LUẬN VĂN: Hoàn thiện việc sử dụng công cụ thuế trong quản lý nhà nước đối với doanh nghiệp công nghiệp ngoài quốc doanh ở Việt Nam pot - Pdf 15



LUẬN VĂN:

Hoàn thiện việc sử dụng cụng cụ thuế trong
quản lý nhà nước đối với doanh nghiệp công
nghiệp ngoài quốc doanh ở Việt Nam
mở đầu

1. Tính cấp thiết của đề tài
Thuế là một công cụ quan trọng trong quản lý nhà nước đối với các doanh nghiệp
nói chung; doanh nghiệp ngoài quốc doanh nói riên trong cơ chế thị trường. Thuế có tác
động đến doanh nghiệp ngoài quốc doanh theo hai khía cạnh: thúc đẩy hoặc kìm hãm phát
triển. Vì vậy, Nhà nước đã ban hành và sủa đổi nhiều luật thuế với mục tiêu khuyến khích
thành phần kinh tế này phát triển. Tuy nhiên, việc sử dụng công cụ thuế trong quản lý nhà
nước đối với doanh nghiệp ngoài quốc doanh có hiện trạng sau:
- Thuế chồng chéo làm cho giá cả sản phẩm còn cao.
- Tình trạng thất thu thuế cho ngân sách còn lớn.
- Tình trạng trốn thuế, gian lận thuế còn diễn ra phổ biến.
Ngoài ra, thuế không chỉ là vấn đề vĩ mô mà còn là những vấn đề vi mô rất nhạy
cảm. Thuế luôn là vấn đề được Nhà nước; các nhà kinh doanh, nhà đầu tư và người dân
quan tâm. Việc sử dụng công cụ thuế là chức năng và nhiệm vụ của Nhà nước nhưng lại

Nhà nước đối với các DNCNNQDD ở Việt Nam.
5. Kết cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu và kết luận, luận văn được kết cấu thành 3 chương:
Chương 1: Luận cứ khoa học về sử dụng công cụ thuế trong quản lý nhà nước đối
với doanh nghiệp công nghiệp ngoài quốc doanh
Chương 2: Thực trạng sử dụng công cụ thuế trong quản lý nhà nước đối với
doanh nghiệp công nghiệp ngoài quốc doanh.

Chương 3: Giải pháp hoàn thiện việc sử dụng công cụ thuế trong quản lý của Nhà
nước đối với các DN công nghiệp ngoài quốc doanh ở Việt Nam.
Chương 1
Luận cứ khoa học về sử dụng công cụ thuế
trong quản lý nhà nước đối với
doanh nghiệp công nghiệp ngoài quốc doanh

1.1. Quản lý nhà nước đối với doanh nghiệp công nghiệp ngoài quốc doanh
1.1.1. Doanh nghiệp công nghiệp ngoài quốc doanh.
"Doanh nghiệp là tổ chức kinh tế có tên riêng, có tài sản, có trụ sở giao dịch ổn
định, được đăng ký kinh doanh theo quy định của pháp luật nhằm mục đích thực hiện các
hoạt động kinh doanh" [31].
Doanh nghiệp công nghiệp là những doanh nghiệp thực hiện các hoạt động sản
xuất-kinh doanh theo phương pháp công nghiệp để sản xuất ra hàng hóa dịch vụ nhằm thỏa
mãn nhu cầu của con người và xã hội. Như vậy, nhiều sản phẩm công nghiệp sẽ không
phải chỉ do các doanh nghiệp sản xuất ra.
Tuy nhiên, tùy theo từng lĩnh vực và khía cạnh quản lý còn có những khái niệm về
doanh nghiệp sau đây:
- Dưới giác độ quản lý, DN là một đơn vị kinh tế do Nhà nước hoặc các đoàn thể
hoặc tư nhân đầu tư vốn nhằm mục đích chủ yếu là thực hiện các hoạt động sản xuất kinh
doanh hoặc hoạt động công ích góp phần thực hiện các mục tiêu kinh tế-xã hội của đất nước.
Hiểu theo cách này thì các DN bao hàm cả DNNN và DNNQD nhưng không nhấn mạnh đến

