sản xuất ngoại nhng không có quyền tự chủ trong sản
xuất kinh doanh, thiếu năng động trong mậu dịch quốc tế, đã gây trở ngại lớn cho
việc mở tộng khả năng và phạm vi hoạt động ngoại thơng.
3
Thứ ba, chính sách quản lí quá nhiều quá chặt đối với công tác ngoại thơng đã
hạn chế nhiều tác dụng kinh doanh của ngành ngoại thơng. Hình thức can thiệp
hành chính, mệnh lệnh đã làm mất tác dụng điều tiết của đòn bẩy kinhtế, làm giảm
sức cạnh tranh trong việc tham gia trao đổi mậu dịch trên thế giới.
Những nhợc điểm của một nền ngoại thơng đợc điều hành bằng mệnh lệnh
hành chính, dựa trên cơ sở tự cấp tự túc bế quan tự chủ của Trung Quốc rõ ràng
không phù hợp với xu thế mở rộng quan hệ đối ngoại, hoà nhập kinh tế, tăng cờng
mậu dịch và hợp tác trên đà phát triển sôi động trong các quốc gia trên thế giới.
Việc tăng cờng sức sống cho toàn bộ thệ thống đối ngoại, nhanh chóng tổ chức xuất
khẩu hàng hoá và nhập khẩu vật t cần thiết cho sản xuất, tiếp nhận kĩ thuật và thiết
bị tiên tiến trên thế giới đã trở thành vấn đề cấp thiết của Trung Quốc buộc nớc này
phải tiến hành mở cửa kinh tế đối ngoại để nó có thể đảm đơng đợc nhiệm vụ quan
trọng của mình cho sự nghiệp xây dựng nền kinh tế hiện đại của đất nớc

rộngcửa ra thế giới nhằm tranh thủ vốn và kĩ thuật.
Đại hội XIV 1992
Trung Quốc bắt đầu thí điểm việc thực hiện thu hút vốn vào ngành buôn bán lẻ ở 5
đặc khu kinh tế Thâm Quyến, Chu Hải ,Sán Đầu, Hạ Môn và Hải Nam và 6
thành phố lớn ở Trung Quốc Bắc Kinh , Thợng Hải, Thiên Tân,Quảng Châu, Đại
Liên, Thanh Đảo với 14 công ty.
Trung Quốc đã ban hành chính sách nhằm mở rộng cửa hơn nữa đối với khu vực
miền Trung và miền Tây. Nh năm 1996 đã công bố: Thông t về quyền hạn phê
chuẩn các hạng mục thu hút vôn đầu t trực tiếp của nớc ngoài cho các đơn vị: Tỉnh,
khu tự trị, thành phố và các bộ hữu quan thuộc quốc vụ viện, quy định cho phép
các địa phơng , các bộ có quyền phê chuẩn mức đầu t vốn nớc ngoài vào hạng mục
từ dới 10 triệu USD nay nâng lên mức 30 triệu USD .
5
ở Trung Quốc, từ 1996 đã tiếp thu nghĩa vụ trong điều khoản thứ 8 của hiệp định tổ
chức tiền tệ quốc tế, bắt đầu thực hiện việc chuyển đổi tự do đồng nhân dân tệ
Đại hội XV 1997
Với t thế mới Trung Quốc càng tích cực hơn nữa đi ra thế giới hoàn thiện hơn bố
cục mở của đối ngoại. Trong báo cáo ở Đại hội XV <1997> tổng bí th Giang Trạch
Dân đã nhấn mạnh mở cửa đối ngoại là một quốc sách lâu dài của TQ.
Đứng trớc xu thế toàn cầu hoá về kinh tế, khoa học kĩ thuật Trung Quốc cần phải
tích cực hơn nữa để đi ra thế giới hoàn thiện cục diện đối ngoại trên phơng vị nhiều
tầng nấc mở rộng nhiều lĩnh vực, phát triển kinh tế loại hình mở cửa, tăng cờng sức
cạnh tranh quốc tế, thúc đẩy việc tôi u hoá cơ cấu kinh tế và nâng cao tố chất kinh
tế quốc dân,
Báo cáo cũng đề ra biện pháp nhằm tăng cờng hơn nữa trình độ mở cửa đối ngoại:
Cần phải nâng cao hiệu quả kinh tế làm trọng tâm, cố gắng việc mở cửa buôn bán
đối ngoại: hàng hoá và dịch vụ, tối u hoá cơ cấu xuất nhâpk khẩu . Kiên trì chiến l-
ợc chiến thắng trong cạnh tranh bằng chất lợng và đa dạng hoá thị trờng, tích cực
khai thác thị trờng quốc tế.
Giảm hơn nữa mức thuế quan, thu hút kĩ thuật tiên tiến và thiết bị then chốt, đi sâu

