Sự cần thiết khách quan phải chuyển dịch cơ cấu kinh tế - Pdf 11

chơng I: sự cần thiết khách quan phải chuyển dịch cơ
cấu kinh tế
I. Cơ cấu kinh tế và các nhân tố ảnh hởng
1. Nhận thức chung về cơ cấu kinh tế
1.1. Khái luận về cơ cấu kinh tế
Trong các tài liệu kinh tế có nhiều cách tiếp cận khác nhau về khái niệm
cơ cấu kinh tế. Các cách tiếp cận này thờng bắt đầu từ khái niệm cơ cấu. Cơ
cấu là một phạm trù triết học dùng để biểu thị cấu trúc bên trong, tỷ lệ và mối
quan hệ giữa các bộ phận hợp thành hệ thống. Cơ cấu đợc biểu hiện nh là tập
hợp những mối quan hệ liên kết hữu cơ, các yếu tố khác nhau của một hệ
thống nhất định. Nó biểu hiện ra nh là một thuộc tính của sự vật hiện thợng nó
biến đổi cùng với sự biến đổi sự vật, hiện tợng. Vì thế khi nghiên cứu cơ cấu
phải đứng trên quan điểm hệ thống.
ở trên là khái niệm về cơ cấu, cũng nh vậy đối với nền kinh tế quốc
dân, khi xem nó là một hệ thống phức tạp thì có thể thấy rất nhiều các bộ phận
và các kiểu cơ cấu hợp thành của chúng, tuỳ theo cách mà chúng ta tiếp cận
khi nghiên cứu.
Đứng trên quan điểm duy vật biện chứng và lý thuyết hệ thống có thể
hiểu: cơ cấu kinh tế là một tổng thể hợp thành bởi nhiều yếu tố kinh tế của nền
kinh tế quốc dân, giữa chúng có mối liên hệ hữu cơ, những tơng tác qua lại cả
về số lợng và chất lợng, trong những không gian và điều kiện kinh tế -xã hội
cụ thể, chúng vận động hớng vào những mục tiêu nhất định. Theo quan điểm
này cơ cấu kinh tế là phạm trù kinh tế, là nền tảng của cơ cấu xã hội và chế độ
xã hội.
Một cách tiếp cận khác thì cho rằng: cơ cấu kinh tế hiểu một cách đầy
đủ là một tổng thể hệ thống kinh tế bao gồm nhiều yếu tố có quan hệ chặt chẽ
với nhau, tác động qua lại với nhau trong những không gian và thời gian nhất
định, trong những điều kiện kinh tế - xã hội nhất định, đợc thể hiện cả về mặt
định tính lẫn định lợng, cả về số lợng và chất lợng, phù hợp với mục tiêu đợc
xác định của nền kinh tế.
Nhìn chung các cách tiếp cận trên đã phản ánh đợc bản chất chủ yếu

tiến bộ khoa học công nghệ để đảm bảo quy mô và nhịp độ phát triển kinh tế.
Cơ cấu kinh tế luôn luôn vận động phát triển và chuyển hoá cho nhau theo h-
ớng ngày càng hoàn thiện. Cơ cấu kinh tế cũ chuyển dịch dần dần và ra đời cơ
cấu mới thay thế nó. Cơ cấu mới, sau một thời gian lại trở nên không phù hợp.
Cứ thế cơ cấu kinh tế vận động biến đổi không ngừng từ đơn giản đến phức
tạp, từ đơn điệu đến đa dạng và thêm hoàn thiện.
Việc chuyển đổi cơ cấu kinh tế là một quá trình. Không phải cơ cấu kinh tế
đợc hình thành ngay một lúc và lập tức thay thế cơ cấu cũ. Quá trình chuyển
dịch cơ cấu kinh tế phải là một quá trình tích luỹ về lợng, thay đổi về lợng đến
một mức nào độ nhất định mới dẫn đến thay đổi về chất. Trong quá trình đó,
cơ cấu cũ thay đổi dần dần và chuyển sang cơ cấu mới. Quá trình này diễn ra
nhanh hay chậm tuỳ thuộc vào nhiều yếu tố trong đó có sự tác đọng trực tiếp
rất quan trọng của các chủ thể lãnh đạo và quản lý.Sự nóng vội hay bảo thủ
trong việc chuyển dịch cơ cấu kinh tế đều có hại đối với sự phát triển của nền
kinh tế. Sự chuyển dịch cơ cấu kinh tế nhất thiết phải là một quá trình nhng
không phỉa và không thể là một quá trình tự phát với cac bớc tuần tự, mà ở đó
con ngời bằng nhận thức vợt trớc và am hiểuthực tế sâu sắc hoàn toàn có thể
2
tạo ra những tiền đề, tác đọng cho quá trình đó diễn ra nhanh hơn theo đúng h-
ớng. Quan trọng là quá trình đó bắt đầu từ đâu, dùng những biện pháp nào để
bắt đầu, gây đợc tác động lan truyền trong tổng thể nền kinh tế.
2. Phân loại cơ cấu kinh tế
Cơ cấu kinh tế còn là một phạm trù trừu tợng; muốn nắm vững đợc bản
chất cơ cấu kinh tế và thực thi giải pháp nhằm chuyển dịch cơ cấu kinh tế có
hiệu quả cần xem xét từng loại cơ cấu cụ thể của nền kinh tế. Mỗi một loại cơ
cấu phản ánh những nét đặc trng của các bộ phận và các cách mà chúng quan
hệ với nhau trong quá trình phát triển nền kinh tế quốc dân. Nền kinh tế quốc
dân dới giác độ cấu trúc là sự đan xen của nhiều loại cơ cấu khác nhau, có mối
quan hệ chi phối lẫn nhau trong quá trình phát triển kinh tế. Những loại cơ cấu
kinh tế cơ bản quyết định sự tồn tại và phát triển của nền kinh tế quốc dân bao

