Đề tài “Thực trạng và những giải pháp chủ yếu nhằm phát triển ngành nghề truyền thống ở tỉnh Hà Nam” doc - Pdf 11

ĐỀ TÀI
Thực trạng và những giải pháp
chủ yếu nhằm phát triển ngành
nghề truyền thống ở tỉnh Hà Nam
1
II. C I M VÀ PHÂN LO I LÀNG NGH TRUY N TH NGĐẶ Đ Ể Ạ Ề Ề Ố 8
T ng s lao ngổ ố độ 14
II. TH C TR NG PHÁT TRI N NGÀNH NGH TRUY N TH NG T NH Ự Ạ Ể Ề Ề Ố Ở Ỉ
HÀ NAM 16
Ph ng h ng ch y uươ ướ ủ ế 27
Ki n ngh c a sinh viênế ị ủ 35
2
LỜI NÓI ĐẦU
Ngành nghề truyền thống là những nghề đã có từ lâu đời, với nhiều sản
phẩm nổi tiếng. Trong điều kiện nền kinh tế nước ta hiện nay, ngành nghề
nông thôn nói chung và ngành nghề truyền thống nói riêng có vai trò rất quan
trọng, chúng là một bộ phận cơ bản của công nghiệp nông thôn. Các ngành
nghề nông thôn có khả năng thu hút nhiều lao động góp phần tích cực giải
quyết tình trạng thất nghiệp, tăng thu nhập cho người lao động nhất là vùng
nông thôn.
Hà Nam là một tỉnh thuần nông, dân số nông thôn chiếm khoảng 90%
và trên 80% lực lượng lao động của cả tỉnh. Tuy nhiên, ngành nghề truyền
thống lại tập trung chủ yếu ở nông thôn. Trong quá trình phát triển kinh tế nói
chung của toàn tỉnh, ngành nghề nông thôn có đóng góp đáng kể. Nhưng mặc
dù trong mấy năm gần đây Nhà nước đã có những chính sách tích cực, tỉnh
cũng tạo điều kiện cho các cơ sở sản xuất đầu tư phát triển ngành nghề nông
thôn trong tỉnh, đặc biệt là ngành nghề truyền thống. Vì vậy trong mấy năm
gần đây ngành nghề nông thôn trong tỉnh đã đạt được những thành tựu đáng
kể, góp phần xoá đói giảm nghèo, tăng thu nhập cho người nông dân. Tuy
nhiên, các ngành nghề ở tỉnh vẫn còn gặp nhiều khó khăn. Sự sống còn của
các ngành nghề truyền thống trong tỉnh vẫn hết sức bấp bênh, trôi nổi theo cơ

dệt lụa, dệt thổ cẩm, đục đá, chạm bạc, mây giang đan, thêu ren trong đó có
nhiều lang nghề khá nổi tiếng như: gốm Hương Canh (Vĩnh Phúc), Thổ Hà
(Bắc Giang), Phù Lãng (Bắc Ninh), đúc đồng Đại Bái (Bắc Ninh), khảm trai
Chuông Tre (Hà Tây), mây tre đan Hà Tây, sơn Phú Xuyên (Ninh Bình),
chiếu cói Phát Diệm (Ninh Bình), chạm bạc Đồng Sâm (Thái Bình), khắc gỗ
Kim Thiều, Phù Khê (Bắc Ninh)
1. Khái niệm làng nghề
Nông thôn Việt Nam đã gắn liền với các thôn làng và các làng nghề.
Chúng là đặc trưng trong truyền thống kinh tế văn hoá của xã hội nông thôn
Việt Nam.
Tuy nhiên cho đến nay vẫn chưa có một khái niệm chính thống về "làng
nghề".Có thể cho rằng, làng nghề là một thiết chế gồm hai yếu tố cấu thành là
"làng" và "nghề". Làng là một địa vực, một không gian lãnh thổ nhất định, ở
đó tập hợp những người dân cư quần tụ lại cùng sinh sống và sản xuất. Các
làng nghề gắn bó với các ngành nghề phi nông nghiệp, các ngành nghề thủ
công ở trong các thôn làng.
Vậy có thể quan niệm làng nghề là làng ở nông thôn có một hoặc một số
nghề thủ công nghiệp tách hẳn ra khỏi nông nghiệp và kinh doanh độc lập.
Thu nhập từ các nghề đó chiếm trên 50% tổng giá trị sản lượng của địa
phương (thôn, làng). Có từ 50% số hộ và số lượng trở lên trong tổng số hộ và
số lượng lao động trong làng làm các ngành nghề tiểu thủ công ngiệp.
Tuy nhiên định nghĩa trên chỉ là một thước đo tương đối về mặt định
lượng. Khi phân loại làng nghề ta thấy có làng nhiều nghề, làng nghề truyền
thống, làng một nghề, làng nghề mới
4
Làng nghề truyền thống là những làng nghề xuất hiện từ lâu đời trong
lịch sử và còn tồn tại đến ngày nay, là những làng nghề tồn tại hàng trăm
năm, thậm chí hàng ngàn năm có liên quan chặt chẽ đến yếu tố truyền thống
và kinh nghiệm dân gian được tích luỹ lại qua nhiều thế hệ.
Làng nghề mới là những làng nghề xuất hiện do sự phát triển lan toả của