sản xuất kinh doanh công nghiệp.
DNCNNQD là những DNCN không thuộc sở hữu của Nhà nước hoặc sở hữu
khống chế của Nhà nước (Nhà nước sở hữu trên 50%). Ngoài ra, luật còn quy định các
doanh nghiệp là DNNN khi Nhà nước sở hữu số vốn lớn gấp đôi sở hữu tư nhân lớn nhất.
Tuy nhiên, dưới giác độ nghiên cứu về thuế thì sở hữu khống chế ở đây được hiểu là quyền
sở hữu của Nhà nước gắn liền với quyền kiểm soát và sử dụng doanh nghiệp đó như là

công cụ điều tiết của Nhà nước. Như vậy, ranh giới DNNQD và quốc doanh sẽ rõ ràng hơn
khi Nhà nước có nắm quyền kiểm soát và sử dụng doanh nghiệp đó khi cần thiết hay
không. Mục đích chính của sở hữu của Nhà nước cũng là nhằm khống chế và sử dụng
doanh nghiệp để điều tiết. Cách hiểu này sẽ nảy sinh vấn đề khi phân định loại hình doanh
nghiệp trong hai trường hợp sau:
Một là: Các doanh nghiệp trong đó Nhà nước chiếm tỷ trọng vốn lớn nhất với tư
cách là phân chia lợi nhuận đơn thuần và Nhà nước không có mục đích sử dụng doanh
nghiệp đó như là công cụ điều tiết.
Hai là: Các doanh nghiệp, trong đó các thành phần kinh tế khác có chiếm phần sở
hữu lớn hơn Nhà nước nhưng họ chỉ có mục đích thu lợi nhuận đơn thuần nên Nhà nước
vẫn duy trì quyền kiểm soát và điều tiết.
Những tình huống đặc biệt làm nảy sinh ranh giới phân chia DNQD và DNNQD
không đơn thuần là tên gọi mà phải phân tích sâu xa hơn về bản chất của những loại hình
này. Hai trường hợp trên thực chất là những tình huống cụ thể. Trường hợp thứ nhất, vẫn
nên coi là DNQD vì xét theo giác độ luật pháp thì Nhà nước có quyền điều tiết DN này
nhưng có thể chưa tiến hành sử dụng làm công cụ điều tiết trong một giai đoạn nào đó.
Trong trường hợp thứ hai thì ngược lại, Nhà nước chỉ tận dụng sở hữu vốn của mình tại
DN đó để tham gia điều tiết trong từng giai đoạn cụ thể. Về bản chất, thì sở hữu tư nhân
lớn nhất vẫn có quyền phủ quyết mặc dù họ có thể chưa sử dụng quyền hợp pháp này. Vì
vậy, tiêu chí phân định loại hình DNQD và DNNQD chính là hình thức sở hữu vốn.
Quyền kiểm soát sẽ là đặc trưng cơ bản của DNQD nên có thời điểm Nhà nước sử dụng
cũng có thời điểm Nhà nước không sử dụng.
1.1.2. Đặc trưng của doanh nghiệp công nghiệp ngoài quốc doanh

Bảng 1.1: Các đặc trưng của DNCNQD và DNCNNQD
TT

Tiêu chí Đặc trưng của DNCNNQD Đặc trưng của DNCNQD
1 Sản phẩm Hàng hóa cá nhân là chủ yếu Hàng hóa công cộng là chủ
yếu

