Hoàn thiện việc sử dụng công cụ thuế trong quản lý nhà nước đối với doanh nghiệp công nghiệp ngoài quốc doanh ở việt nam - Pdf 11

mở đầu
1. Tính cấp thiết của đề tài
Thuế là một công cụ quan trọng trong quản lý nhà nớc đối với các
doanh nghiệp nói chung; doanh nghiệp ngoài quốc doanh nói riên trong cơ
chế thị trờng. Thuế có tác động đến doanh nghiệp ngoài quốc doanh theo hai
khía cạnh: thúc đẩy hoặc kìm hãm phát triển. Vì vậy, Nhà nớc đã ban hành và
sủa đổi nhiều luật thuế với mục tiêu khuyến khích thành phần kinh tế này phát
triển. Tuy nhiên, việc sử dụng công cụ thuế trong quản lý nhà nớc đối với
doanh nghiệp ngoài quốc doanh có hiện trạng sau:
- Thuế chồng chéo làm cho giá cả sản phẩm còn cao.
- Tình trạng thất thu thuế cho ngân sách còn lớn.
- Tình trạng trốn thuế, gian lận thuế còn diễn ra phổ biến.
Ngoài ra, thuế không chỉ là vấn đề vĩ mô mà còn là những vấn đề vi
mô rất nhạy cảm. Thuế luôn là vấn đề đợc Nhà nớc; các nhà kinh doanh, nhà
đầu t và ngời dân quan tâm. Việc sử dụng công cụ thuế là chức năng và nhiệm
vụ của Nhà nớc nhng lại rất cần có sự đồng tình ủng hộ của mọi tầng lớp nhân
dân trong xã hội. Chính vì vậy, việc nghiên cứu và hoàn thiện hệ thống sử
dụng công cụ thuế là hoàn toàn cần thiết.
Xuất phát từ những đòi hỏi đó, em lựa chọn đề tài: "Hoàn thiện việc
sử dụng công cụ thuế trong quản lý nhà nớc đối với doanh nghiệp công
nghiệp ngoài quốc doanh ở Việt Nam" làm luận văn Thạc sỹ của mình.
2. Mục đích nghiên cứu của luận văn
- Khái quát lý luận việc sử dụng công cụ thuế trong quản lý nhà nớc
đối với doanh nghiệp ngoài quốc doanh.
- Phân tích thực trạng và đề xuất việc hoàn thiện việc sử dụng công cụ
thuế trong quản lý nhà nớc đối với DN công nghiệp ngoài quốc doanh.
1
3. Đối tợng và phạm vi nghiên cứu
Đối tợng nghiên cứu: là hệ thống thuế đối với DNCNNQD.
Doanh nghiệp công nghiệp ngoài quốc doanh đợc đề cập ở đây là
những doanh nghiệp hoạt động trong ngành sản xuất kinh doanh công nghiệp