phát triển nông thôn và xây dựng nông thôn mới.
Sự phát triển ngành nghề truyền thống nông thôn trong những năm qua
đã có nhiều đóng góp cho sự phát triển kinh tế - xã hội, đã khẳng định vai trò
tác dụng tích cực của nó trong quá trình phát triển đất nước nói chung, phát
triển nông nghiệp và kinh tế nông thôn nói riêng.
Thứ nhất: Phát triển làng nghề truyền thống thu hút nhân lực, tạo thêm
việc làm cho người lao động, thúc đẩy quá trình phân công lao động ở nông
thôn.
Giải quyết việc làm cho người lao động là vấn đề bức xúc số một hiện
nay, bởi dân số và lao động gia tăng nhanh, diện tích canh tác trên đầu người
thấp và ngày càng thu hẹp, khả năng thu hút lao động hiện rất thấp, tỷ lệ thất
nghiệp và bán thất nghiệp cao. Hơn nữa, khu vực nông thôn hiện nay đang sử
dụng khoảng 70% lực lượng lao động xã hội nhưng khoảng hơn 1/4 thời gian
lao động của họ chưa được sử dụng.
Bảng 01:tỉ lệ sử dụng thời gian lao động ở nông thôn.
Tỷ lệ sử
dụng TGLĐ
năm 1996
(%)
Tỷ lệ sử
dụng TGLĐ
năm 2004
(%)
Tỷ lệ sử
dụng TGLĐ
năm 2005
(%)
Tăng/giảm tỉ
lệ sd TGLĐ
năm 2005 so

ST
T
Ngành nghề Thu nhập bình quân
1 Lao động làng gốm (Bát Tràng) 630 000
2 Thợ điêu khắc gỗ (Hà Tây) 900 000
3 Thợ chạm bạc (Thái Bình) 720 000
4 Thợ thêu ren (Thanh Liêm - Hà Nam) 680 000
Nguồn: Kết quả điều tra ngành nghề nông thôn 2005
Thứ ba:Sự phát triển các làng nghề - ngành nghề truyền thống đã thúc
đẩy quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông thôn, góp phần tăng trưởng
(GDP).
Bảng 03: Cơ cấu tổng sản phẩm trong nước.
Đơn vị: %
Năm 2000 2002 2003 2005 2007 2010
(ước tính)
GDP 100 100 100 100 100 100
Nông nghiệp 24,53 22,99 21,8 20,89 19,34 15 – 16%
Công nghiệp 36,73 38,55 39,97 41,03 41,90 43 – 44%
Dịch vụ 38,74 38,46 38,23 38,10 38,76 40 – 41%
Nguồn: Số liệu kinh tế - xã hội tổng cục thống kê
Phát triển làng nghề - ngành nghề truyền thống nông thôn góp phần tăng
trưởng GDP, tạo ra khối lượng hàng hoá đa dạng và phong phú phục vụ tiêu
dùng và xuất khẩu, là một trong những nội dung quan trọng đối với quá trình
chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp nông thôn theo hướng giảm dần tỷ
trọng nông nghiệp, tăng dần tỷ trọng công nghiệp - dịch vụ trong nề kinh tế
quốc dân.
7
Thứ tư: Phát triển làng nghề truyền thống đã góp phần gia tăng giá trị
sản phẩm của các địa phương. Sự phát triển các làng nghề, ngành nghề truyền
thống đã đóng vai trò rất quan trọng trong việc phát triển kinh tế xã hội ở địa