2 Đối tượng
phục vụ
- Người tiêu dùng cụ thể
- Thị trường mục tiêu
- Nhiều đối tượng khác nhau
- Ngành, khu vực KT-XH
3 Mục tiêu
hoạt động
- Hiệu quả tài chính
- Lợi nhuận
- Mục tiêu "đơn": kinh doanh
- Phát triển kinh tế-xã hội
- Hiệu quả kinh tế-xã hội
- Hiệu quả tài chính và đóng
góp cho ngân sách
- Mục tiêu "kép" giữa xã hội
và kinh doanh
4 Ra quyết
định
- Trong phạm vi hẹp của
người quản lý
- Ràng buộc bởi luật pháp và
các nguyên tắc quản lý và

Hình 1.1: Đặc điểm về mục tiêu và các yếu tố đầu vào của DNCNNQD
Một khía cạnh khác biệt về thứ tự ưu đãi thanh toán khi phá sản của DNCNNQD
cũng rất rõ nét. Thông thường các DNCNNQD chỉ sẽ ưu tiên trả các khoản vay nợ theo
thứ tự đối với người lao động, Ngân hàng, Quỹ tín dụng, nhà đầu tư, cổ đông. Đặc trưng
này thể hiện sự ưu tiên của các khoản thanh toán đối với người lao động sau đó đến các
chủ nợ và cuối cùng mới đến các chủ đầu tư. Trong khi đó, các DNCNQD sẽ ưu tiên thanh
toán cho người lao động, các cổ đông tư nhân, các khoản vay tư nhân sau đó đến các
khoản vay tài chính Nhà nước và cuối cùng là Ngân sách Nhà nước.
Những đặc trưng cơ bản trên đây đã cho thấy DNCNNQD là DN kinh doanh rất
nhanh nhạy trong cơ chế thị trường. Để quản lý tốt các DN này, đòi hỏi các cấp, các ngành
phải hiểu rõ các đặc trưng này và nắm vũng cơ chế thị trường và các quy luật kinh tế khách
quan để vận dụng.
1.1.3. Các chức năng quản lý nhà nước đối với DNCNNQD
Quản lý nhà nước đối với công nghiệp nói chung bao gồm các chức năng cơ bản
sau:
1.1.3.1. Chức năng định hướng
Giá

Q
SF

Chi phí cố
đ
ịnh
Chi phí
nguyên vật
li

phát triển phải có những điều chỉnh đúng hướng và đúng tốc độ nhằm phát triển nền kinh
tế. Quản lý nhà nước về kinh tế cũng cần phải thực hiện cả chức năng điều tiết. Chức năng
này được thể hiện thông qua các chính sách và biện pháp cụ thể của Nhà nước trong từng
thời kỳ. Chính phủ sử dụng rất nhiều công cụ quản lý, đặc biệt là công cụ thuế để điều tiết
và tạo môi trường thuận lợi cho DNCN. Khi Nhà nước thừa nhận vai trò của kinh tế ngoài
quốc doanh thì tất yếu sẽ tạo điều kiện môi trường cho các DNCNNQD phát triển, tuy
nhiên Nhà nước nước sẽ điều tiết các doanh nghiệp này nhằm phát triển theo đúng định
hướng đã đề ra.
1.1.3.3. Chức năng điều hòa phối hợp giữa các ngành, các lĩnh vực và giữa các
doanh nghiệp
Trong ngành công nghiệp luôn có các mối quan hệ giữa các ngành, các lĩnh vực và
giữa các DN. Đôi khi các mối quan hệ này nổi lên như là những tác động mang tính khách
quan, do đó Nhà nước phải đặc biệt chú trọng đến việc điều hòa phối hợp giữa các ngành,
các lĩnh vực và giữa các DN. Mối quan hệ này thường xuất phát từ mối quan hệ tương
quan của các ngành, các lĩnh vực và các DN biểu hiện thông qua cơ cấu ngành, lĩnh vực và
loại hình DN. Nhà nước không thực hiện được chức năng này tất yếu sẽ chịu nhiều phản
ứng mang tính khách quan do các đối tượng bị quản lý này tác động trở lại.
1.1.3.4. Chức năng kiểm tra kiểm soát