1.1. Quản lý nhà nớc đối với doanh nghiệp công nghiệp ngoài
quốc doanh
1.1.1. Doanh nghiệp công nghiệp ngoài quốc doanh.
"Doanh nghiệp là tổ chức kinh tế có tên riêng, có tài sản, có trụ sở
giao dịch ổn định, đợc đăng ký kinh doanh theo quy định của pháp luật nhằm
mục đích thực hiện các hoạt động kinh doanh" [31].
Doanh nghiệp công nghiệp là những doanh nghiệp thực hiện các hoạt
động sản xuất-kinh doanh theo phơng pháp công nghiệp để sản xuất ra hàng
hóa dịch vụ nhằm thỏa mãn nhu cầu của con ngời và xã hội. Nh vậy, nhiều sản
phẩm công nghiệp sẽ không phải chỉ do các doanh nghiệp sản xuất ra.
Tuy nhiên, tùy theo từng lĩnh vực và khía cạnh quản lý còn có những
khái niệm về doanh nghiệp sau đây:
- Dới giác độ quản lý, DN là một đơn vị kinh tế do Nhà nớc hoặc các
đoàn thể hoặc t nhân đầu t vốn nhằm mục đích chủ yếu là thực hiện các hoạt
động sản xuất kinh doanh hoặc hoạt động công ích góp phần thực hiện các mục
tiêu kinh tế-xã hội của đất nớc. Hiểu theo cách này thì các DN bao hàm cả
DNNN và DNNQD nhng không nhấn mạnh đến các DN có yếu tố nớc ngoài.
- Dới giác độ luật pháp, doanh nghiệp đợc hiểu là một tổ chức kinh tế
có tên, có tài sản, có trụ sở giao dịch ổn định, đã đăng ký kinh doanh theo
quy định của pháp luật nhằm thực hiện các hoạt động kinh doanh. Hiểu theo
cách này thì DN sẽ bao gồm toàn bộ các loại hình DN kể cả DN có vốn đầu t
nớc ngoài. Các hoạt động kinh doanh ở đây đợc hiểu là việc thực hiện một hoặc
3
một số công đoạn từ sản xuất đến tiêu thụ hoặc cung ứng dịch vụ trên thị trờng
nhằm mục đích kiếm lời. Tuy nhiên, cách khái quát này lại không nhấn mạnh
đến các doanh nghiệp công ích hoặc các DNQD chuyên hoạt động công ích.
Nh vậy, DN phải là một tổ chức tiến hành các hoạt động kinh doanh
để kiếm lời. Doanh nghiệp có thể có những hoạt động không sinh lời trong
những trờng hợp cụ thể nào đó nhng bản chất đợc thành lập ra là để kiếm lời.
Việc phân định giữa doanh nghiệp quốc doanh (DNNN) và DNNQD còn có

đích chính của sở hữu của Nhà nớc cũng là nhằm khống chế và sử dụng doanh
nghiệp để điều tiết. Cách hiểu này sẽ nảy sinh vấn đề khi phân định loại hình
doanh nghiệp trong hai trờng hợp sau:
Một là: Các doanh nghiệp trong đó Nhà nớc chiếm tỷ trọng vốn lớn
nhất với t cách là phân chia lợi nhuận đơn thuần và Nhà nớc không có mục
đích sử dụng doanh nghiệp đó nh là công cụ điều tiết.
Hai là: Các doanh nghiệp, trong đó các thành phần kinh tế khác có
chiếm phần sở hữu lớn hơn Nhà nớc nhng họ chỉ có mục đích thu lợi nhuận
đơn thuần nên Nhà nớc vẫn duy trì quyền kiểm soát và điều tiết.
Những tình huống đặc biệt làm nảy sinh ranh giới phân chia DNQD
và DNNQD không đơn thuần là tên gọi mà phải phân tích sâu xa hơn về bản
chất của những loại hình này. Hai trờng hợp trên thực chất là những tình
huống cụ thể. Trờng hợp thứ nhất, vẫn nên coi là DNQD vì xét theo giác độ
luật pháp thì Nhà nớc có quyền điều tiết DN này nhng có thể cha tiến hành
sử dụng làm công cụ điều tiết trong một giai đoạn nào đó. Trong trờng hợp
thứ hai thì ngợc lại, Nhà nớc chỉ tận dụng sở hữu vốn của mình tại DN đó để
tham gia điều tiết trong từng giai đoạn cụ thể. Về bản chất, thì sở hữu t nhân
lớn nhất vẫn có quyền phủ quyết mặc dù họ có thể cha sử dụng quyền hợp
pháp này. Vì vậy, tiêu chí phân định loại hình DNQD và DNNQD chính là
5
hình thức sở hữu vốn. Quyền kiểm soát sẽ là đặc trng cơ bản của DNQD nên
có thời điểm Nhà nớc sử dụng cũng có thời điểm Nhà nớc không sử dụng.
1.1.2. Đặc trng của doanh nghiệp công nghiệp ngoài quốc doanh
Trong công nghiệp, doanh nghiệp có nhiều loại hình khác nhau. Nếu
căn cứ vào hình thức sở hữu vốn, có doanh nghiệp công nghiệp quốc doanh
(Nay gọi là doanh nghiệp công nghiệp Nhà nớc - DNCNNN) và DNCNNQD.
DNCNNQD nh phân tích ở trên chủ yếu bao gồm các doanh nghiệp t nhân,
công ty TNHH, công ty cổ phần, liên doanh v.v
Nếu chia theo quy mô của DN, có ba loại DN là DN quy mô lớn, DN
quy mô vừa và DN quy mô nhỏ.