phương thức dạy nghề và truyền nghề trở nên đa dạng và phong phú hơn.
8
Làng nghề truyền thống là một cụm dân cư sinh sống tạo thành làng quê
hay phường hội. Đó chính là cộng đồng nhỏ về văn hoá. Những phong tục,
tập quán, đền thờ, miếu mạo của mỗi lang xã vừa có nét chung của văn hoá
dân tộc, vừa có nét riêng của mỗi làng quê, làng nghề. Các sản phẩm của làng
nghề truyền thống làm ra là sự kết tinh, sự giao lưu và phát triển các giá trị
văn hoá, văn minh của dân tộc.
Các làng nghề có đặc điểm là thường yêu cầu vốn đầu tư không lớn
nhưng có khả năng thu hút nhiều lao động, mang lại hiệu quả kinh tế - xã hội
cao.
Làng nghề gắn bó chặt chẽ không tách rời với nông nghiệp nông thôn
về lao động, nguyên liệu, thị trường Ở nông thôn gần như 100% người làm
làng nghề đều có đất nông nghiệp, có thể do họ canh tác hoặc phần lớn là cho
thuê hoặc nhượng cho người khác canh tác. Trong điều kiện toàn cầu hoá nền
kinh tế thế giới như hiện nay, sự cạnh tranh ngày càng mạnh mẽ, nếu phải
xem xét để tìm ra được những sản phẩm có sức cạnh tranh trên thị trường
quốc tế của những nước đang phát triển như Việt Nam thì trên hết phải kể đến
sản phẩm của các làng nghề thủ công truyền thống.
2.Phân loại ngành nghề - làng nghề truyền thống.
2.1.Nhóm ngành nghề truyền thống
*Nhóm 1: Chế biến nông - lâm - thuỷ sản: bao gồm các ngành nghề sau:
Làm nón, dệt chiếu, thợ mộc, bánh đa nem, tương, chế biến gỗ, bún bánh, đậu
phụ, chế biến gỗ, rượu
*Nhóm 2: Công nghiệp - tiểu thủ công nghiệp và xây dựng: Bao gồm
các ngành nghề chủ yếu sau: dệt, thêu, mây giang đan, bao manh, gốm sứ, sơn
mài, chạm khắc gỗ, thảm, chạm mạ vàng bạc, đúc đồng, dệt tơ tằm, dệt vải
các loại, sừng, hàn, rèn
*Nhóm 3: Ngành nghề khác: Bao gồm một số nghề như sau: dịch vụ
thương mại mại, vận tải

trong việc phát triển kinh tế lãnh thổ của khu vực nông thôn và xây dựng
nông thôn mới.
Đồng thời ta thấy thực tế ở khu vực nông thôn hiện nay nổi lên một số
vấn đề sau:
Lao động ở nông thôn đang dư thừa rất lớn, đồng thời thời gian sử dụng
lao đọng ở nông thôn rất thấp: Năm 2005 tỷ lệ sử dụng thời gian lao động ở
nông thôn mới đạt 80,65% tổng quỹ thời gian lao động. Trong khi đó quỹ đất
nông nghiệp rất thấp (trung bình 0,1 ha/người) và ngày càng bị thu hẹp
nhường chỗ cho những khu dân cư, khu đô thị Vì vây, cần phải phát triển
các ngành nghề phụ một cách mạnh mẽ nhằm sử dụng quĩ thời gian nhàn dỗi
của nông dân.
10
Thu nhập của người lao động làm nông nghiệp rất thấp. Ta thấy, bình
quân đất nông nghiệp là 0,1 ha/người, mà thu nhập của 1 ha đất làm nông
nghiệp là 15 triệu đồng/năm. Như vậy, thu nhập của 1 lao động làm nông
nghiệp bình là 1,5 triệu đồng/người/năm. Do đó cần thiết phải phát triển
ngành nghề nông thôn nói chung và ngành nghề truyền thống nói riêng nhằm
tăng thu nhập cho người dân.
Khu vực nông thôn hiện nay thì hầu như vùng nào cũng có ngành nghề
phụ; mà đội ngũ lao động thì rất dồi dào. Đó là điều rất thuận lợi cho phát
triển ngành nghề nông thôn. Thực tế đã cho thấy ở những làng nghề nào phát
triển được nghề truyền thống thì ở đó người dân ai cũng đủ việc làm, có thu
nhập cao, đời sống ổn định và được cải thiện, bộ mặt nông thôn ngày càng
được thay đổi nhanh chóng, xóm làng ngày càng văn minh và tươi đẹp.
Tóm lại, sự phát triển ngành nghề tiểu thủ công nghiệp dưới hình thức
các làng nghề sẽ tạo ra thu nhập cao, ổn định đời sống dân cư làng nghề, qua
đó thúc đẩy nhanh quá trình tích tụ ruộng đất. Với tình trạng ruộng đất manh
mún như hiện nay, nếu không thực hiện được quá trình tích tụ tập trung ruộng
đất thì sẽ không đưa được nền nông nghiệp sang sản xuất hàng hoá. Quá trình
chuyển đổi nông nghiệp nông thôn sang sản xuất hàng hoá đòi hỏi phải tạo ra