Việc quản lý nhà nước đối với công nghiệp đòi hỏi phải có đầy đủ các thông tin
hai chiều cả từ phía chủ thể và từ phía khách thể bị quản lý. Để đảm bảo cho quá trình
quản lý có hiệu quả và đảm bảo định hướng phát triển luôn luôn được thực thi, Nhà nước
cần phải có chức năng kiểm tra giám sát đối với lĩnh vực sản xuất - kinh doanh công
nghiệp.
Hệ thống chức năng trên có mối quan hệ tương tác lẫn nhau, đòi hỏi phải được
thực hiện đồng bộ, toàn diện nhằm nâng cao hiệu quả của quản lý nhà nước đối với công
nghiệp, đặc biệt là DNCNNQD.
1.2. Sử dụng công cụ thuế trong quản lý nhà nước đối với doanh nghiệp công nghiệp
ngoài quốc doanh
1.2.1. Hệ thống biện pháp và công cụ quản lý

điều tiết các hoạt động của hệ thống kinh tế thị trường, nhưng các quan điểm lý thuyết kinh
tế thị trường lại rất khác nhau về mức độ và cách thức can thiệp. Quan điểm phổ biến trong
kinh tế học nhấn mạnh vai trò can thiệp của Chính phủ như một nhân vật thứ ba. Sự can
thiệp của Chính phủ vào cơ chế thị trường được lý giải là cần thiết khi sự vận hành của cơ
chế thị trường tự do có những "trục trặc" và nhằm mục đích để điều tiết nền kinh tế theo
định hướng công bằng và hiệu quả.
Về nguyên tắc, các Chính phủ có thể can thiệp và điều tiết nền kinh tế thị trường
thông qua các công cụ thuộc bốn nhóm chính sách "cuội nguồn" sau:
(i) Thuế và trợ cấp - nhóm chính sách C1; (ii) Hệ thống luật pháp với hai tính chất
hướng dẫn và điều chỉnh - nhóm chính sách C2 và C3; (iii) Hệ thống các cơ quan, tổ chức của
Nhà nước hay do Nhà nước lập ra hoặc hỗ trợ tham gia trực tiếp vào hệ thống thị trường như
các đối tượng khác - nhóm chính sách C4; và chiến lược - nhóm chính sách C5. Sự can thiệp
của Chính phủ vào cơ chế thị trường bằng các nhóm chính sách cội nguồn được minh họa
trên sơ đồ 1.1.
Chính
phủ
Thị
trường
hàng hóa

Hãng và
công ty

Hộ gia
đình
Thị
trư

: Chu kỳ tuần hoàn thứ nhất
: Chu kỳ tuần hoàn thứ hai
Sơ đồ 1.1: Nguyên tắc và công cụ điều tiết kinh tế thị trường
Theo lý thuyết, mục đích điều tiết của các Chính phủ khi can thiệp vào hệ thống
kinh tế thị trường là nhằm đảm bảo sự phát triển cân đối về kinh tế và xã hội. Hiệu lực
quản lý của Nhà nước đối với nền kinh tế thị trường phụ thuộc chủ yếu vào bản chất những
vấn đề cần được sửa chữa khi can thiệp, mục đích điều tiết, cách thức và công cụ mà
Chính phủ lựa chọn để can thiệp. Về nguyên tắc, các nhóm "chính sách cội nguồn" có thể
sử dụng để điều tiết thị trường như là cấp công cụ quản lý đầu tiên.
Chi tiết hơn về vai trò của nhóm chính sách này trong việc khắc phục những
"khuyết tật thị trường" và những "phản ứng phụ" của chúng. Những "phản ứng phụ" này
của giải pháp chính sách được khái quát trong dạng khiếm khuyết do cơ chế điều hành của
Chính phủ. Các cơ quan của Chính phủ sẽ có khiếm khuyết trong quá trình vận hành nền
kinh tế vì những tệ nạn tham nhũng, quan liêu v.v Những nhóm chính sách này sẽ bị hạn
chế rất nhiều vì những tệ nạn đó nên khi vận hành nền kinh tế bằng nhóm các công cụ vĩ
mô đòi hỏi phải có bộ máy công quyền hiệu quả. Bộ máy công quyền quản lý hoạt động có
hiệu quả phải dựa trên những cán bộ cốt cán có phẩm chất tốt và ngược lại chính họ lại là
người tạo ra và sử dụng sáng tạo các công cụ này. Các nhóm công cụ chính sách cội nguồn
điều tiết nền kinh tế thị trường được trình bày ở bảng 1.2.
Bảng 1.2: Các nhóm công cụ "chính sách cội nguồn"
để điều tiết nền kinh tế thị trường
Nhóm chính sách Nhóm chính sách Nhóm chính sách Nhóm chính sách