kinh tế. Cơ cấu thành phần kinh tế cũng là nhân tố tác động đến cơ cấu ngành
kinh tế và cơ cấu vùng - lãnh thổ. Sự tác động đó là biểu hiện sinh động của
mối quan hệ giữa các loại cơ cấu trong nền kinh tế. Loại cơ cấu này phản ánh
các mối quan hệ giữa con ngời trong quá trình sản xuất sản xuất trong đó nổi
bật lên hàng đầu là quan hệ sở hữu đối với các t liệu sản xuất. Mô hình chung
về số lợng thành phần kinh tế trong nền kinh tế các nớc bao gồm: kinh tế nhà
nớc, kinh tế tập thể, kinh tế t nhân, kinh tế hỗn hợp. Tỷ lệ giữa các thành phần
kinh tế này thờng không giống nhau. Điều này tạo ra tính đặc thù trong chiến
lớc phát triển kinh tế của mỗi quốc gia cũng nh trong mỗi giai đoạn phát triển
của từng quốc gia.
Trên đây là ba bộ phận cơ bản hợp thành cơ cấu kinh tế trong đó cơ cấu ngành
kinh tế có vai trò quan trọng hơn cả cơ cấu ngành và thành phần kinh tế chỉ có
thể đợc chuyển dịch đúng đắn trên phạm vi không gian lãnh thổ và trên phạm
vi cả nớc. Mặt khác việc phân bố không gian vùng một cách hợp lý có ý nghĩa
quan trọng thúc đẩy phát triển các ngành và thành phần kinh tế trên vùng, lãnh
thổ kinh tế.
Ngoài ba cơ cấu cơ bản trên còn có các cơ cấu sau:
2.4.Cơ cấu xuất nhập khẩu:
Đó là loại cơ cấu phản ánh mối quan hệ về số lợng và chất lợng giữa xuất khẩu
và nhập khẩu hàng hoá, dịch vụ của nền kinh tế. Ngày nay xu hớng hội nhập
để phát triển, không còn tồn tại nền kinh tế tự cung tự cấp trong phạm vi một
quốc gia mà mọi nền kinh tế đều có sự trao đổi lẫn nhau để phát huy cao nhất
lợi thế so sánh, cũng nh khắc phục những điểm yếu trong quá trình phát triển.
Bởi vậy cơ cấu xuất nhập khẩu đợc xem nh là tất yếu khách quan của mọi nền
kinh tế. Theo tiến trình chung có tính quy luật mà mỗi nớc phải trải qua trong
quá trình chuyển đổi loại cơ cấu này là đi từ nhập khẩu chiếm tỷ trọng cao,
tiếp theo sản xuất thay thế nhập khẩu, cuối cùng là phát triển nền kinh tế theo
định lợng xuất khẩu, tỷ lệ xuất khẩu chiếm tỷ trọng cao.
2.5.Cơ cấu công nghệ sản xuất:
Phản ánh số lợng và tỷ lệ các loại cộng nghệ đang và sẽ sử dụng trong nền

sống kinh tế.Cơ cấu xã hội và kinh tế là cơ sở cho những nhân tố quyết định
phúc lợi vật chất của nhân dân.
Việc hình thành cơ cấu kinh tế đợc diễn ra theo hai quá trình tự phát và có kế
hoạch. Ngày nay để đợc thực hiện đợc mục tiêu tổng quát trong phát triển kinh
tế, chính phủ các nớc chủ động xác định cơ cấu kinh tế trong chiến lớc phát
triển của mình, giải quyết vấn đề cơ cấu kinh tế luôn là trọng tâm của việc
hoạch định kế hoạch phát triển kinh tế các nớc.
4. Các nhân tố ảnh h ởng đến cơ cấu kinh tế
Xác định và thực hiện các phơng hớng và biện pháp nhằm thực hiện
chuyển dịch cơ cấu ngành cơ cấu kinh tế là nhiệm vụ quan trọng của quản lý
nhà nớc về kinh tế. Để thực hiện nhiệm vụ này cần phải nghiên cứu và phân
tích kỹ các nhân tố khách quan và chủ quan có ảnh hởng đến quá trình chuyển
dịch cơ cấu ngành cơ cấu kinh tế.
4.1Nhóm các nhân tố khách quan
Nhóm các nhân tố tự nhiên: tài nguyên thiên nhiên( khoáng sản, hải sản, lâm
sản, nguồn nớc .. .) và các điều kiện tự nhiên( khí hậu, thời tiết, bờ biển ...)
phong phú và thuận lợi tạo điều kiện phát triển các ngành công nghiệp du lịch,
5
ng nghiệp và nông nghiệp...Chính Các Mác đã viết: Bất cứ một nền sản xuất
xã hội nào cũng là việc con ngời chiếm hữu lấy những đối tợng tự nhiên trong
phạm vi một hình thái xã hội nhất định. Tuy vậy, việc khai thác các yếu tố
này phục vụ phát triển và chuyển dịch cơ cấu kinh tế còn phụ thuộc vào nhiều
yếu tố chủ quan và khách quan. Thông thờng ở mỗi giai đoạn phát triển, ngời
ta tập trung khai thác tài nguyên có lợi thế, trữ lợng lớn, giá trị kinh tế cao,
nhu cầu thị trờng lớn và ổn định... Nh vậy sự đa dạng và phong phú của tài
nguyên thiên nhiên và các điều kiện tự nhiên có ảnh hởng đến quá trình hình
thành và chuyển dịch cơ cấu kinh tế, là nhân tố phải tính đến trong quá trình
hoạch định chiến lợc cơ cấu.
Nhóm các nhân tố kinh tế xã hội:
Dân số và lao động đợc xem là nguồn lực quan trọng cho phát triển kinh tế. Sự