đường 21: Sơn Tây-Hoà Mạc-Xuân Mai-Miếu Môn được hình thành, cầu Yên
Lệnh thông sang Hưng Yên được xây dựng… sẽ tạo nhiều thuận lợi cho Hà
Nam giao lưu với các trung tâm kinh tế, văn hoá của cả nước và vùng Đồng
bằng sông Hồng, các tỉnh phía Tây Bắc- Bắc Bộ.
Hà Nam là một tỉnh vừa có đồi núi (tập trung ở hai huyện Kim Bảng và
Thanh liêm) và đồng bâừng, có trữ lượng tài nguyên khoáng sản lớn chủ yếu
là đá vôi với trữ lượng 7,4 tỷ m
3
, chất lượng tốt (đạt yêu cầu làm xi măng mác
12
cao), dễ khai thác, gần thị trường tiêu thụ, ngoàI ra còn nhiều mỏ sét, nhiều đá
quý… rất thuận lợi cho việc phát triển công nghiệp sản xuất vật liệu xây
dựng.
Hà Nam có nhiều dãy núi đá vôi với các hang động, cảnh quan đẹp,
nhiều khu di tích lịch sử, đền chùa, gần khu du lịch chùa Hương (huyện Mỹ
Đức-Hà Tây)… nên có tiềm năng rất lớn cho phát triển cho ngành du lịch.
Khi du lịch phát triển cũng sẽ tạo đIều kiện cho ngành nghề, du lịch phát
triển.
Tỉnh Hà Nam có 5 huyện: Kim Bảng, Lý Nhân, Duy Tiên, Bình Lục, và
Thị xã Phủ Lý- Trung tâm kinh tế – chính trị – văn hoá của tỉnh. Toàn tỉnh có
116 xã, phường.
Tổng diện tích tự nhiên là 84 950 ha. Dân số thành thị chiếm 9,0%, dân
số nông thôn chiếm 91,0%. Mật độ dân số khoảng 950 người/km
2
.
Hà Nam là một tỉnh có truyền thống sản xuất nông nghiệp từ lâu đời,
năng suất lúa đạt cao. Nguồn nguyên liệu cho phát triển ngành nghề rất phong
phú như: lương thực thực phẩm, đay
Do nhiều thuận lợi về điều kiện tự nhiên, giao thông nên các hoạt
động sản xuất phi nông nghiệp ở Hà Nam đã phát triển từ rất lâu đời, có nhiều