C1
Thuế và
trợ cấp
C2 và C3
Khung
pháp lý
C4

phí
sử
dụng)
Hạn chế
can
thiệp
Khung
pháp lý
(Luật,
hướng
dẫn)
Mạng
lưới
phân
phối
Hợp
đồng
trực tiếp

Bào
hiểm
nghĩa
vụ
Dự trữ
quốc
gia
Trợ cấp
(Bù lỗ,
trợ
thuế)

ỏng thị
trường

Đặc khu
kinh tế

Trợ cấp
khó khăn

Mặt khác, công cụ chính sách cũng rất khác nhau về tính chất, tác dụng, hiệu quả và
phạm vi hiệu lực. Những đặc điểm này được sử dụng như những căn cứ để cân nhắc khi
lựa chọn và sử dụng một công cụ chính sách. Bảng 1.3 trình bày những đặc điểm cơ bản
của bốn nhóm "chính sách cội nguồn". Các công cụ "chính sách cội nguồn" thường được

sử dụng làm cơ sở để soạn thảo các chính sách cơ bản phù hợp với yêu cầu và hoàn cảnh
cần điều tiết.
Mỗi Chính phủ có quan điểm riêng, cách thức riêng, ưu thuế riêng trong việc lựa
chọn và sử dụng công cụ chính sách. Tuy nhiên, những nhóm chính sách cơ bản có bản
chất cùng một "nguồn gốc" giống như những "nhánh cây" trong một "cây chính sách".
Chính vì vậy, sự phối hợp đồng bộ giữa các chính sách là rất cần thiết.
Bảng 1.3: Đặc điểm của các công cụ chính sách cội nguồn.
Công cụ chính
sách
Nhóm C1
Nhóm C2 và
C3
Nhóm C4 Nhóm C5
Tính chất Kinh tế Phi kinh tế Cả hai Cả hai
Tác dụng Trực tiếp Gián tiếp Trực tiếp Cả hai
Hiệu quả Tức thì Lâu dài Cả hai Lâu dài