ngoại thơng Trung Quốc giảm nhẹ với mức 0.4 % so với năm trớc, tổng kim ngạch
đạt 324 tỷ USD trong đó xuất khẩu đạt 283,8 tỷ USD tăng 0,5 %, nhập khẩu đạt
140,2 tỷ USD giảm 1,5%. Nh vậy, kim ngạch xuất nhập khẩu của TQ đã tăng xấp
xỉ gần 20 lần trong 20 năm đa Trung Quốc từ vị trí thứ 32 lên vị trí cờng quốc ngoại
thơng thứ 10 trên thế giới, chỉ sau: Mỹ, Đức, Nhât, Anh, Pháp, ý, Canada, Hồng
Kông và Hà Lan,từ chỗ chỉ chiếm 0,75% tổng kim ngạch xuất nhập khẩu của thế
giới tới chỗ chiễm tới 3,3%. Ngoại thơng mấy năm gần đây liên tục xuất siêu, dự
trữ ngoại tệ của Trung Quốc tăng lên nhanh chóng, năm 1979 mới chỉ có 480 triệu
USD đến năm 1998 đã đạt 145 tỷ USD , đứng thứ 2 thế giới chỉ sau Nhật Bản
7
Trong sự phát triển chung của nền kinh tế , kinh tế đối ngoại của TQ đã đạt đợc
thành quả nhất định, trớc hết là do kết quả sản xuất của các ngành cùng với các
chính sách nhất quán và ngày một đồng bộ bắt kịp với xu thế hội nhập với thế giới.
Trớc hết là đẩy mạnh xuất nhập khẩu; xuất nhập khẩu đều tăng nhanh, đến
năm1994 đã đa đất nớc thoát khỏi tình trạng nhập siêu sang xuất siêu và thay đổi cơ
cấu nhóm hàng xuất khẩu. Thật vậy, nếu năm 1952 chỉ xuât đợc 0.8 tỷ USD thì năm
1998 đã xuất đợc 182,4 tỷ USD, cũng thời gian này, nhập từ 1,12 tỷ USD lên 140,5
tỷ USD, cơ chế hàng công nghiệp chế biến trong giá trị xuất khẩu từ 49% năm 1980
tăng lên trên 86% năm 1995, thị trờng xuất nhập khẩu của Trung Quốc trải khắp
các quốc gia trên thế giới.
Năm 1997 hoạt động ngoại thơng Trung Quốc đã đạt đợc kết quả rất khả quan xuất
khẩu đạt 182,7 tỷ USD xếp thứ 10 nhập khẩu 142,3 tỷ USD xếp thứ 12 thế giới.
Nền ngoại thơng của Trung Quốc còn đạt đợc sự cải thiện rõ rệt về cơ cấu hàng hoá
xuất nhập khẩu, từ chỗ xuất nhập khẩu hàng cấp thấp là chính chuyển sang xuất
nhập khẩu hàng thành phẩm công nghiệp là chính.
a.Cơ cấu xuất khẩu:
Có thể chia cơ cấu hàng hoá xuất nhập khẩu của Trung Quốc thành 4 loại nh sau:
Các loại sản phẩm sơ cấp mà chủ yếu là nông sản và khoáng sản
Các sản phẩm công nghiệp nhẹ, bán thành phẩm sử dụng nhiều lao động
Sản phẩm công nghiệp của các ngành sử dụng vốn tập trung(công nghiệp

lâm nghiệp, gia tăng tỷ trọng xuất khẩu hàng hoá thành phẩm
2. Tích cực sử dụng kĩ thuật, tri thức, công nghệ mới tăng xuất khẩu những
hàng hoá là sản phẩm của ngành công nghiệp nặng hoá chất, sử dụng kĩ
thuật cao và đổi mới thiết bị của ngành dêt, công nghiệp nhẹ, chế biến lơng
9


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status