1997 2000 2002
Tổng số lao động LĐ 306 258 388 903 410 708
- Nông nghiệp % 83,30 81,45 76,00
- Công nghiệp % 7,80 8,20 12,30
- Dịch vụ % 8,90 10,35 11,70
Nguồn: Niên giấm thống kê tỉnh Hà Nam
Lao động nông nghiệp chiếm tỷ trọng lớn là một thách thức trên con
đường phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh. Để thực hiện thành công sự nghiệp
công nghiệp hoá- hiện đại hoá nông nghiệp nông thôn thì phải từng bước thực
hiện chuyển dịch cơ cấu lao động ngay tại vùng nông thôn, phải chú trọng
phát triển công nghiệp nông thôn mà trước hết là tạo điều kiện cho các ngành
nghề tiểu thủ công nghiệp, thủ công nghiệp phát triển.
Tuy nghiên, lực lượng lao động của tỉnh Hà Nam khá dồi dào, trẻ, cần
cù chịu khó là tiềm năng cho phát triển các ngành kinh tế của tỉnh nói chung
và ngành nghề nông thôn nói riêng.
2.3. Cơ sở hạ tầng kinh tế - kỹ thật.
Tỉnh Hà Nam là một trong những tỉnh sớm hoàn thiện hệ thống đường
giao thông nông thôn. Hiện nay, 100% số xã có đường ô tô đến tận trung tâm
xã, 100% số xã có điện lưới quốc gia. Tuy nhiên, hiện nay hệ thống lưới điện,
đường giao thông nông thôn đang xuống cấp trầm trọng.
14
Tỉnh Hà Nam là một trong những tỉnh được Nhà nước công nhận phổ
cập giáo dục tiểu học và trung học cơ sở sớm so với cả nước. Trình độ dân trí
cao thì khả năng tiếp thu công nghệ mới, thay đổi mẫu mã có nhiều sản thuận
lợi, đáp ứng nhu cầu về chất lượng sản phẩm ngày càng tăng của quá trình hội
nhập kinh tế.
2.4. Phong tục, tập quán.
Hà Nam là một trong các tỉnh thuộc khu vực kinh tế Đồng bằng sông
Hồng. Do đó có những nét chung về phong tục tập quán cổ truyền của cả
vùng. Cũng là vùng mang đặc trưng của nền văn hoá lúa nước, dân số chủ yếu

thành, phát triển và biến đổi của các nghề, các trung tâm sản xuất hàng thủ
công. Nó sẽ giúp cho chúng ta những căn cứ để suy nghĩ, tính toán và từ đó
có cơ sở để hoạch định chính sánh phát triển làng nghề và ngành nghề trong
bối cảnh đổi mới mở cửa, đẩy nhanh nhịp độ phát triển nền kinh tế, xã hội
theo hướng công nghiệp hiện đại.
1. Số lượng và quy mô làng nghề tỉnh Hà Nam
Hiện nay, Hà Nam có tổng cộng là 40 làng nghề, trong đó có 16 làng
nghề truyền thống và 24 làng nghề mới.
Xét trên tiêu chí chủng chủng ngành nghề, ở Hà Nam bao gồm các
ngành nghề chủ yếu sau:
+ Làng nghề chế biến nông sản thực phẩm
+ Làng nghề dệt may
+ Làng nghề thủ công mỹ nghệ
+ Làng nghề cơ khí
Trong đó làng nghề thủ công mỹ nghệ chiếm 65% tổng số làng nghề
hiện có ở tỉnh, đây là nhóm làng nghề đang phát triển rất mạnh mẽ trong toàn
tỉnh và sản phẩm của các làng nghề này đang rất được ưa chuộng trên thị
trường đặc biệt là thị trường nước ngoài. Làng nghề chế biến nông sản thực
phẩm cũng chiếm tới 20% tổng số làng nghề trong tỉnh, làng nghề dệt may
chiếm 12,5%, làng nghề cơ khí chiếm 2,5% (chỉ có một làng nghề) .
Nếu chia theo nhóm nghề ta có như sau: Mây giang đan,Thêu ren,Sản
xuất bánh đa nem, Chế biến lương htực phẩm, Cơ khí, Làm trống, Sừng,
Nghề dệ, may, ươm tơ …
Trong đó thì chỉ có một số làng nghề là làng nghề truyền thống, còn lại
là làng nghề mới. Nổi bật nhất và hiệh đang phát triển mạnh là những làng
nghề thủ công mỹ nghệ truyền thống như: dệt lụa Nha Xá (Duy Tiên), mây
giang đan Ngọc Động (Duy Tiên), thêu ren Thanh Hà (Thanh Liêm)… ngoài
ra một số làng nghề hiện nay đang hoạt động cầm chừng, sản xuất mang tính
chất gìn giữ nghề truyền thống do gặp một số khó khăn trong sản xuất, đặc
16

