Một số giải pháp nhằm hoàn thiện công tác phân tích tài chính tại Công ty điều hành hướng dẫn du lịch Vinatour - Pdf 11

Lời nói đầu
Trong nền kinh tế thị trờng, doanh nghiệp cần phải kinh doanh có hiệu
quả, nâng cao khả năng cạnh tranh để phát triển. Trong việc quản trị và điều
hành doanh nghiệp, những vấn đề về tài chính luôn có ý nghĩa sống còn đối
với sự tồn tại và phát triển của doanh nghiệp. Do vậy, doanh nghiệp cần phải
nắm bắt đợc thực trạng tài chính để đa ra những quyết định quản lý phù hợp.
Bên cạnh đó, các đối tợng bên ngoài doanh nghiệp nh các chủ nợ, cơ quan
thuế cũng quan tâm đến tình hình tài chính của doanh nghiệp. Điều đó đòi
hỏi doanh nghiệp cần phải thờng xuyên phân tích tình hình tài chính của
mình. Thực tiễn cho thấy, những nhà kinh doanh, các chủ doanh nghiệp chú
trọng tới công tác phân tích tài chính thì họ sẽ có những quyết định đúng và
thành công trong kinh doanh, ngợc lại thì họ sẽ khó tránh khỏi sai lầm và bị
thất bại.
Nớc ta đang trong quá trình đổi mới cơ chế quản lý kinh tế càng đòi
hỏi những thay đổi về chất lợng hoạt động tài chính doanh nghiệp, đặc biệt là
trong công tác phân tích tài chính. Các doanh nghiệp đã quan tâm đến việc
phân tích tài chính nhằm bảo toàn và nâng cao hiệu quả sử dụng vốn. Tuy
nhiên, vẫn còn những vớng mắc nhất định, từ nguồn thông tin phục vụ đến
nội dung và phơng pháp phân tích, những điều này đã làm hạn chế đáng kể
hiệu quả và tác dụng của phân tích tài chính doanh nghiệp. Đây cũng là vấn
đề cần tháo gỡ trong công tác phân tích tài chính của Công ty điều hành hớng
dẫn du lịch Vinatour. Vì lý do này, em đã chọn đề tài "Một số giải pháp
nhằm hoàn thiện công tác phân tích tài chính tại Công ty điều hành h-
ớng dẫn du lịch Vinatour"
Chơng I: Khái quát về phân tích tài chính doanh nghiệp.
Chơng II: Thực trạng công tác phân tích tài chính doanh nghiệp ở
Công ty điều hành hớng dẫn du lịch Vinatour.
Chơng III: Giải pháp hoàn thiện công tác phân tích tài chính ở Công
ty điều hành hớng dẫn du lịch Vinatour.
Chơng I
khái quát về phân tích tài chính doanh nghiệp

doanh.
Việc nghiên cứu, phân tích và đánh giá sự chuyển hoá giữa các dòng
tài chính và dự trữ tài chính và ngợc lại, cũng nh sự ảnh hởng của sự chuyển
hoá đó tới hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp chính là hoạt
động phân tích tài chính. Phân tích tài chính doanh nghiệp sẽ dẫn đến việc đa
ra các quyết định quản lý tài chính doanh nghiệp, từ đó có tác động đến hoạt
động kinh doanh của doanh nghiệp.
Theo giáo trình những vấn đề cơ bản về quản trị tài chính doanh
nghiệp thì: "Phân tích tài chính là một tập hợp các khái niệm, phơng pháp
và các công cụ cho phép thu thập và xử lý các thông tin kế toán và các
thông tin khác về quản lý nhằm đánh giá tình hình tài chính ở một doanh
nghiệp, khả năng và tiềm lực của doanh nghiệp đó, giúp ngời sử dụng thông
tin đa ra các quyết định tài chính, quyết định quản lý phù hợp."
Để hiểu rõ vai trò của phân tích tài chính doanh nghiệp, trớc hết chúng
ta hiểu rõ về quản lý tài chính doanh nghiệp. Quản lý tài chính doanh nghiệp
là quá trình ra quyết định nhằm tác động đến các dòng và dự trữ tài chính và
sự chuyển hóa giữa chúng để đạt đợc các mục tiêu của doanh nghiệp. Quản
lý tài chính luôn luôn giữ một vị trí trọng yếu trong hoạt động quản lý của
doanh nghiệp, nó quyết định đến tính độc lập, sự thành bại của doanh nghiệp
trong cuộc đời kinh doanh. Mọi quyết định của doanh nghiệp nh đa ra một
sản phẩm mới hay ngừng sản xuẩt kinh doanh một sản phẩm cũ, mở rộng quy
mô TSCĐ hay thay đổi cơ cấu TSCĐ, phát hành cổ phiếu, trái phiếu ... đều
gián tiếp hoặc trực tiếp liên quan đến hoạt động tài chính và do vậy, luôn cần
đến các quyết định quản lý tài chính.
Tuy nhiên, mục tiêu của quản lý tài chính doanh nghiệp lại phụ thuộc
vào quan điểm của từng ngời quan tâm đến tình hình tài chính doanh nghiệp.
Đó là ngân hàng, những nguồn tài trợ vốn cho doanh nghiệp trong quá trình
sản xuất kinh doanh. Đó còn là cơ quan thuế, những ngời quan tâm đến
nguồn thu vào NSNN từ doanh nghiệp. Và đặc biệt đó còn là những ngời đầu
t trên thị trờng chứng khoán, những nhà tài trợ tiềm năng của doanh nghiệp.