Sản phẩm
Hàng hóa cá nhân là chủ yếu Hàng hóa công cộng là chủ yếu
2
Đối tợng
phục vụ
- Ngời tiêu dùng cụ thể
- Thị trờng mục tiêu
- Nhiều đối tợng khác nhau
- Ngành, khu vực KT-XH
3
Mục tiêu
hoạt động
- Hiệu quả tài chính
- Lợi nhuận
- Mục tiêu "đơn": kinh doanh
- Phát triển kinh tế-xã hội
- Hiệu quả kinh tế-xã hội
- Hiệu quả tài chính và đóng
góp cho ngân sách
- Mục tiêu "kép" giữa xã hội và
kinh doanh
4
Ra quyết
định
- Trong phạm vi hẹp của ngời
quản lý
- Ràng buộc bởi luật pháp và
các nguyên tắc quản lý và triết
lý kinh doanh của công ty
- Nhiều ngời, nhiều cấp tham

với ngời lao động sau đó đến các chủ nợ và cuối cùng mới đến các chủ đầu t.
Trong khi đó, các DNCNQD sẽ u tiên thanh toán cho ngời lao động, các cổ
đông t nhân, các khoản vay t nhân sau đó đến các khoản vay tài chính Nhà n-
ớc và cuối cùng là Ngân sách Nhà nớc.
Những đặc trng cơ bản trên đây đã cho thấy DNCNNQD là DN kinh
doanh rất nhanh nhạy trong cơ chế thị trờng. Để quản lý tốt các DN này, đòi
hỏi các cấp, các ngành phải hiểu rõ các đặc trng này và nắm vũng cơ chế thị
trờng và các quy luật kinh tế khách quan để vận dụng.
8
Giá
Q
SF
Chi phí cố định
Chi phí nguyên
vật liệu
Chi phí lao động
Kỹ thuật
Quản lý
Lợi nhuận
Chi phí sản xuất
kinh doanh
1.1.3. Các chức năng quản lý nhà nớc đối với DNCNNQD
Quản lý nhà nớc đối với công nghiệp nói chung bao gồm các chức
năng cơ bản sau:
1.1.3.1. Chức năng định hớng
Quản lý nói chung là hoạt động hớng đích của chủ thể quản lý, cho
nên quản lý nhà nớc đối với công nghiệp tất yếu có chức năng định hớng. Đối
với nớc ta, định hớng phát triển công nghiệp là định hớng XHCN, đảm bảo
dân giàu, nớc mạnh, xã hội dân chủ, công bằng và văn minh. Mục tiêu để
quản lý các DNCNNQD cũng sẽ theo định hớng này. Nhà nớc ta thực hiện

bảo cho quá trình quản lý có hiệu quả và đảm bảo định hớng phát triển luôn
luôn đợc thực thi, Nhà nớc cần phải có chức năng kiểm tra giám sát đối với
lĩnh vực sản xuất - kinh doanh công nghiệp.
Hệ thống chức năng trên có mối quan hệ tơng tác lẫn nhau, đòi hỏi
phải đợc thực hiện đồng bộ, toàn diện nhằm nâng cao hiệu quả của quản lý
nhà nớc đối với công nghiệp, đặc biệt là DNCNNQD.
1.2. Sử dụng công cụ thuế trong quản lý nhà nớc đối với doanh
nghiệp công nghiệp ngoài quốc doanh
1.2.1. Hệ thống biện pháp và công cụ quản lý
Quản lý nhà nớc đối với công nghiệp, đòi hỏi phải sử dụng tổng hợp
các biện pháp sau: Biện pháp hành chính - pháp luật, biện pháp kinh tế và biện
pháp tổ chức - giáo dục. Nhà nớc ta đã tăng cờng các biện pháp quản lý nhà n-
ớc bằng cách giảm dần các biện pháp hành chính và tăng cờng biện pháp lý
thông qua luật. Bên cạnh đó, Nhà nớc cũng đang tăng cờng các biện pháp
quản lý kinh tế và biện pháp giáo dục. Mặc dù, các biện pháp này hỗ trợ đắc
lực cho nhau trong một chỉnh thể xã hội nhng mức độ và cờng độ sử dụng các
biện pháp này còn tùy thuộc vào từng giai đoạn phát triển kinh tế khác nhau.
Khi phát triển nền kinh tế thị trờng, biện pháp quản lý bằng luật pháp đợc đặc
biệt quan tâm nhằm xây dựng một Nhà nớc Pháp quyền. Những biện pháp
10
hành chính sẽ không còn là cơ bản đối với cơ chế quản lý mới. Nhiều luật s và
nhà kinh tế cho rằng luật pháp là công cụ trong quản lý nhà nớc chứ không
phải là biện pháp. Trên thực tế có thể nhận định rằng luật pháp là biện pháp
quản lý, công cụ quản lý là công cụ thuế, công cụ tiền tệ v.v Dù ở lĩnh vực
nào, sử dụng công cụ gì cũng cần phải luật pháp hóa hay nói cách khác, các
biện pháp quản lý đợc thể hiện chủ yếu thông qua việc sử dụng các công cụ
đòn bẩy giá cả, tiền tệ tín dụng, tiền lơng, đòn bẩy kinh tế khác và đặc biệt là
công cụ thuế.
Trong quản lý nhà nớc đối với công nghiệp, thuế là công cụ tài chính
rất quan trọng. Thuế tác động rất mạnh mẽ đến chuyển đổi cơ cấu kinh tế, tác