thống nói riêng ở tỉnh Hà Nam vẫn còn nhỏ lẻ, đa số vãn là hộ gia đình ngành
nghề kiêm làm nông nghiệp.
2. Lao động và chuyên môn, kĩ thuật của lao động ngành nghề
truyền thống
17
Trung bình diện tích canh tác trên nhân khẩu toàn tỉnh là 448 m
2
/nhân
khẩu. Đặc biệt ở một số địa còn rất thấp như ở Thanh Hà (Thanh Liêm) diện
tích canh tác bình quân là 346 m
2
/nhân khẩu; ở Ngọc Động (Duy Tiên) diện
tích canh tác chỉ là 324 m
2
/nhân khẩu; ở Nguyên Lý (Lý Nhân) bình quân 342
m
2
/nhân khẩu.
Cũng chính vì diện tích canh tác thấp (chưa đạt 1 sào Bắc Bộ trên một
đầu người) nên lực lượng lao động ngành nghề nông thôn rất lớn.
Lực lượng lao động ngành nghề tập trung chủ yếu ở hình thức hộ gia
đình làm nông nghiệp kiêm hoạt động ngành nghề (chiếm 73,3% tổng lao
động ngành nghề), các thành viên trong gia đình tham gia sản xuất ngành
nghề trong những lúc nông nhàn; hộ chuyên ngành nghề ở tỉnh hiện vẫn
chiếm tỷ lệ nhỏ (9,5% tổng lao động ngành nghề). Theo loại ngành nghề thì
lực lượng lao động ngành nghề nông thôn tập trung ở hai nhóm chính là sản
xuất tiểu thủ công nghiệp- công nghiệp (chiếm 50%) và chế biến lương thực
thực phẩm (chiếm 16%).
Như vậy, sự phát triển của ngành nghề truyền thống ở tỉnh đã tạo ra
hàng nghìn chỗ làm việc cho người nông dân những lúc nông nhàn, giải quyết

gian tới cần phải có những biện pháp nâng cao chất lượng lao động, nhất là
những người quản lý trong các cơ sở chuyên ngành nghề, có như thế thì
ngành nghề nông thôn nói chung và ngành nghề truyền thống nói riêng mới
có thể phát triển vững chắc được.
3. Vốn đầu tư cho sản xuất ngành nghề.
Vốn là yếu tố quan trọng đảm bảo cho các làng nghề, ngành nghề truyền
thống hoạt động được trong cơ chế thị trường. Nhu cầu về vốn cho sản xuất ở
các làng nghề đòi hỏi ngày càng lớn. Trước đây, vốn của các hộ sẳn xuất
kinh doanh trong các làng nghề rất nhỏ bé, thường là vốn tự có của các hộ gia
đình hoặc vay mượn bà con họ hàng, láng giềng, nên quy mô sản xuất không
được mở rộng. Ngày nay, trong trong điều kiện của nền kinh tế thị trường
cạnh tranh khốc liệt, nhu cầu về vốn đã khác trước, đòi hỏi các hộ, cơ sở sản
xuất kinh doanh trong các làng nghề phải có lượng vốn khá lớn để đầu tư cải
tiến công nghệ, đưa thiết bị máy móc tiên tiến vào một số khâu, công đoạn,
khâu công việc có thể thay thế kỹ thuật lao động thủ được. Nhằm nâng cao
năng suất lao động, chất lượng sản phẩm để đáp ứng nhu cầu của thị trường.
So với các làng nghề trong cả nước ở Hà Nam mức vốn đầu tư không
lớn. Hầu như ở Hà Nam ngành nghề đều có mức đầu tư thấp như: mây giang
đan, thêu làm nón nhưng đối với các cơ sở thì mức đầu tư tương đối cao
đối với các nghề này.
Tỷ lệ hộ/cơ sở phải đi vay vốn chiếm từ 25 - 60% trong đó, đối với cơ
sở chuyên ngành nghề tỷ lệ vay ngân hàng đạt tỷ lệ cao 76,9% so với 28,53%
hộ chuyên và 21,52% hộ kiêm. Như vậy, tỷ lệ vốn vay từ ngân hàng còn rất
thấp đối với hộ gia đình hoạt động ngành nghề, nguồn vốn từ các chương
trình Nhà nước không đáng kể, mặc dù phát triển ngành nghề nông thôn là
19
một chương trình kinh tế lớn của Hà Nam song xem ra còn thiếu những biện
pháp cụ thể như hỗ trợ vốn cho người sản xuất.
Yêu cầu về vốn đầu tư ban đầu cho các ngành nghề ở Hà Nam thường
không lớn, đây là một thuận lợi cho việc phát triển các làng nghề. Tuy nhiên,