- Đối với những ngời lao động trong doanh nghiệp: Phân tích tài
chính doanh nghiệp sẽ cho biết khả năng hoạt động của doanh nghiệp, từ đó
có ảnh hởng đến công ăn việc làm và những quyền lợi họ đợc hởng trong
doanh nghiệp.
Nhìn chung, phân tích tài chính doanh nghiệp là một nhu cầu khách
quan của quản lý tài chính doanh nghiệp. Việc phân tích tài chính doanh
nghiệp còn là cơ sở cho những đối tợng quan tâm đến doanh nghiệp ra quyết
định chính xác theo những mục tiêu của họ. Tóm lại, công tác phân tích tài
chính là một việc làm hết sức quan trọng và cần thiết đối với tất cả các doanh
nghiệp.
Để thấy rõ vài trò và tầm quan trọng của phân tích tài chính trong quản
lý doanh nghiệp ta xem sơ đồ 1.1
Sơ đồ 1.1 : Vai trò và vị trí của công tác phân tích tài chính trong
quản lý doanh nghiệp.
Nghiên
cứu thị
trờng
Ra quyết
định
quản lý
Lập kế hoạch sản
xuất kinh doanh
và tài chính
Tổ chức
điều
hành
Hoạt động
sản xuất
kinh doanh
Phân tích tài

nào đó.Bảng cân đối kế toán gồm 2 phần là Tài sản và nguồn vốn. Bên tài sản
phản ánh toàn bộ tài sản hiện có đến thời điểm lập báo cáo thuộc quyền quản
lý và sử dụng của doanh nghiệp: đó là TSCĐ, TSLĐ. Bên nguồn vốn phản
ánh nguồn hình thành các tài sản của doanh nghiệp tính đến thời điểm lập
báo cáo, đó là nguồn vốn chủ sở hữu và các khoản nợ.
Bảng cân đối kế toán là một t liệu quan trọng giúp cho nhà phân tích
đánh giá đợc khả năng cân bằng tài chính, khả năng thanh toán và cơ cấu vốn
của doanh nghiệp. Nhiều doanh nghiệp lập bảng cân đối kế toán theo từng
ngày để theo dõi sự biến động của các loại tài sản trong doanh nghiệp.
- Báo cáo kết quả kinh doanh: Báo cáo kết quả kinh doanh là báo cáo
tổng hợp cho biết tình hình tài chính của doanh nghiệp tại những thời điểm
nhất định. Đó là kết quả hoạt động sản xuất kinh doanh của toàn doanh
nghiệp, kết quả hoạt động theo từng loại hoạt động kinh doanh. Ngoài ra báo
cáo kết quả kinh doanh còn cho biết tình hình thực hiện nghĩa vụ với nhà nớc
của doanh nghiệp trong thời gian đó.
- Báo cáo lu chuyển tiền tệ: Báo cáo lu chuyển tiền tệ là một trong
bốn báo cáo tài chính bắt buộc mà bất kỳ doanh nghiệp nào cũng phải lập để
cung cấp cho ngời sử dụng thông tin của doanh nghiệp. Nếu bảng cân đối kế
toán cho biết những giá trị của tài sản của doanh nghiệp và nguồn gốc của
những tài sản đó, và báo cáo kết quả kinh doanh cho biết thu nhập và chi phí
phát sinh để tính đợc kết quả lỗ lãi trong một kỳ kinh doanh thì báo cáo lu
chuyển tiền tệ đợc lập ra để trả lời các vấn đề liên quan đến các luồng tiền
vào, ra trong doanh nghiệp, tình hình tài trợ, đầu t của doanh nghiệp trong
từng thời kỳ.
- Các thông tin kế toán khác: Các bảng cân đối kế toán, báo cáo kết
quả kinh doanh, báo cáo lu chuyển tiền tệ chỉ là những báo cáo tổng hợp,
mang tính thời điểm trong một thời kỳ nhất định. Do vậy, để đi vào chi tiết,
ngời phân tích phải sử dụng các tài liệu hạch toán khác nh : sổ cái, thậm chí
cả chứng từ gốc trong các giao dịch mua, bán, vay nợ của doanh nghiệp.
- Các thông tin khác: Hoạt động tài chính có liên quan mật thiết đến