Sơ đồ 1.1: Nguyên tắc và công cụ điều tiết kinh tế thị trờng
Theo lý thuyết, mục đích điều tiết của các Chính phủ khi can thiệp vào
hệ thống kinh tế thị trờng là nhằm đảm bảo sự phát triển cân đối về kinh tế và
xã hội. Hiệu lực quản lý của Nhà nớc đối với nền kinh tế thị trờng phụ thuộc
chủ yếu vào bản chất những vấn đề cần đợc sửa chữa khi can thiệp, mục đích
điều tiết, cách thức và công cụ mà Chính phủ lựa chọn để can thiệp. Về
nguyên tắc, các nhóm "chính sách cội nguồn" có thể sử dụng để điều tiết thị
trờng nh là cấp công cụ quản lý đầu tiên.
12
Chính
phủ
Thị tr|ờng
hàng hóa
Hãng và
công ty
Hộ gia
đình
Thị tr|ờng
yếu tố
C2
C3
C1
$
C1
$
C4
C4
Thỏa
mãn
Lợi

chiến lợc
Sản xuất Tiêu
dùng
Cơ chế Luật Kinh tế
quốc
doanh
Hợp đồng
Chính phủ
Bảo
hiểm
Dự trữ
chiến lợc
Thuế
(Đầu ra,
thuế
quan
Thuế
(Thuế
hàng
hóa, lệ
phí
sử dụng)
Hạn chế
can thiệp
Khung
pháp lý
(Luật, h-
ớng dẫn)
Mạng lới
phân

bù giá
Mô phỏng Đặc khu Trợ cấp
13
thị trờng kinh tế khó khăn
Mặt khác, công cụ chính sách cũng rất khác nhau về tính chất, tác dụng,
hiệu quả và phạm vi hiệu lực. Những đặc điểm này đợc sử dụng nh những căn
cứ để cân nhắc khi lựa chọn và sử dụng một công cụ chính sách. Bảng 1.3
trình bày những đặc điểm cơ bản của bốn nhóm "chính sách cội nguồn". Các
công cụ "chính sách cội nguồn" thờng đợc sử dụng làm cơ sở để soạn thảo các
chính sách cơ bản phù hợp với yêu cầu và hoàn cảnh cần điều tiết.
Mỗi Chính phủ có quan điểm riêng, cách thức riêng, u thuế riêng trong
việc lựa chọn và sử dụng công cụ chính sách. Tuy nhiên, những nhóm chính
sách cơ bản có bản chất cùng một "nguồn gốc" giống nh những "nhánh cây"
trong một "cây chính sách". Chính vì vậy, sự phối hợp đồng bộ giữa các chính
sách là rất cần thiết.
Bảng 1.3: Đặc điểm của các công cụ chính sách cội nguồn.
Công cụ chính sách Nhóm C1 Nhóm C2 và C3 Nhóm C4 Nhóm C5
Tính chất Kinh tế Phi kinh tế Cả hai Cả hai
Tác dụng Trực tiếp Gián tiếp Trực tiếp Cả hai
Hiệu quả Tức thì Lâu dài Cả hai Lâu dài
Phạm vi hiệu lực
Trực tiếp vào
đối tợng
Toàn bộ hệ
thống
Gián tiếp qua
đối tác
Hệ thống và
đối tợng
Trong hệ thống các "chính sách cội nguồn", DNCNNQD là một công