dịch cơ cấu kinh tế. Trong cơ chế thị trờng có sự quản lý của Nhà nớc, Nhà n-
ớc tạo điều kiện phát triển đồng bộ, điều tiết các loại thị trờng và tạo môi tr-
ờng, điều kiện cho thị trờng và các hoạt động sản xuất kinh doanh thông
qua các chính sách vĩ mô. Hình thành và chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hớng
nào là phụ thuộc vào chiến lợc và các định hớng phát triển của Nhà nớc trong
từng thời kỳ có tính đến các yếu tố trong bối cảnh mở cửa và hội nhập quốc tế.
- Tiến bộ khoa học - công nghệ không những chỉ tạo ra những khả
năng sản xuất mới, đẩy nhanh tốc độ phát triển một số ngành làm
tăng tỷ trọng của chúng trong tổng thể nền kinh tế (làm chuyển dịch
cơ cấu kinh tế) mà còn tạo ra những nhu cầu mới, đòi hỏi sự xuất
hiện một số ngành công nghiệp non trẻ công nghệ tiên tiến nh: dầu
khí, điện tử... do đó có triển vọng phát triển mạnh mẽ trong tơng lai.
Trong điều kiện mở cửa và hội nhập, tiến bộ khoa học công nghệ cho
phép tạo ra các sản phẩm mới chất lợng cao , chi phí kinh doanh hạ, do đó co
sức cạnh tranh trên thị trờng trong nớc và quốc tế. Kết quả làm cho chuyển
dịch cơ cấu kinh tế nói chung theo hớng xuất khẩu, thay thế nhập khẩu và hội
nhập vào đời sống kinh tế khu vực và thế giới. Khoa hoạc và công nghệ phụ
thuộc 2 yếu tố:
Thứ nhất, chính sách khoa học- công nghệ của Đảng và Nhà nớc.
Thứ hai, sự yếu kém của hệ thống kỹ thuật công nghệ đang sử dụng
trong các ngành kinh tế quốcdân và khả năng hạn hẹp về vốn đầu t cho đổi
mới kỹ thuật công nghệ.
- Nhóm các nhân tố bên ngoài nh quan hệ kinh tế đối ngoại và hợp tác
phân công lao động quốc tế. Do sự khác nhau về điều kiện sản xuất
ở trong nớc, đòi hỏi phải có sự trao đổi kết quả lao động với bên
ngoài ở mức độ và phạm vi khác nhau. Trong trao đổi quốc tế mỗi n-
ớc đều phát huy lợi thế so sánh của mình trên cơ sở chuyên môn hoá
vào các ngành, lĩnh vực có chi phí tơng đối thấp. Chính chuyên môn
hoá đã thúc đẩy quá trình phân công lao động xã hội phát triển và
kết quả là làm biến đổi cơ cấu kinh tế. Đối với một tỉnh, cơ cấu kinh

đờng lối xây dựng kinh tế. Nói cách khác, quan điểm, đờng lối chính trị nào sẽ
có môi trờng thể chế đó, đến lợt nó, môi trờng thể chế lại ớc định các hớng
chuyển dịch cơ cấu ngàn kinh tế nó chung cũng nh cơ cấu nội bộ từng ngành,
từng vùng và từng thành phần kinh tế. Môi trờng thể chế là biểu hiện cụ thể
của những quan điểm, ý tởng, hành vi của Nhà nớc can thiệp và định hớng
phát triển tổng thể, cũng nh sự phát triển các bộ phạn cấu thành của nền kinh
tế. Trong việc chuyển dịch cơ cấu ngành kinh tế ( dù là chuyển dịch theo h-
ớng nào) thì Nhà nớc đóng vai trò quyết định. Vai trò đó thể hiện tập trung ở:
Thứ nhất, Nhà nớc xây dựng và quyết định chiến lợc và kế hoạch kinh
tế xã hội nhằm thực hiện các mục tiêu kinh tế xã hội tổng thể của đất n-
8
ớc. Đó thực chất là các định hớng phát triển, định hớng phân bổ nguồn lực đầu
t cũng theo ngành và theo vùng lãnh thổ.
Thứ hai, bằng hệ thống pháp luật, chính sách... Nhà nớc khuyến khích
hay hạn chế, thậm chí gây áp lực để các doanh nghiệp, nhà đầu t phát triển sản
xuất kinh doanh theo định hớng Nhà nớc đã xác định.
Nh vậy sự đồng bộ và tính ổn định của môi trờng thể chế có ý nghĩa
quantọng đối với quá trình hình thành và chuyển dịch cơ cấu ngành, cơ cấu
thành phần kinh tế và cơ cấu lãnh thổ của nền kinh tế.
II. Sự cần thiết phải chuyển dịch cơ cấu kinh tế
1. Chuyển dịch cơ cấu kinh tế
Cơ cấu kinh tế luôn thay đổi theo từng thời kỳ phát triển bởi các yếu tố
hợp thành cơ cấu kinh tế không cố định. Đó là sự thay đổi về số lợng các
ngành hoặc sự thay đổi về quan hệ tỷ lệ giữa các ngành, các vùng, các thành
phần do sự xuất hiện hoặc biến mất của một số ngành và tốc độ tăng trởng
giữa các yếu tố cấu thành cơ cấu kinh tế không đồng đều. Sự thay đổi của cơ
cấu kinh tế từ trạng thái này sang trạng thái khác cho phù hợp với môi trờng
phát triến gọi là sự chuyển dịch cơ cấu kinh tế. Đây không phải đơn thuần là
sự thay đổi vị trí, mà là sự biến đổi cả về chất và lợng trong nội bộ cơ cấu.
Việc chuyển dịch cơ cấu kinh tế phải dựa trên nền tảng cơ sở một cơ cấu hiện