tổng thể, so sánh theo chiều ngang của từng thời kỳ để thấy đợc sự biến đổi
cả về số lợng tơng đối và tuyệt đối của một chỉ tiêu nào đấy theo các niên độ
kế toán liên tiếp.
Các điều kiện để so sánh các chỉ tiêu là:
* Bảo đảm tính thống nhất về nội dung kinh tế các chỉ tiêu.
* Bảo đảm tính thống nhất về đơn vị tính các chỉ tiêu.
* Bảo đảm tính thống nhất về không gian, thời gian chỉ tiêu.
* Bảo đảm tính thống nhất về phơng pháp tính các chỉ tiêu.
1.2.2.2 Phơng pháp phân tích tỷ lệ
Phơng pháp phân tích tỷ lệ dựa trên ý nghĩa chuẩn mực các tỷ lệ của
đại lợng tài chính. Về nguyên tắc, phơng pháp tỷ lệ yêu cầu phải xác định đ-
ợc các ngỡng, các định mức để nhận xét, đánh giá tình hình tài chính doanh
nghiệp trên cơ sở so sánh các tỷ lệ của doanh nghiệp với giá trị các tỷ lệ tham
chiếu.
Trong phân tích tài chính doanh nghiệp, các tỷ lệ tài chính đợc phân
thành các nhóm tỷ lệ đặc trng, phản ánh những nội dung cơ bản theo các mục
tiêu phân tích của doanh nghiệp. Đó là nhóm tỷ lệ về khả năng thanh toán,
nhóm tỷ lệ về cơ cấu vốn và nguồn vốn, nhóm tỷ lệ về năng lực hoạt động
kinh doanh, nhóm tỷ lệ về khả năng sinh lời. Mỗi nhóm tỷ lệ lại bao gồm
nhiều tỷ lệ, phản ánh riêng lẻ từng bộ phận của hoạt động của hoạt động tài
chính trong những trờng hợp khác nhau. Tuỳ theo giác độ phân tích mà ngời
phân tích lựa chọn các nhóm chỉ tiêu khác nhau để phục vụ mục tiêu phân
tích của mình.
Phơng pháp phân tích tỷ lệ là phơng pháp phân tích truyền thống đợc
áp dụng phổ biến trong phân tích tài chính doanh nghiệp. Đây còn là phơng
pháp có tính hiện thực cao với các điều kiện áp dụng ngày càng đợc bổ sung
và hoàn thiện.
1.2.2.3 Phơng pháp phân tích tài chính Dupont
Phơng pháp phân tích tài chính Dupont cho thấy mối quan hệ tơng hỗ
giữa các tỷ lệ tài chính chủ yếu. Công ty Dupont là Công ty đầu tiên ở Mỹ sử