đảm bảo chi tiêu của Nhà nớc và xác lập tính hợp pháp về thu nhập của họ.
Nh vậy, khái niệm trên đã phân biệt rõ sự khác nhau giữa thuế; phí và
lệ phí. Tính pháp lý của thuế là cụ thể rõ ràng hơn ở chỗ nó thừa nhận tính hợp
pháp của thu nhập còn lại sau khi nộp thuế. Mặc dù, thuế là nguồn thu chủ
yếu của NSNN nhng không phải là Nhà nớc có thể tùy tiện đặt ra các loại
thuế. Vì ngoài các chức năng chung nhằm điều tiết vĩ mô nền kinh tế, thuế
15
cũng thể hiện sự phân phối thu nhập giữa Nhà nớc và các chủ thể khác trong
nền kinh tế nên thuế phải mang tính công bằng và hợp lý.
- Các hình thức thuế
Nh đã trình bày về khái niệm thuế, các hình thức thuế cũng rất nhiều
loại tùy theo từng giác độ nghiên cứu và tiêu chí phân loại. Thông thờng có
các cách thức phân loại thuế sau đây:
Phõn loi theo i tng chu thu
Cn c vo i tng chu thu, cú th chia cỏc sc thu thnh ba loi:
Thu thu nhp; thu tiờu dựng; thu ti sn.
Phõn loi theo phng thc ỏnh thu
Tựy thuc vo phng thc ỏnh thu - ỏnh mt cỏch trc tip hay
giỏn tip vo thu nhp m ngi ta chia h thng thu thnh hai loi: Thu
trc thu l loi thu ỏnh trc tip vo thu nhp hoc ti sn ca ngi np
thu. Thu giỏn thu l loi thu khụng trc tip ỏnh vo thu nhp v ti sn
ca ngi np thu m ỏnh mt cỏch giỏn tip thụng qua giỏ c hng húa v
dch v.
- Chức năng cơ bản của thuế
Chức năng của thuế cũng có nhiều cách phân loại khác nhau từ chức
năng tổng quát đến chức năng cụ thể. Nhìn chung, chức năng của thuế đợc
thừa nhận lâu nay là chức năng phân phối và chức năng giám đốc. Tuy nhiên,
khi chuyển sang nền kinh tế thị trờng, thuế đợc nhìn nhận với nhiều chức năng
chia nhỏ hơn đó là: huy động nguồn thu cho Ngân sách; điều hòa thu nhập;
bảo vệ và hớng dẫn sản xuất và tiêu dùng, v.v

17
việc phát triển kinh tế của quốc gia mình. Trên cơ sở chính sách thuế, Nhà nớc
sẽ thực hiện việc quản lý bằng các biện pháp quản lý nh luật pháp, hành chính,
giáo dục v.v Đặc biệt là phơng pháp quản lý bằng luật pháp ngày càng đợc
phát huy. Cụ thể hóa các chính sách thuế là hệ thống thuế bao gồm các sắc
thuế và cơ quan quản lý thuế. Đối với những quốc gia kém phát triển hệ thống
thuế sẽ có tỷ lệ các sắc thuế đợc "luật hóa" thấp hơn các quốc gia phát triển.
Quản lý nhà nớc về thuế đối với DN sẽ đợc cụ thể hóa bằng các sắc thuế, cơ
chế quản lý thuế và bộ máy quản lý thuế đối với các DNCN. Phát triển công
nghiệp là con đờng ngắn nhất để phát triển kinh tế thì chính sách thuế phải
phản ánh đợc chính sách này. Nhà nớc sử dụng công cụ thuế trong tình hình đó
cũng phải nhất quán về quan điểm và cách vận dụng.
Nh vậy, quản lý nhà nớc thông qua các công cụ chính sách là hoàn
toàn có luận cứ lý thuyết và thực tế. Tuy nhiên, dù xem xét ở khía cạnh nào
cũng đều phải coi trọng công cụ Thuế trong quản lý nhà nớc đối với công
nghiệp nói riêng và nền kinh tế nói chung.
Một số quan điểm cho rằng chính sách quản lý, công cụ quản lý và
biện pháp quản lý là nh nhau vì đều là các cách thức tác động vào đối tợng bị
quản lý. Muốn thực hiện đợc chính sách đó phải có biện pháp quản lý phù hợp
nh việc sử dụng biện pháp mệnh lệnh hành chính hay pháp luật và sử dụng các
công cụ quản lý thích hợp nh tài chính, thuế, tiền lơng v.v
Chính vì vậy, việc sử dụng công cụ thuế trong quản lý nhà nớc đối với
DNCNNQD cũng theo mô hình đó.
18
Nhà n,ớc
Chính
sách
quản lý
Biện pháp
quản lý