tiêu dùng và doanh nghiệp để xác định sản lợng và giá cả, thông qua giá cả thị
trờng thực hiện chức năng phân phối nguồn lực vào các ngành, các lĩnh vực,
bộ phận cảu nền kinh tế.
- Nhà nớc với t cách là chủ thể kinh tế, can thiệp vào nền kinh tế thông
qua pháp luật, kế hoạch, chính sách và các đòn bẩy kinh tế nhằm đạt đợc mục
tiêu đã xác định trớc.
Cơ cấu kinh tế đợc hình thành từ hai động lực tác động đó tất yếu là một
cơ cấu có định hớng, hợp lý và hiệu quả. Cơ cấu kinh tế hợp lý không chỉ biểu
hiện về mặt số lợng mà quan trọng hơn là mối quan hệ giữa các bô phận cấu
thành nền kinh tế.Tính hợp lý của một cơ cấu kinh tế chính là sự hài hoà, ăn
khớp giữa các bộ phận cấu thành, cho phép sử dụng hiệu quả nhất các nguồn
lực xã hội trong từng giai đoạn cụ thể. Quá trình hình thnàh cơ cấu hợp lý chịu
sự chi phối của các xu hớng có tính quy luật phổ biến sau đây:
Trong điều kiện khoa học công nghệ phát triển, cùng với xu hớng quốc
tế hoá đời sống kinh tế, cơ cấu kinh tế các nớc có thể và cần phải chuyển dịch
theo hớng công nghiệp hoá đời sống kinh tế, cơ cấu kinh tế các nớc có thể và
cần phải chuyển dịch theo hớng công nghiệp hoá, hiện đại hoá.
Tỷ trọng các ngành công nghiệp và dịch vụ trong GDP tăng lên nhanh
chóng, còn tỷ trọng ngành nông nghiệp giảm xuống mặc dù số lợng tuyệt đối
vẫn tănglên không ngừng.
Trong nội bộ ngành công nghiệp, tỷ trọng các ngành công nghiệp chế
biến tăng lên, cơ cấu sản xuất thay đổi theo hớng chuyển từ ngành sản xuất
các sản phẩm chứa hàm lợng lao động cao sang sản xuất sản phẩm chứa hàm
lợng cao về vón và khoa học công nghệ.
Trong nội bộ ngành nông nghiệp và kinh tế nông thôn, tỷ trọng của khu
vực công nghiệp và dịch vụ nông thôn trong giá trị sản lợng tăng lên và tỷ
trọng ngành nông nghiệp thuần tuý giảm xuống. Trong nội bộ nông nghiệp tỷ
trọng giá trị ngành chăn nuôi sẽ tăng lên và tỷ trọng giá trị sản lợng ngành
trồng trọt giảm xuống tơng ứng.
10

nền kinh tế.
III. Một số lý luận cơ bản về chuyển dịch cơ cấu ngành kinh tế
1. Một số mô hình lý thuyết chuyển dịch cơ cấu ngành kinh tế
Vấn đề chuyển dịch cơ cấu ngành kinh tế trong thời kỳ công nghiệp hoá,
hiện đại hoá đã đợc các trờng phái thuyết kinh tế đề cập từ nhiều góc độ tiếp
cận khác nhau. Vì vậy, trớc hết cần điểm qua những quan điểm cơ bản nhất
của các trờng phái kinh tế. Ba trờng phái lớn là: kinh tế học Macxit, kinh tế
học thuộc trào lu chính và kinh tế học phát triển.
1.1.Kinh tế học Macxit
11
Trong kinh tế học Macxit, vấn đề chuyển dịch cơ cấu ngành kinh tế đợc
trình bầy tập trung trong hai học thuyết: học thuyết phân công lao động xã
hội và học thuyết tái sản xuất t bản xã hội.
Trong học thuyết về phân công lao động xã hội, kinh tế học Macxit
không những chỉ rõ những điều kiện tiền đề cần thiết mà còn vạch ra khuôn
khổ, thể chế quyết định sự thay đổi về chất của cuộc cách mạng công nghiệp -
cơ sở vật chất của phơng thức sản xuất TBCN hiện đại. Những tiền đề ấy là:
+Sự tách rời giữa thành thị và nông thôn.
+Số lợng dân cơ và mật độ dân số.
Năng xuất lao động trong nông nghiệp đợc nâng cao, đủ đểcung cấp sản
phẩm tất yếu cho cả những ngời lao động trong nông nghiệp lẫn những ngời
lao động thuộc những ngành sản xuất khác.
Điều kiện thể chế có ý nghĩa quyết định cuộc cách mạng công nghiệp
trong TBCN là sản xuất hàng hoá, là kinh tế thị trờng.
Từ tiền đề trên có thể suy ra rằng, việc thúc đẩy quá trình công nghiệp
hoá nói chung và chuyển dịch cơ cấu nói riêng không thể có kết quả nếu
không tới độ chín muồi của những tiền đề này. Nó cũng hàm ý rằng trong điều
kiện cụ thể của mỗi nền kinh tế, độ chín muồi của mỗi loại tiền đề có thể
không giống nhau và con đờng để hoàn thiện hay thay thế những tiền đề nói
trên sẽ không giống nhau.