Tổng TS
x
Tổng tài sản
Vốn chủ sở hữu
Re = Rr x
Tổng tài sản
Vốn chủ sở hữu
Chỉ tiêu tổng tài sản trên vốn chủ sở hữu lại có thể phân tích thành:
Tổng tài sản
Vốn chủ sở hữu
=
Tổng tài sản
Tổng tài sản-nợ phải trả
=
1
1- Nợ phải trả
=
1
1 - Rd
Tổng tài sản
Do vậy:
Re = Rr x
1
1 - Rd
Công thức này cho thấy khi hệ số nợ Rd tăng lên thì Re sẽ tăng, tức tỷ
lệ nợ cao sẽ khuyếch trơng lợi nhuận của doanh nghiệp nếu doanh nghiệp có
lợi nhuận. Ngợc lại nếu doanh nghiệp thua lỗ thì sẽ thua lỗ càng nặng nề.
Tóm lại, phơng pháp phân tích tài chính Dupont thực chất là phân tích
các tỷ lệ tài chính. Do vậy, để sử dụng phơng pháp này, chúng ta phải kết hợp
nhuần nhuyễn với phơng pháp tỷ lệ đã nêu ở trên.

biến động của các chỉ tiêu phân tích theo thời gian. Tuy nhiên trong phạm vi
đề tài này, em sẽ không đi sâu vào các các phơng pháp đó và trong quá trình
phân tích tài chính doanh nghiệp, cần phải kết hợp đồng bộ các phơng pháp
khác nhau để đạt kết quả theo đúng mục đích phân tích.
1.2.3 Nội dung phân tích tài chính doanh nghiệp
1.2.3.1 Phân tích diễn biến nguồn vốn và sử dụng vốn trong doanh
nghiệp
Phân tích diễn biến nguồn vốn và sử dụng nguồn vốn là xem xét đánh
giá sự thay đổi các chỉ tiêu cuối kỳ so với đầu kỳ trên bảng cân đối kế toán về
nguồn vốn và cách thức sử dụng vốn của doanh nghiệp. Qua việc phân tích
cân đối giữa nguồn vốn và sử dụng vốn, ngời phân tích sẽ nắm đợc sự tăng,
giảm của nguồn vốn với sự tăng, giảm tơng ứng của tài sản trong một khoảng
thời gian nhất định.
Nguyên tắc của phơng pháp này là:
- Tăng tài sản, giảm nguồn vốn và ngợc lại, giảm tài sản thì tăng
nguồn vốn.
- Tài sản và nguồn vốn phải cân đối với nhau.
Ngoài ra ngời ta còn sử dụng phơng pháp phân tích theo dòng tiền mặt
trên cơ sở so sánh dòng tiền mặt đầu kỳ và cuối kỳ. Sau đó xác định nguyên
nhân làm thay đổi tăng, giảm tiền mặt cuối kỳ so với đầu kỳ, dựa vào sự thay
đổi theo từng chỉ tiêu của bảng cân đối kế toán. Mỗi sự thay đổi cuối kỳ so
với đầu kỳ trong từng chỉ tiêu của bảng cân đối kế toán đều dẫn đến sự tăng
(giảm) tiền mặt tơng ứng, theo nguyên tắc:
- Tăng tiền mặt tơng ứng với giảm tài sản và tăng nguồn vốn
- Giảm tiền mặt làm tăng tài sản và giảm nguồn vốn
- Tổng cộng tăng (giảm) tiền mặt đến cuối kỳ đúng bằng sự thay đổi
trên dòng tiền mặt cuối kỳ so với đầu kỳ của bảng cân đối kế toán.
Qua việc phân tích, ta sẽ xác định khả năng chuyển đổi vật t, hàng hoá
và tài sản thành tiền mặt trong kỳ.
1.2.3.2 Phân tích tình hình bảo đảm nguồn vốn cho hoạt động