Hiệu ứng của việc sử dụng công cụ thuế này rất lớn, đặc biệt là những
thay đổi về chính sách thuế của Nhà nớc. Những đối tợng chịu thuế có ảnh h-
19
ởng nhiều đến nền kinh tế khi bị đánh thuế sẽ gây ra hiệu ứng dây chuyền nh
điện, xăng dầu v.v Công cụ thuế "trong tay" Nhà nớc có sức mạnh khá lớn
và đợc sử dụng nh là công cụ chính để quản lý. Công cụ thuế mang tính chất
bắt buộc đối với DNCNNQD nên vận dụng công cụ này đảm bảo quản lý
DNNQD tốt hơn các công cụ khác nh tiền tệ, tiền lơng v.v
Nhà nớc hạn chế hay kích thích sản xuất và tiêu dùng một mặt thì
công cụ thuế là hữu hiệu nhất. Các công cụ quản lý khác có ít tác dụng hơn vì
không tác động trực tiếp tới cả ngời sản xuất và ngời tiêu dùng. Khi bị đánh
thuế cả ngời sản xuất và tiêu dùng phải cân nhắc lại hoạt động của mình theo
hớng có lợi nhất cho họ. Sức mạnh của thuế đối với các DNCNNQD nói riêng
và doanh nghiệp kinh doanh nói chung là rất lớn vì nó ảnh hởng trực tiếp đến
hoạt động sản xuất kinh doanh của họ. Thậm chí, khi chính sách thay đổi sẽ
làm cho doanh nghiệp phát triển hay phải phá sản. Ví dụ, nh thuế nhập khẩu
đánh vào mặt hàng A từ 5% tăng lên 10% làm cho nhiều doanh nghiệp phải từ
bỏ kinh doanh mặt hàng này ngay khi sắc thuế có hiệu lực. Những lô hàng đã
ký hợp đồng và mở tờ khai sau thời điểm đó thờng phải chịu thua lỗ lớn. Tác
dụng của thuế lúc này là lớn nhất và hiệu lực nhất. Ngợc lại, nhiều mặt hàng
bị biến động mạnh ngay sau khi Nhà nớc thông qua chính sách thuế nh xe
máy, đất đai Khi Nhà nớc tăng thuế trớc bạ và lệ phí đăng ký xe gắn máy thì
gần nh thị trờng xe máy bị xáo trộn. Các doanh nghiệp sản xuất kinh doanh
đua nhau giảm giá thông qua các hỗ trợ khách hàng. Mặt khác, chính sách
thuế thay đổi làm cho không ít các doanh nghiệp sản xuất và lắp ráp gặp khó
khăn. Nhiều doanh nghiệp sẽ phải từ bỏ kinh doanh mặt hàng này để chuyển
hớng kinh doanh mặt hàng khác theo đúng định hớng của Nhà nớc. Nh vậy,
việc sử dụng công cụ thuế trong quản lý nhà nớc đối với DNCNNQD có ảnh
hởng rất mạnh mẽ và cần đợc vận dụng hợp lý.
20