luật, thuế được coi là khoản đóng góp bắt buộc được luật pháp hóa. Về phương diện kinh
tế thuế được coi là một phần thu nhập quốc dân mà người dân phải nộp cho Nhà nước. Về
phương diện nghiên cứu lý luận thuế được coi là một phần tài sản (không nhất thiết là thu
nhập) phải đóng góp cho Nhà nước chi tiêu để thực hiện các chức năng của Nhà nước. Từ
những giác độ khác nhau, khái niệm về thuế được hiểu là: Thuế là một khoản đóng góp bắt
buộc từ các thể nhân và pháp nhân cho Nhà nước theo mức độ và thời hạn được pháp luật
qui định nhằm sử dụng cho mục đích công cộng.
ở giác độ DN, thuế khoản chi phí bắt buộc phải nộp cho Nhà nước nhằm đảm bảo chi
tiêu của Nhà nước và xác lập tính hợp pháp về thu nhập của họ.
Như vậy, khái niệm trên đã phân biệt rõ sự khác nhau giữa thuế; phí và lệ phí.
Tính pháp lý của thuế là cụ thể rõ ràng hơn ở chỗ nó thừa nhận tính hợp pháp của thu nhập
còn lại sau khi nộp thuế. Mặc dù, thuế là nguồn thu chủ yếu của NSNN nhưng không phải
là Nhà nước có thể tùy tiện đặt ra các loại thuế. Vì ngoài các chức năng chung nhằm điều
tiết vĩ mô nền kinh tế, thuế cũng thể hiện sự phân phối thu nhập giữa Nhà nước và các chủ
thể khác trong nền kinh tế nên thuế phải mang tính công bằng và hợp lý.
- Các hình thức thuế
Như đã trình bày về khái niệm thuế, các hình thức thuế cũng rất nhiều loại tùy theo
từng giác độ nghiên cứu và tiêu chí phân loại. Thông thường có các cách thức phân loại
thuế sau đây:
Phân loại theo đối tượng chịu thuế

Căn cứ vào đối tượng chịu thuế, có thể chia các sắc thuế thành ba loại:
Thuế thu nhập; thuế tiêu dùng; thuế tài sản.
Phân loại theo phương thức đánh thuế
Tùy thuộc vào phương thức đánh thuế - đánh một cách trực tiếp hay gián tiếp vào
thu nhập mà người ta chia hệ thống thuế thành hai loại: Thuế trực thu là loại thuế đánh trực
tiếp vào thu nhập hoặc tài sản của người nộp thuế. Thuế gián thu là loại thuế không trực
tiếp đánh vào thu nhập và tài sản của người nộp thuế mà đánh một cách gián tiếp thông
qua giá cả hàng hóa và dịch vụ.
- Chức năng cơ bản của thuế

đều lựa chọn cho mình con đường phát triển kinh tế bằng các công cuộc công nghiệp hóa.
Để đạt mục tiêu đó các quốc gia đều xây dựng cho mình các chính sách thuế đặc biệt là
xác định hợp lý tỷ lệ động viên GDP vào NSNN với việc phát triển kinh tế của quốc gia
mình. Trên cơ sở chính sách thuế, Nhà nước sẽ thực hiện việc quản lý bằng các biện pháp
quản lý như luật pháp, hành chính, giáo dục v.v Đặc biệt là phương pháp quản lý bằng
luật pháp ngày càng được phát huy. Cụ thể hóa các chính sách thuế là hệ thống thuế bao
gồm các sắc thuế và cơ quan quản lý thuế. Đối với những quốc gia kém phát triển hệ thống
thuế sẽ có tỷ lệ các sắc thuế được "luật hóa" thấp hơn các quốc gia phát triển. Quản lý nhà
nước về thuế đối với DN sẽ được cụ thể hóa bằng các sắc thuế, cơ chế quản lý thuế và bộ
máy quản lý thuế đối với các DNCN. Phát triển công nghiệp là con đường ngắn nhất để
phát triển kinh tế thì chính sách thuế phải phản ánh được chính sách này. Nhà nước sử dụng
công cụ thuế trong tình hình đó cũng phải nhất quán về quan điểm và cách vận dụng.
Như vậy, quản lý nhà nước thông qua các công cụ chính sách là hoàn toàn có luận
cứ lý thuyết và thực tế. Tuy nhiên, dù xem xét ở khía cạnh nào cũng đều phải coi trọng
công cụ Thuế trong quản lý nhà nước đối với công nghiệp nói riêng và nền kinh tế nói
chung.
Một số quan điểm cho rằng chính sách quản lý, công cụ quản lý và biện pháp quản
lý là như nhau vì đều là các cách thức tác động vào đối tượng bị quản lý. Muốn thực hiện

được chính sách đó phải có biện pháp quản lý phù hợp như việc sử dụng biện pháp mệnh
lệnh hành chính hay pháp luật và sử dụng các công cụ quản lý thích hợp như tài chính,
thuế, tiền lương v.v
Chính vì vậy, việc sử dụng công cụ thuế trong quản lý nhà nước đối với
DNCNNQD cũng theo mô hình đó.