xuyên lớn hơn 0, khả năng thanh toán các khoản nợ ngắn hạn là rất vững
chắc.
- Nó cho biết TSCĐ của doanh nghiệp có đợc tài trợ một cách vững
chắc bằng nguồn vốn dài hạn hay không? Nếu VLĐ thờng xuyên nhỏ hơn 0,
các TSCĐ của doanh nghiệp có một phần đợc đầu t bằng vốn ngắn hạn, do
vậy không chắc chắn.
Từ những phân tích nêu trên có thể thấy mức chuẩn của chỉ tiêu VLĐ
thờng xuyên là bằng 0.
Ngoài chỉ tiêu VLĐ thờng xuyên, để phân tích tình hình bảo đảm
nguồn vốn cho hoạt động kinh doanh, ngời ta còn sử dụng chỉ tiêu nhu cầu
VLĐ thờng xuyên. Nhu cầu VLĐ thờng xuyên là nguồn vốn ngắn hạn doanh
nghiệp cần để tài trợ cho một phần TSCĐ, đó là hàng tồn kho và các khoản
phải thu. Hay nói cách khác, đó là những TSLĐ không phải là tiền.
Nhu cầu VLĐ th-
ờng xuyên
=
Giá trị hàng tồn kho và các
khoản phải thu
- Nợ ngắn hạn
Nếu nhu cầu VLĐ thờng xuyên lớn hơn 0, nghĩa là nợ ngắn hạn không
đủ để tài trợ cho hàng tồn kho và các khoản phải thu, doanh nghiệp phải dùng
nguồn vốn dài hạn để tài trợ cho phần chênh lệch. Ngợc lại, nếu nhu cầu
VLĐ thờng xuyên nhỏ hơn 0, nguồn vốn ngắn hạn từ bên ngoài đã đủ tài trợ
cho các khoản sử dụng vốn ngắn hạn của doanh nghiệp, doanh nghiệp không
cần phải tài trợ thêm.
Giữa vốn lu động thờng xuyên và nhu cầu VLĐ thờng xuyên có mối
liên hệ sau:
Vốn lu động th-
ờng xuyên
-

3. Giá vốn hàng bán
4. Lãi gộp
5. Chi phí bán hàng quản lý
6. Lãi trớc thuế và lợi tức tiền vay
7. Lợi nhuận trớc thuế
8. Lợi nhuận sau thuế
9. Lãi không chia
Bên cạnh đó, ta có thể phân tích tỷ trọng của các chỉ tiêu tài chính
trung gian (Giá vốn, chi phí bán hàng, chi phí quản lý, lợi nhuận...,) trong
doanh thu thuần và đánh giá diễn biết của các tỷ trọng này qua các niên độ
kế toán.
1.2.3.5 Phân tích khả năng thanh toán của doanh nghiệp
Khả năng thanh toán của doanh nghiệp phản ánh mối quan hệ tài
chính giữa các khoản có khả năng thanh toán trong kỳ với các khoản phải
thanh toán trong kỳ.
Để phân tích khẳ năng thanh toán của doanh nghiệp, ta phải phân tích
chi tiết nhu cầu và khả năng thanh toán nhằm đánh giá tình hình thanh toán
của doanh nghiệp trong thời gian trớc mắt và triển vọng trong thời gian tới
(theo trình tự thời gian)... Theo đó, ngời phân tích trình tự các chỉ tiêu theo 2
nhóm:
* Nhu cầu thanh toán đợc sắp xếp theo trình tự là:
- Những khoản cần thanh toán ngay: bao gồm các khoản nợ quá hạn
(phải nộp NSNN, nợ quá hạn ngân hàng, nợ các bộ công nhân viên, phải trả
ngời bán...,) và các khoản nợ đến hạn.
- Các khoản phải thanh toán trong thời gian tới.
* Về khả năng thanh toán: đợc xắp xếp theo tính thanh khoản, của các
tài sản, bao gồm:
- Các khoản dùng thanh toán ngay, gồm: tiền mặt tại quỹ, tiền gửi
ngân hàng, tiền đang chuyển.
- Các khoản có thể dùng thanh toán trong thời hạn tới, gồm: các chứng

=
Giá trị hàng tồn kho
VLĐ thờng xuyên
Tỷ lệ này cho biết phần thua lỗ mà doanh nghiệp có thể phải gánh chịu
do giá trị hàng tồn kho giảm. Thực vậy, VLĐ thờng xuyên là một phần
nguồn vốn dài hạn để tài trợ cho những tài sản lu động, trong đó có hành tồn
kho. Do vậy, khi giá trị hàng tồn kho giảm, nghĩa là vốn lu động thơng xuyên
bị giảm theo, làm giảm nguồn vốn chủ sở hữu của doanh nghiệp .
1.2.3.6 Phân tích cơ cấu tài chính của doanh nghiệp:
- Về cơ cấu các loại tài sản, ta sử dụng chỉ tiêu sau:
Hệ số cơ cấu tài sản =
TSCĐ ( hoặc TSLĐ )
Tổng tài sản
- Về cơ cấu nguồn vốn, ta có:
Hệ số cơ cấu nguồn vốn =
Tổng vốn chủ sở hữu
Tổng nguồn vốn
- Chỉ tiêu hệ số nợ tổng tài sản:
Hệ số nợ tổng tài sản =
Tổng nợ phải trả
Tổng tài sản
Tỷ lệ này đợc sử dụng để xác định nghĩa vụ của chủ doanh nghiệp đối
với các chủ nợ trong việc góp vốn. Thông thờng các chủ nợ thích tỷ lệ vay nợ
vừa phải vì tỷ lệ này càng thấp thì khoản nợ càng đợc đảm bảo. Trong khi đó,
các chủ sở hữu doanh nghiệp thích tỷ lệ nợ cao vì họ muốn lợi nhuận ra tăng
nhanh. Tuy nhiên nếu tỷ lệ nợ quá cao, doanh nghiệp dễ rơi vào tình trạng
mất khả năng thanh toán.
- Chỉ tiêu hệ số nợ vốn cổ phần
Hệ số nợ vốn cổ phần =
Tổng nợ phải trả