không đảm bảo đợc sự phát triển với hiệu quả kinh tế- xã hội mong muốn. Vì
thế, sự can thiệp của Nhà nớc thông qua các chính sách kinh tế vĩ mô trở thành
một trong những nội dung quan trọng trong phân tích lý thuyết của trờng phái
này.
Nh vậy, những phân tích về mặt lý thuyết của trờng phái kinh tế này đối
với vấn đề chuyển dịch cơ cấu kinh tế có ý nghĩa rất quan trọng. Cũng vì lẽ đó
mà hầu nh công cụ phân tích động thái tăng trởng và chuyển dịch cơ cấu của
trờng phái lý thuyết này đang đợc sử dụng trong các lý thuyết phát triển ( đối
tợng là các nền kinh tế phát triển ).
1.3.Các lý thuyết phát triển
Với t cách là lý thuyết chủ yếu nghiên cứu các con đờng hay các mô hình phát
triển kinh tế của các nớc chậm phát triển hiện đang nỗ lự tiến hành công
nghiệp hoá, các lý thuyết phát triển trực tiếp hoặc gián tiếp đều bàn tớ một nội
dung cơ bản nhất của công nghiệp hoá là chuyển dịch cơ cấu ngành. Song, do
bản thân thế giới châm phát triển bao gồm nhiều quốc gia với những đặc điểm
đặc thù khác nhau, do xuất phát từ các quan điểm và các góc độ nghiên cứu
khác nhau nên cách giải quyết vấn đề chuyển dịch cơ cấu ngành của các lý
thuyết phát triển cũng rất khác nhau. Có thể tháy điều này qua một số lý
thuyết phát triển chủ yếu sau:
1.3.1. Lý thuyết phân kỳ phát triển kinh tế
T tởng cơ bản của ngời chủ xớng lý thuyết này- Walt Rostow- cho rằng,
quá trình phát triển kinh tế của bất kỳ quốc gia nào cũng đều trải qua 5 giai
đoạn tuần tự nh sau:
Giai đoạn 1: Xã hội truyền thống: với đặc trng là nông nghiệp giữ vai
trò thồng trị trong đời sống kinh tế, năng xuất lao động thấp và kém linh hoạt.
Giai đoạn 2: Giai đoạn chuẩn bị cất cánh: với những thay đổi quan trọng
là trông xã hội đã xuát hiện tầng lớp chủ xí nghiệp có khả năng đổi mới kết
cấu hạ tầng sản xuất, nhất là giao thông đã phát triển. Bắt đầu hình thành
13
những khu vực đầu tàu ( leading sectors) có tác động lôi kéo nền kinh tế phát

các nền kinh tế này có hai khu vực kinh tế song song tồn tại: khu vực kinh tế
truyền thống, chủ yếu sản xuất nông nghiệp và khu vực kinh tế công nghiệp
hiện đại- du nhập từ bên ngoài. Khu vực truyền thống có đặc điểm là trì trệ,
năng xuất lao động thấp và d thừa lao động. Vì thế có thể chuyển một phần lao
động từ khu vực này sang công nghiệp hiện đại mà không làm ảnh hởng tơí
sản lợng nông nghiệp. Do có năng xuất cao nên khu vực công nghiệp hiện đại
có thể tự tích luỹ để mở rộng sản xuất một cách độc lập mà không phụ thuộc
vào điều kiện chung của toàn bộ nền kinh tế.
14
Kết luận đơng nhiên rút ra từ những nhận định này là thúc đẩy sự phát
triển kinh tế của những nớc chậm phát triển, cần phải bằng mọi cách mở rộng
khu vực sản xuất công nghiệp hiện đại càng nhanh càng tốt mà không cần
quan tâm tới khu vực truyền thống. Sự gia tăng của khu vực công nghiệp hiện
đại tự nó sẽ rút dần lao động từ khu vực nông nghiệp sang và biến nền sản xuất
xã hội từ trạng thái nhị nguyên thành một nền kinh tế công nghiệp phát triển.
Phải nói rằng, những kết luận của lý thuyết nhị nguyên đã gây đợc ấn t-
ợng mạnh mẽ đối với các quốc gia chậm phát triển đang muốn đẩy nhanh quá
trình công nghiệp hoá. Trên thực tế các chính sách công nghiệp hoá và cơ cấu
kinh tế ở các quốc gia chậm phát triển từ sau chiến tranh thế giới thứ II đến
thời gian gần đây đã ít nhiều chịu ảnh hởng của lý thuyết này.
Lý thuyết kinh tế nhịn nguyên còn đợc nhiều nhà kinh tế ( J.Fei, G.
Ranis, Harris, Tadora,..) tiếp tục nghiên cứu và phân tích. Luận điểm xuất phát
của họ là khả năng phát triển và thu nạp lao động của khu vực công nghiệp
hiện đại. Khu vực này có nhiều khả năng lựa chọn kỹ thuật, trong đó có những
loịa kỹ thuật có hệ số sử dụng lao động cao, nên về nguyên tắc, có thể thu hút
lao đông d thừa từ khu vực nông nghiệp truyền thống. Nhng việc di chuyển lao
động đợc giả định là chênh lệch về mức thu nhập của lao động của hai khu vực
kinh tế trên quyết định. Có nghĩa là, khu vực công nghiệp hiện đại chỉ có thể
thu hút đợc lao động từ khu vực nông nghiệp trong treờng hợp đang có nạn
nhân mãn, khi có mức lơng cao hơn mức thu nhập khi họ còn ở nông thôn. nh-