độ áp dụng các sắc thuế và áp thuế suất nh thế nào mà còn ảnh hởng đến mức
độ ổn định thu thuế về mặt thời gian. Thậm chí, những dao động này đôi khi
làm trầm trọng thêm các tình hình kinh tế xã hội và sự ổn định của Nhà nớc.
Việc mất ổn định nguồn thu sẽ gây bất ổn chi tiêu và các hoạt động của Nhà
nớc. Hiệu quả của một hệ thống thuế đối với Nhà nớc là sự cân bằng và ổn
định, do đó khi sử dụng công cụ thuế Nhà nớc luôn chú trọng đến yêu cầu này
của hệ thống thuế.
Thứ hai: Thuế gây ra sự mất trắng về thuế.
Trong xã hội, ngời nộp thuế nhiều không phải là ngời đợc quyền sử
dụng nhiều hàng hóa công cộng và ngợc lại. Khi đánh thuế thì chỉ đánh thuế
vào mức thu nhập cao nhng không có biện pháp đảm bảo cho họ đợc hởng
nhiều hơn và nh vậy sự phân phối qua thuế gây méo mó hơn.
Đờng khả năng hữu dụng là đờng giới hạn về mức độ thỏa mãn của
mọi ngời trong xã hội về những loại hàng hóa công cộng của các nhóm dân c.
Nhà nớc không thể đảm bảo tuyệt đối vừa có công bằng và hiệu quả giữa việc
nộp thuế và sử dụng hàng hóa công cộng của các nhóm. Do đó, khi đánh thuế
sẽ có những tác động méo mó đối với sự công bằng và độ hữu dụng của các
nhóm dân c trong xã hội (Đồ thị 1.2).
22
Độ hữu
dụng của
nhóm 2
Độ hữu dụng của nhóm 1
A
A
I
Đồ thị 1.2: Đờng khả năng hữu dụng
Mọi điểm trên đờng khả năng hữu dụng đều có hiệu quả nhng nếu thuế tác
động làm cho sự phân phối từ điểm A đến điểm B sẽ gây méo mó.
Nguồn: [37, trang 485-486].

đánh thuế sản phẩm Q
ờng gọi là "sự mất trắng". Tác động của thuế đối với Nhà nớc còn thể hiện ở
việc thuế gây méo mó đối với những hàng hóa công cộng. Các khoản thu để
chi cho hàng hóa công cộng chính là từ thuế. Để chi tiêu cho hàng hóa công
cộng thì phải từ bỏ sản xuất một lợng hàng hóa t nhân là tất yếu. Chính vì
vậy, đờng khả thi sản xuất nằm trong đờng giới hạn khả năng sản xuất. Việc
đánh thuế làm cho hàng hóa công cộng trở nên đắt tiền hơn và mức hiệu quả
của hàng hóa công cộng sẽ nhỏ hơn lúc không bị đánh thuế.
Đồ thị 1.4: Đờng khả thi sản xuất và khả năng sản xuất
do tác động của thuế
Thuế gây méo mó và đờng khả thi sản xuất sẽ nằm trong bên dới đờng khả
năng sản xuất.
Nguồn: [37, tr. 493].
Do vậy, khi sử dụng công cụ thuế trong quản lý nhà nớc phải tăng cờng
các biện pháp giảm độ trễ của thuế, hạn chế sự mất trắng và điều hòa hợp lý
công bằng và hiệu quả đồng thời kích thích tối đa khả năng sản xuất của xã hội.
1.3.2. Tác dụng đối với các doanh nghiệp
Thuế đối với các DNCN đợc phân tích ở đây chủ yếu là các
DNCNNQD. Thuế đợc coi là khoản trích nộp ngân sách nhằm hợp thức hóa
các hoạt động kinh doanh của DN. Bất kỳ DN nào cũng đều phải nộp thuế
theo luật định nhằm đảm bảo hoạt động quản lý của Nhà nớc, trong đó có hoạt
24
Hàng
hóa cá
nhân
Hàng hóa công cộng
Đ|ờng khả thi
sản xuất
Đ|ờng giới hạn khả
năng sản xuất

1
E
0
Đ|ờng cầu
L|ợngQ
1
Q
0
Giá P1 do ng|ời tiêu dùng
trả sau khi đánh thuế
Giá P0 tr|ớc khi
đánh thuế
Giá P2 do công ty nhận đ|
ợc sau khi đánh thuế


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status