đa dạng.
20
Mặc dù chủng loại sản phẩm ngành nghề rất phong phú đa dạng nhưng
chất lượng sản phẩm chưa cao; một số nghề chưa có sản phẩm mạng tính
nghệ thuật, truyền thống và đòi hỏi tay nghề của người thợ. Như sản phẩm
gốm sứ, mây giang đan, thêu ren vẫn là những sản phẩm rất giản đơn chiếm
tỷ trọng lớn trong tổng số lượng sản phẩm của ngành nghề đó.
Nhìn chung chất lượng sản phẩm là do trình độ của người lao động
quyết định trực tiếp vì hầu hết ngành nghề ở Hà Nam là nghề thủ công, tiếp
đến là yếu tố công nghệ, thiết bị (mẫu mã hàng hoá) cũng có ảnh hưởng trực
tiếp đến chất lượng sản phẩm.
Vậy, nhìn chung sản phẩm của ngành nghề nông thôn tỉnh Hà Nam tuy
phong phú, đa dạng nhưng chất lượng sản phẩm không cao, nhiều sản phẩm
của làng nghề truyền thống nhưng lại rất giản đơn, chưa mang được tính nghệ
thuật, truyền thống. Điều này ảnh hưởng rất lớn tới việc cạnh tranh trên thị
trường đối với sản phẩm cùng loại của điạ phương khác. Nhiều khi các cơ sở
chỉ chạy theo những hợp đồng mua bán sản phẩm trước mắt mà không nghĩ
tới những sản phẩm có chất lượng cao, đòi hỏi tính nghệ thuật cao, độ tinh
xảo của bàn tay người thợ và mang nét đặc trưng của nghề truyền thống, của
làng nghề. Đây là một hạn chế rất lớn vì để phát triển lâu dài và bền vững thì
cần phải hướng tới những sản phẩm đó. Vì vậy, các cấp, các ngành của tỉnh
phải có các biện pháp khuyến khích, tìm thị trường tiêu thụ cho những sản
phẩm này, giúp các làng nghề phát triển manh mẽ hơn.
4.2.Thị trường tiêu thụ
Việc tiêu thụ sản phẩm cho ngành nghề truỳen thống ở tỉnh Hà Nam chủ
yếu được thông qua các cơ sở lớn tập trung ở các làng nghề truyền thống. Đây
là những người có vốn, có tay nghề giỏi, có kinh nghiệm buôn bán đứng ra
thu gom sản phẩm rồi chuyển đến nơi tiêu thụ hoặc chuyển đến đầu mối tiêu
thụ lớn hơn. Hầu hết các sản phẩm của ngành nghề như: thêu ren, mây giang
đan, sừng mỹ nghệ hầu hết được sản xuất theo các hợp đồng xuất khẩu, các

nông dân. Những chỉ tiêu kinh tế xã hội mà các làng nghề đã đạt được, khẳng
định vai trò to lớn của làng nghề trong việc đẩy nhanh tốc độ chuyển dịch cơ
cấu kinh tế, cơ cấu lao động, tiến lên thực hiện thành công sự nghiệp công
nghiệp hoá, hiện đại hoá nông thôn. Số lao động ngành nghề nói chung, ở
trong các làng nghề nói riêng không ngừng tăng lên. Các ngành nghề ở nông
thôn Hà Nam đã góp phần huy động nguồn vốn nhàn rỗi trong nhân dân để
đầu tư sản xuất. Chúng khai thác tốt các nguồn lực sẵn có ở địa phương, để
tạo thành những sản phẩm có chỗ đứng trên thị trường.
Đạt được những kết quả trên là do các yếu tố sau.
- Cấp uỷ Đảng và chính quyền các cấp đã quán triệt sâu sắc, nhận thức
rõ vai trò, vị trí phát triển nghề và làng nghề trong mối quan hệ chuyển dịch
cơ cấu kinh tế nông nghiệp, nông thôn, nên đã tích cực xây dựng các chương
trình, các dự án phát triển sản xuất, huy động mọi tiềm lực, tạo điều kiện cho
các làng nghề phát triển.
22
- Vốn đầu tư cho cho một chỗ làm việc trong các làng nghề thấp hơn
nhiều so với các doanh nghiệp lại tận dụng được cơ sở vật chất kỹ thuật hiện
có của địa phương và mỗi gia đìmh. Sự liên kết, hợp tác sản xuất, tiêu thụ
giữa doanh nghiệp và các hộ trong các làng nghề được tăng cường, có tác
động tích cực tới tìm kiếm thị trường, kể cả xuất khẩu.
- Sức ép ngày càng tăng của việc giải quyết công ăn việc làm, tăng thu
nhập cho dân cư, tình trạng mất đất canh tác trong khi dân số ngày càng tăng
chính là động lực bên trong quan trọng nhất, thôi thúc người lao động và gia
đình họ tìm kiếm việc làm, thậm chí họ chấp nhận mức tiền công rất thấp chỉ
4000-5000 đ/ngày
- Đạt được kết quả đó phải kể đến sự mạnh dạn đầu tư dám nghĩ, dám
làm năng động bươn trải tìm kiếm thị trường của một số gia đình cũng như cơ
sở làm nghề. Chính họ là người có đóng góp lớn vào việc khôi phục và phát
triển các ngành nghề truyền thống ở mỗi địa phương
- Ngoài ra sự phát triển của làng nghề trong những năm qua còn do tốc