Công cụ

quản lý

(Thuế,
tiền
t
ệ )

doanh nghiệp công nghiệp ngoài quốc doanhsách thuế mà cụ thể hóa bằng các sắc thuế dưới hình thức luật hay dưới luật. Các sắc thuế
thể hiện rất rõ các chính sách thuế của chủ thể quản lý đối với đối tượng quản lý thông qua
các quy định về những nội dung thuế cụ thể. Đối với các doanh nghiệp các chính sách thuế
về doanh thu, lợi nhuận luôn là những chính sách thuế được quan tâm đặc biệt. Nhà nước
sẽ vận dụng khéo léo các sắc thuế này nhằm định hướng cho các DNCNNQD phát triển.
Hiệu ứng của việc sử dụng công cụ thuế này rất lớn, đặc biệt là những thay đổi về
chính sách thuế của Nhà nước. Những đối tượng chịu thuế có ảnh hưởng nhiều đến nền
kinh tế khi bị đánh thuế sẽ gây ra hiệu ứng dây chuyền như điện, xăng dầu v.v Công cụ
thuế "trong tay" Nhà nước có sức mạnh khá lớn và được sử dụng như là công cụ chính để
quản lý. Công cụ thuế mang tính chất bắt buộc đối với DNCNNQD nên vận dụng công cụ
này đảm bảo quản lý DNNQD tốt hơn các công cụ khác như tiền tệ, tiền lương v.v
Nhà nước hạn chế hay kích thích sản xuất và tiêu dùng một mặt thì công cụ thuế là
hữu hiệu nhất. Các công cụ quản lý khác có ít tác dụng hơn vì không tác động trực tiếp tới
cả người sản xuất và người tiêu dùng. Khi bị đánh thuế cả người sản xuất và tiêu dùng phải
cân nhắc lại hoạt động của mình theo hướng có lợi nhất cho họ. Sức mạnh của thuế đối với
các DNCNNQD nói riêng và doanh nghiệp kinh doanh nói chung là rất lớn vì nó ảnh
hưởng trực tiếp đến hoạt động sản xuất kinh doanh của họ. Thậm chí, khi chính sách thay
đổi sẽ làm cho doanh nghiệp phát triển hay phải phá sản. Ví dụ, như thuế nhập khẩu đánh

Đồ thị 1.1: ổn định GDP theo thuế
Nguồn: [37, trang 470]
Chính vì tác động của thuế đối với Nhà nước không chỉ thể hiện ở mức độ áp dụng
các sắc thuế và áp thuế suất như thế nào mà còn ảnh hưởng đến mức độ ổn định thu thuế
về mặt thời gian. Thậm chí, những dao động này đôi khi làm trầm trọng thêm các tình hình
Giá tr

tổng
sản
phẩm
qu
ốc
Th
ời gian

F

F'