thôn có trình độ học vấn thấp hơn nhiều so với lao động thành thị và thậm trí
cha quen với môi trờng lao động công nghiệp. Việc đào tạo lại lao động công
nghiệp kỹ thuật cao chẳng những đòi hỏi nhiều thời gian mà còn có vốn đầu t
lớn, đến mức ngời ta xem nh một trong những lĩnh vực đầu t quan trọng nhất
đối với nền kinh tế. Với những phân tích trên, ngời ta thấy rằng sá suất tìm đợc
việc làm mới ở khu vực công nghiệp đối với ngời nông dân rời bỏ ruộng đồng
là có giới hạn.
Tóm lại khi phân tích sự chuyển dịch cơ cấu kinh tế của hai lĩnh vực sản
xuất vật chất quan trọng nhất của nền kinh tế chậm phát triển trong thời kỳ
công nghiệp hoá, các ký thuyết nhị nguyên đi từ chỗ cho rằng chỉ cần tập
chung vào phát triển sản xuất công nghiệp mà không cần chú ý đến nông
nghiệp đến chỗ chỉ ra những giới hạn của chúng và vì thế, cần quan tâm thích
đáng tới nông nghiệp trong quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế này.
1.3.3 Lý thuyết phát triển cân đối liên ngành
Những ngời ủng hộ quan điểm này nh R. Nurkse, P. Rosenstein-,
Rodan...cho rằng để nhanh chóng công nghiệp hoá, cần thúc đẩy sự phát triển
đồng đều ở tất cả mọi ngành kinh tế quốc dân. Họ chủ yếu dựa vào những luận
cứ sau:
Trong quá trình phát triển, tất cả các ngành kinh tế liên quan mật thiết với
nhau trong chu trình đầu ra của ngành này là đầu vào của ngành kia. Vì
thế, sự phát triển đồng đều và cân đối chính là đòi hỏi sự cân bằng cung cầu
trong sản xuất.
Sự phát triển cân đối giữa các ngành nh vậy còn giúp tránh đớc ảnh hởng tiêu
cực của những biến động của thị trờng thế giới và hạn chế mức độ phụ thuộc
vào các nền kinh tế khác, tiết kiệm nguồn ngoại tệ vốn rất khan hiếm và thiếu
hụt.
Một nền kinh tế dựa trên cơ cấu cân đối hoàn chỉnh nh vậy chính là nền tảng
vững chắc đảm bảo sự độc lập chính trị của các nớc thuộc thê giới thứ ba
chống lại chủ nghĩa thực dân.
16

động lực khuyến khích đầu t ,nâng cao năng lực sản xuất .do đó nếu có những
dự án đầu t lớn hơn vào một số lĩnh vực thì áp lực đầu t sẽ xuất hiện bởi câu
lớn hơn cung lúc đầu và sau đó thì cung lớn hơn cầu ở một số lĩng vực .Chính
những dự án đó có tác dụng lôi kéo đầu t rtheo kiểu lí thuyết số nhân .
Trong mổi giai đoạn phát triển của thời kỳ công nghiệp hoá ,vai trò cực tăng
trởng của các ngành trong nền kinh tế là không giống nhau .Vì thế ,cần tập
trung những nguồn lực khan hiếm cho một số lĩnh vực trong thời điểm nhất
định.
17
Lúc đầu,lý thuyết này tỏ ra không hấp dẫn lắm vì dờng nh nó bỏ qua những nỗ
lực xây dựng một nền kinh tế độc lập có cơ cấu ngành cân đối để chống lại
chủ nghĩa thực dân. Mặt khác, đằng sau cách đặt vấn đề xây dựng một cơ cấu
không cân đối và mở cửa ra bên ngoài là chấp nhận sự phụ thuộc lẫn nhau giữa
các nền kinh tế- mà thờng thì các nền kinh tế chậm phát triển gặp phải nhiều
bất lợi. Song, do những hạn chế ngày càng trở nên rõ ràng của ý tởng thực hiện
mô hình công nghiệp hoá hớng nội có cơ cấu ngành hoàn chỉnh và những
thành công thần kỳ của những nớc tiên phong, điển hình là nhóm NICs
Đông á, lý thuyết phát triển cơ cấu ngành không cân đối hay các cực tăng tr-
ởng ngày càng đợc thừa nhận rộng rãi. Trên thực tê, mô hình công nghiệp mở
cửa, hớng ngoại đã trở thành một xu hớng chính yếu ở các nớc chậm phát triển
từ thập niên 1980 trở lại đậy.
1.3.5.Lý thuyết phát triển theo mô hình Đàn nhạn bay
Từ sự phân tích thực tế lịch sử phát triển kinh tế của các quốc gia và dựa trênlý
thuyết lợi thế so sánh trong quan hệ kinh tế quốc tế, ngời khởi xớng lý thuyết
này, giáo s Kaname Akamatsu đã đa ra những kiến giải về quá trình đuổi
kịp các nớc tiên tiến nhất của các nớc kếm phát triển hơn. trong số những ý t-
ởng về sự đuổi kịp này, vấn đề cơ cấu ngành có ý nghĩa đặc biệt quan trọng.
Xét trên góc độ toàn bộ ngành công nghiệp, từng phân ngành hay thậm trí
từng ngàh riêng biệt, quá trình đuổi kịp về mặt kinh tế và kỹ thuật của chúng
đợc chia thành 4 giai đoạn sau:

đầu phát triển ở giai đoạn 3. Về mặt kỹ thuật, nền công nghiệp đã đạt mức
ngang bằng với các nớc công nghiệp phát triển và chuyển giao một sốngành
sản xuất công nghiệp hàng tiêu dùng sang các nớc kém phát triển hơn.
Mô hình đàn nhạn bay vẫn tiếp tục diễn ra theo phơng thức này, mặc dù có
sự thay đổi vị trí đối với một số quốc gia nhất định.
Nh vậy, với việc phân chia quá trình công nghiệp hoá của các nớc đi sau
thành 4 giai đoạn trong mối liên quan với các nền kinh tế khác theo mô hình
đàn nhạn bay, quan điểm chuyển dịch cơ cấu ngành của lý thuyếtphát triển
này có nhiều điểm tơng đồng với lý thuyết phát triển cơ cấu ngành không
cân đối hay cực tăng trởng ở đây cũng thay đổi theo từng giai đoạn và
nhân tố có ý nghĩa quyết định sự thay đổi này là lợi thế so sánh trong quan hệ
ngoại thơng.
Trên phơng diện lý luận, qua các trờng phái ly thuyết kinh tế chủ yếu trên đây
cho thấy nó đợc đề cập từ nhiều góc độ và nhieèu cách tiếp cận khác nhau.
Kinh tế học Mac xit quan tâm trớc hết đến quy luật hình thành và xu hớng vận
động chung của các ngành sản xuất vật chất thông qua cách phân tích dựa trên
phơng pháp trừu tợng hoá. Kinh tế học thuộc trào lu chính đề cập đến các hình
thái vận động của các ngành kinh tế trên nền tảng của kinh tế thị trờng hiện
đại trong mối quan hệ tơng tác giữa các lực lợng thị trờng và Nhà nớc. Kinh tế
học của sự phát triển chủ yếu hớng vào tình hình cụ thể của các nớc chậm phát
triển, đang tiến hành công nghiệp hoá để khảo cứu và coi vấn đề chuyển dịch
cơ cấu ngành là một trong những nội dung cơ bản của sự phát triển.
Do đứng từ những góc độ khác nhau và từ nhiều cách tiếp cân khác nhau mà
giữa các trờng phái lý thuyết này đã có nhiều kiểu quan hệ khác nhau đối với
vấn đề cơ cấu ngành kinh tế. Đó là cách thức phân chia các ngành của nền
kinh tế quốc dân, là tiêu trí đánh giá vai trò của mỗi ngành trong quá trình vận
động của toàn bộ nền kinh tế nói chung, là các khía cạnh đợc nhấn mạnh
không giống nhau trong các kết luận rút ra. Bởi vậy mà mỗi lý thuyết kể trên
mặc nhiên đợc thừa nhận là có những mảnh đất hoạt động riêng rẽ và tồn tại
19

một ngành duy nhất .Nó khẳng định đầu t là yếu tố quan trọng quyết định phát
triển Nó cũng có khăng ứng phó linh hoạt với những biến động bất thờng và dễ
hoà nhập với quốc tế .Thực vậy, chẳng hạn một nớc tìm cách phát triển mà lấy
nông nghiệp làm ngành chủ đạo , nớc đó phải thực hiện chính sác sản xuất sao
cho xuất khẩu nông sản phải có một thu nhập đủ để đáp ứng nhu cầu trong nớc
ngày càng tăng về sản phẩm chế biến thông qua nhập khẩu .Trong một điều
kiện là hệ số co giãn của nhu cầu trên thế giới về hàng nông sản là rất thấp ,vì
vậy con đờng phát triển sẽ gặp nhiều khó khăn .Mặt khác ngành công nghiệp
còn là ngành có u thế hơn trong việc tạo ra tiến bộ kỹ thuật ,tận dụng những
20
đặc trng của nền sản xuất hiện đại ,khuyến khích tăng trởng trong các khu vực
khác của nền kinh tế thông qua việc mua sắm cá yếu tố đầu vào ,sản xuất đàu
ra là các thành phẩm và t liệu sản xuất
Tuy nhiên s phát triển lành mạnh của ngành nông nghiệp và khai
khoáng có ý nghĩa sống còn đối với thành công của tiến trình công nghiệp hoá
.Chúng không những cung cấp phần lớn nguyên liệu cho nhành công nghiệp
chế biến ,mà còn là nguồn vốn và lao động cho công nghiệp và là nguòn tạo ra
nhu cầu trong nớc về sản phẩm tiêu dùng của công nghiệp .Ngoài ra sự thành
công của hai ngành naỳ còn có nghĩa sống còn trong giai đoạn đầu củacong
nghiệp hoá.
Phát triển hệ thống tài chính ,tăng cờng các mối quan hệ nhằm khuyến
khích đạt tỉ lệ đầu t cao. Điều này đợc thể hiện ở các khía cạnh cụ thể sau:
Giảm đợc rủi ro và tạo ra đợc phần thởng tài chính, do đó có xu hớng
thu hút ngày càng tăng mức tổng tiết kiệm, tạo điều kiện tăng vốn đầu t cho
sản xuất, ngăn cản đợc tình trạng thất thoát vốn đầu t ra ngoài.
Thúc đẩy việc hình thành t bản bằng cách tăng cung về các nguồn lực
có thể đầu t đợc, thúc đẩy năng suất hiệu quả đầu t, tạo điều kiện cho đa dạng
hoá đầu t thông qua việc đa dạng hoá các công cụ tài chính; đáp ứng nhu cầu
của ngời tiết kiệm và các nhà đầu t về mức độ rủi ro và lợi nhuận.
Gây áp lực để buộc các nhà đầu t phải sử dụng các nguồn lực nhằm thu