xuất xen kẽ với dân cư.
Những tồn tại trên là do các nguyên nhân sau:
-Chúng ta có thể thấy rằng cả nước hiện nay đã có hàng trăm Viện
nghiên cứu khoa học nhưng chưa có một Viện chuyên nghiên cứu nghề thủ
công mỹ nghệ, chưa có một trường dạy thủ công mỹ nghệ, đào tạo hoặc
nghiên cứu kinh tế, kỹ thuật phục vụ cho việc phát triển sản xuất kinh doanh
sản phẩm thủ công mỹ nghệ, tương xứng với vị trí, vai trò và tiềm năng to lớn
của chúng trong nền kinh tế quốc dân. Có thể nói, các nghề thủ công và các
làng nghề vẫn gần như nằm ngoài sự quan tâm của các chương trình khoa học
và công nghệ.
-Phần lớn các hộ ở nông thôn Hà Nam vẫn coi làm nghề tiểu thủ công
nghiệp là một nghề phụ mặc dù có nghề mang lại thu nhập chính cho kinh tế
gia đình. Quy mô sản xuất nhỏ vốn đầu tư thấp nên việc cải tiến công nghệ và
ứng dụng tiến bộ khoa học kỹ thuật, tiếp cận thị trường còn hạn chế.
-Một thực tế ở các làng nghề hiện nay là mặc dù thiếu vốn song họ
không giám mạnh dạn vay vốn của các tổ chức tín dụng, nguyên nhân chính
của vấn đề này là do người sản xuất chưa tìm được phương án sản xuất kinh
doanh khả thi và có lợi nhuận cao.
-Ở hầu hết các ngành tiểu thủ công nghiệp hiện có đầu tư vốn và thiết bị
nói chung còn thấp, kỹ thuật sản xuất chủ yếu là thủ công.
-Hệ thống quản lý nghề và làng nghề ở nông thôn từ cấp Bộ xuống chưa
có sự thống nhất theo ngành dọc. Rõ ràng sự không đồng bộ này sẽ gây nên
nhiều khó khăn trong việc triển khai, thực hiện các chương trình hỗ trợ phát
triển làng nghề. Sự giúp đỡ của Nhà nước bằng những giải pháp hiện có chưa
mang lại hiểu quả mong muốn. Sự chỉ đạo của các cấp quản lý còn nhiều ách
tắc
24
PHẦN III: MỘT SỐ GIẢI PHÁP CHỦ YẾU NHẰM PHÁT TRIỂN
NGÀNH NGHỀ TRUYỀN THỐNG TỈNH HÀ NAM
I. MỘT SỐ QUAN ĐIỂM VÀ PHƯƠNG HƯỚNG PHÁT TRIỂN

tại, duy trì và tăng số lượng các ngành nghề tăng số hộ, số lao động trên cơ sở
đó tăng sản lượng, sản phẩm phục vụ cho nhu cầu tiêu dùng và xuất khẩu, về
25

Trích đoạn Giải pháp về vốn Hoàn thiện hệ thống chính sách pháp luật tạo môi trường lành mạnh cho các ngành nghề tồn tại và phát triển
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status