Thu
nhập
qu
ốc
Thu
thuế

Thu

d
ụng của
nhóm 2
Đ
ộ hữu dụng của nhóm 1

A
A

I

Về lý thuyết, khi đánh thuế thì đường giới hạn ngân sách sẽ tăng bằng đúng mức
thuế. Trên thực tế mức thuế nộp sẽ ít hơn do đường bàng quang của người tiêu dùng thay
đổi (Đồ thị 1.3).
Đồ thị 1.3: Dạng đường bàng quan và sự mất trắng
Điểm E* và E" để có mức thỏa dụng như nhau những mức thuế A"E" nhiều hơn
mức thuế thực tế người tiêu dùng nộp là AE* một khoản là E*F. Khoản này người tiêu
dùng cũng không được lợi thêm so với mức hữu dụng ở điểm E" mà Nhà nước cũng không
thu được nên gọi là sự mất trắng.
Nguồn: [37, trang 488-489].
Nếu không đánh thuế thì người tiêu dùng được lợi do mua hàng với giá rẻ. Khi
đánh thuế đối tượng chịu thuế thường có phản ứng nên gây ra sự lệch lạc số thuế có thể
thu được. Phản ứng của đối tượng chịu thuế có thể là hạn chế tiêu dùng, dùng sản phẩm
thay thế v.v Những phản ứng đó tác động đến mức thu thuế khi đánh thuế. Phần mất

F

Đường giới hạn
ngân sách trư
ớc
Đường giới ngân
sách khi đánh

Đồ thị 1.4: Đường khả thi sản xuất và khả năng sản xuất
do tác động của thuế
Thuế gây méo mó và đường khả thi sản xuất sẽ nằm trong bên dưới đường khả
năng sản xuất.
Nguồn: [37, tr. 493].
Do vậy, khi sử dụng công cụ thuế trong quản lý nhà nước phải tăng cường các biện
pháp giảm độ trễ của thuế, hạn chế sự mất trắng và điều hòa hợp lý công bằng và hiệu quả
đồng thời kích thích tối đa khả năng sản xuất của xã hội.
1.3.2. Tác dụng đối với các doanh nghiệp
Thuế đối với các DNCN được phân tích ở đây chủ yếu là các DNCNNQD. Thuế
được coi là khoản trích nộp ngân sách nhằm hợp thức hóa các hoạt động kinh doanh của
DN. Bất kỳ DN nào cũng đều phải nộp thuế theo luật định nhằm đảm bảo hoạt động quản
lý của Nhà nước, trong đó có hoạt động quản lý nhà nước đối với chính bản thân ngành
công nghiệp và DNCN trong ngành đó. Với vai trò trên, thuế luôn luôn có vị trí rất quan
trọng trong mọi hoạt động kinh doanh của DN, kể từ giai đoạn đầu lập dự án kinh doanh
đến cả trong quá trình kinh doanh đều phải quan tâm đến các khoản thuế Nhà nước đánh

đúng bằng thuế là Po+t thì người tiêu dùng phải chịu thuế, mặc dù trên danh nghĩa thuế
được đánh vào người sản xuất, nhưng người tiêu dùng buộc phải trả qua giá.

Đồ thị 1.5: Tác động của thuế đối với giá và lượng
Thuế làm đường cung dịch lên bằng đúng khoản thuế và làm giảm lượng tiêu dùng
và nâng giá mà người tiêu dùng phải trả.
Nguồn: [37, trang 490].
Nhưng khi giá tăng lên thì người tiêu dùng sẽ giảm lượng tiêu dùng và tác động
cho đường cầu dịch chuyển xuống. Trong trường hợp trên, giá tăng đúng bằng thuế, do đó
toàn bộ gánh nặng thuế do người tiêu dùng phải chịu. Điều này xảy ra khi đường cung
nằm ngang hoàn toàn, hoặc khi đường cầu hoàn toàn thẳng đứng (khi các cá nhân luôn tiêu
Giá
(đôl
a)

Đường cung sau khi
đánh thu
ế

Đường cung trư
ớc
khi đánh thuế
E
1

Trích đoạn Quan điểm ba: Kết hợp hài hòa giữa thuế trực thu và gián thu Quan điểm bốn: Luật pháp hóa các nguồn thu vào NSNN Cải tiến phương pháp tính và áp thuế suất Hoàn thiện hệ thống hóa đơn chứng từ, cơ chế thu nộp thuế và cơ chế giảm giá Xây dựng hệ thống thuế đơn giản và thống nhất
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status