triển bền vững Nhà nớc cần chú trọng phát triển các vấn đề là:
. Xây dựng một nền móng cho hệ thống pháp luật hoàn chỉnh.
. Duy trì một môi trờng chính sách ôn hoà và ổn định.
. Đầu t vào dân chúng và cơ sở hạ tầng.
. Thực thi các chính sách hỗ trợ xã hội
Xây dựng một thể chế cho một khu vực Nhà nớc có năng lực
Kiềm chế hành động độc đoán chuyên quyền của Nhà nớc và nạn tham
nhũng.
Đa Nhà nớc tới gần dân hơn.
Tạo điều kiện dễ dàng cho các hoạt động tập thể quốc tế.
Chiến lợc của chính sách điều chỉnh:
. Sự lựa chọn chính sách giữa đóng cửa và mở cửa nền kinh tế là một
quyết định có nhiều tác đọng quan trọng đến nhiều mặt của đời sống kinh tế.
Nó sẽ tạo ra sự khác biệt lớn đối với chính quá trình chuyển đổi cơ cấu tới việc
phân bố sản xuất giữa các mặt hàng trao đổi đợc và không trao đổi đợc, giữa
các mặt hàng trao đổi đợc xuất khẩu và nhập khẩu, tới cờng độ sử dụng nguồn
lực...
. Môi trờng và chính sách. Việc lựa chon và quyết định chính sách chiến
lợc và tạm thời theo từng giai đoạn của Nhà nớc có một tầm quan trọng trong
quá trình phát triển kinh tế- xã hội. Nó cho phép các nguồn lực và hình thức
sản xuất đợc hình thành trên cơ sở các tiêu chuẩn quốc tế về hiệu quả cạnh
tranh, vì điều này cũng gần nh là quyết định cho phép các nguồn lực đợc phân
bổ thông qua các tín hiệu thị trờng. Ngoài ra, môi trờng, chính sách cũng quan
trọng đối với những mặt khác nh khả năng duy trì sự ổn định hợp lý về kinh tế
vĩ mô của Chính phủ, tránh tình trạng lạm phát nhanh, thất nghiệp với quy mô
lớn do giảm phát và thâm hụt lớn về cán cân thanh toán...Nó cũng tạo ra sự
bền vững và khả năng dự báo tác dụng của những khuyến khích góp phần thúc
đẩy đầu t dài hạn và phản ửng của giá cả, những yếu tố rất quan trọng có khả
năng thích ứng với nền kinh tế.
2.2.Chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo mô hình hớng ngoại

quyết định hớng ngoại cho dù ở mức độ nào thì nó cũng có nhiều tác đọng
quan trọng đến các mặt của đời sống kinh tế. Nó sẽ ảnh hởng tới việc phan bố
sản xuất giữa các mặt hàng trao đổi đợc xuất và nhập khẩu: đối vơi cờng độ sử
dụng nguồn lực và tới sự phân phối thu nhập thông qua nhngx tác động đối với
thị trờng nhân tố sản xuất và thị trờng sản phẩm, tới cơ cấu và tốc độ công
nghiệp hoá, tới việc phân bố đất đai và các nguồn lực khác, giữa cây lơng thực
và cây phục vụ xuất khẩu...
Ưu điểm của sự mở cửa là nó thúc đẩy quá trình đổi mới và tăng năng
suất lao động nhanh, tạo ra khả năng thích nghi nền kinh tế, tác động tốt đến
quá trình phát triển dài hạn, có tác động tốt đối với sự tăng trởng GDP.
23
Tuy nhiên chiến lợc kinh tế mở cửa sẽ mang lại cho Chính phủ nớc đó ít
có khả năng hoạt động theo ý mình hơn: có tác đọng xấu với công nghệ trong
nớc do phải dựa vào t liệu sản xuất và công nghệ nhập khẩu, đặc biệt đối với
các nớc nhỏ có thu nhập thấp mà nền kinh tế của họ ở vào vị trí không thuận
lợi. Việc thực hiện chính sách thuế nhập khẩu thấp ở giai đoạn đầu có thể đem
lại ảnh hởng xấu là tăng giá cả tiêu dùng và một số ngành sản xuất thay thế
nhập khẩu. Ngoài ra, khi các điều kiện quốc tế trở nên không thuận lợi thì rủi
ro có thể xảy ra, đem lại không ít hậu quả xấu cho nền kinh tế- xã hội trong n-
ớc.
2.3.Chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo mô hình hớng nội
Với mục tiêu là phát huy tính năng động của Chính phủ trong quản lý
kinh tế, đảm bảo và duy trì sự phát triển của ngành sản xuất truyền thống của
dân tộc, nhiều nớc trên thế giới đã thực hiện chính sách chuyển dịch cơ cấu
kinh tế theo mô hình hớng nội.
Mô hình hớng nội là chính sách chuyển dịch cơ cấu kinh tế có xu hớng h-
ớng nội, có chiến lợc đóng cửa nhiều hơn. nó khuyến khích theo hớng sản xuất
cho thị trờng trong nớc, nhấn mạnh việc thay thế nhập khẩu tự lực về lơng thực
và có thể có cả các mặt hàng phi mậu dịch.
Ban đầu Chính phủ các nớc đang phát triển nhiều khi cũng lựa chọn các

Phía Bắc giáp tỉnh Hà Nam.
Phía Bắc giáp tỉnh Thái Bình.
Phía Đông giáp biển Đông.
Phía Tây giáp tỉnh Ninh Bình.
Nam Định có mạng lới giao thông với đờng sắt Bắc Nam đi qua dài 45
km. Tổng chiều dài đờng bộ các loại là 3973 km, mật độ 2,37km/km
2
. Trong
những năm qua với chơng trình nâng cấp cải tạo đờng giao thông của tỉnh,
chất lợng các tuyến đờng đợc nâng lên, việc đi lại, vận chuyển thuận lợi. Chiều
dài đờng sông của 4 tuyến sông lớn là 217 km trong đó: sông Hồng 60km,
sông Đào 30km, sông Đáy 70km, sông Ninh Cơ 57km. Bốn cửa sông lớn
thuộc hệ thống sông Hồng chảy ra biển ( cửa Ba Lạt, cửa Hà Lạn, cửa Ninh
Cơ, cửa Đáy). Nam Định là cửa ngõ của thủ đô Hà Nội đi bằng đờng sông đi
từ biển vào. Vùng ven biển và biển có cảng Hải Thịnh với công suất 30 vạn tấn
đã và đang xây dựng, tơng lai sẽ lên 70 vạn tấn, sẽ là điều kiện để giao lu với
các tỉnh bạn và quốc tế đợc dễ dàng.
25


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status