- Kỳ thu tiền bình quân:
Chỉ tiêu này đợc sử dụng để đánh giá khả năng thu hồi vốn trong thanh
toán trên cơ sở các khoản phải thu và doanh thu tiêu thụ bình quân một ngày.
Kỳ thu tiền bình quân =
Các khoản phải thu
Doanh thu bình quân 1 ngày
Nó cho biết bình quân trong bao nhiêu ngày, doanh nghiệp có thể thu
hồi các khoản phải thu của mình.
Hiệu suất sử dụng TSCĐ =
Doanh thu thuần
TSCĐ
Chỉ tiêu này cho biết một đồng TSCĐ tạo ra đợc bao nhiêu đồng doanh
thu trong một năm.
Hiệu suất sử dụng tổng
tài sản
=
Doanh thu thuần
Tổng tài sản
Chỉ tiêu này còn đợc gọi là vòng quay toàn bộ vốn và cho biết một
đồng tài sản đem lại bao nhiêu đồng doanh thu.
1.2.3.8 Phân tích khả năng sinh lãi của doanh nghiệp
Về phân tích khả năng sinh lãi của doanh nghiệp thì chúng ta có một
số chỉ tiêu đánh giá nh sau:
Hệ số sinh lợi doanh thu =
Lợi nhuận sau thuế
Doanh thu thuần
Hệ số sinh lợi của tài sản =
Lợi nhuận sau thuế + tiền lãi phải trả
Tổng tài sản
Hệ số sinh lợi vốn chủ

hao TSCĐ, tiền thuê (đối với thuê mua hoặc thuê hoạt động), chi phí quản lý
v.v.. Chi phí biến đổi là những chi phí thay đổi tỷ lệ thuận với sự thay đổi của
sản lợng, chẳng hạn nguyên, nhiên, vật liệu, nhân công trực tiếp
Ký hiệu:
R - Doanh thu bán hàng
F - Tổng chi phí cố định
V - Chi phí biến đổi /1 đvsp
X - Lợng sản phẩm tiêu thụ
P - Giá bán đơn vị sản phẩm
C - Tổng chi phí trong kỳ
Sản lợng hoà vốn
=
F
P - V
Doanh thu hoà vốn =
F
1 - V
P
Bên cạnh đó, ngời ta cũng xác định chỉ tiêu thời gian hoà vốn, là thời
gian mà mức doanh thu vừa đủ bù đắp chi phí sản xuất.
Tóm lại, phân tích tài chính của doanh nghiệp bao gồm rất nhiều nội
dung, đánh giá toàn diện các mặt trong hoạt động tài chính. Ngoài các chỉ
tiêu đợc đa ra ở trên, ngời phân tích có thể sử dụng các phơng pháp phân tích
khác nhau để đa ra các chỉ tiêu khác để phân tích theo mục tiêu của mình. Để
thực hiện công tác phân tích tài chính doanh nghiệp, ta cần phải tổ chức công
tác phân tích tài chính doanh nghiệp.
1.2.4 Tổ chức công tác phân tích tài chính doanh nghiệp
Phân tích tài chính doanh nghiệp là một trong những nhu cầu của quản
lý, do vậy, việc phân tích phải đợc tổ chức một cách chu đáo. Trong các
doanh nghiệp vừa và nhỏ, nó có thể do phòng tài chính - kế toán thực hiện


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status