phân tích tài chính tại công ty cổ phần xi măng Sài Sơn - Pdf 11

Lời cam đoan
Em xin cam đoan đề tài thực tập tốt nghiệp là đề tài nghiên cứu của em
.Các tài liệu trích dẫn ,kết quả trong luận văn là trung thực và có nguồn gốc rõ
ràng . Hà Nội,tháng 6 năm 2010
Tác giả đề tài
Nguyễn Thành Tín
1
Lời mở đầu
Quản trị tài chính là một bộ phận quan trọng của quản trị doanh nghiệp .Tất cả
hoạt động kinh doanh đều ảnh hưởng đến tình hình tài chính của doanh nghiệp
,ngược lại tình hình tài chính tốt hay xấu lại có tác động thúc đẩy hoặc kìm hãm
quá trình kinh doanh .Do đó để phục vụ cho công tác quản lý hoạt động kinh
doanh có hiệu quả các nhà quản trị cần phải thường xuyên tổ chức phân tích tình
hình tài chính cho tương lai .Bởi vì thông qua việc tính toán ,phân tích tài chính
cho ta biết những điểm mạnh và điểm yếu về hoạt động sản xuất kinh doanh của
doanh nghiệp cũng như những tiềm năng cần phát huy và những nhược điểm cần
khắc phục .Qua đó các nhà quản lý tài chính có thể xác định được nguyên nhân
gây ra và đề xuất các giải pháp nhằm cải thiện tình hình tài chính cũng như tình
hình hoạt động kinh doanh của đơn vị mình trong thời gian tới .
xuất phát từ đó trong thời gian thực tập tại công ty cổ phần xi măng Sài Sơn
,em đã tìm hiểu thực tiễn hoạt động sản xuất kinh doanh của công ty thong qua
phân tích tình hình tài chính công ty trong vài năm gần đây nhằm nâng cao hiểu
biết của mình về vấn đề tài chính doanh nghiệp . Vì vậy ,em chọn đề tài “Phân
tích tài chính và các giải pháp nhằm tăng cường năng lực tài chính tại công ty cổ
phần xi măng Sài Sơn “làm đề tài thực tập .
Nội dung của đề tài bao gồm 3 phần :
Chương 1 : Lý luận chung về tài chính doanh nghiệp và phân tích tình hình
tài chính doanh nghiệp

1.1. Vai trò của tài chính doanh nghiệp
1.1.1. Khái niệm doanh nghiệp
1.1.2. Khái niệm tài chính doanh nghiệp
1.1.3. Vai trò của tài chính doanh nghiệp
1.2. Sự cần thiết của phân tích tài chính doanh nghiệp
1.2.1. Đối với nhà quản trị doanh nghiệp
1.2.2. Đối với các nhà đầu tư
1.2.3. Đối với người cho vay, nhà cung cấp vật tư, hàng hoá, dịch vụ, các cơ
quan quản lý nhà nước, và các đối tượng khác
1.3. Phân tích tài chính doanh nghiệp
1.3.1. Quy trình phân tích tài chính
1.3.2.1 Bảng cân đối kế toán (balance sheet)
1.3.2.2 Báo cáo kết quả kinh doanh (profit and loss statement)
1.3.2.3 Báo cáo lưu chuyển tiền tệ (Cash flow statement)
1.3.2.3 Thuyết minh báo cáo tài chính (Descriptive financial statement)
1.3.3 Phương pháp sử dụng trong phân tích tài chính doanh nghiệp
1.3.3.1 Phương pháp so sánh
1.3.3.2 Phương pháp tỷ lệ
1.3.3.3 Phương pháp phân tích tài chính Dupont
1.3.4 Nội dung phân tích tài chính doanh nghiệp
1.3.4.1 Phân tích khái quát về môi trường kinh tế vĩ mô, môi trường ngành
1.3.4.2 Phân tích báo cáo tài chính doanh nghiệp
1.3.4.2.1 Phân tích khái quát tình hình tài chính doanh nghiệp thông qua các cân
bằng trên bảng cân đối kế toán.
1.3.4.2.2 Phân tích báo cáo kết quả kinh doanh
1.3.4.2.3 Phân tích khả năng thanh toán ngắn hạn
1.3.4.2.4Phân tích các chỉ số về cơ cấu tài chính và tình hình đầu tư
1.3.4.2.5 Phân tích chỉ tiêu phản ánh năng lực hoạt động của tài sản
1.3.4.2.6 Phân tích khả năng sinh lợi
1.2.4.2.7 Phân tích báo cáo lưu chuyển tiền tệ

2.1.2 Phân tích mối quan hệ giữa VLĐTX, NCVLĐ, VBT
2.1.3 Phân tích sự biến động của các nhân tố
2.1.3.1 Tính tỷ lệ giữa VLĐTX và NCVLĐ
2.1.3.2 Phân tích sự biến động của các nhân tố đến vốn lưu động thương xuyên
2.1.4 Phân tích các nhân tố ảnh hưởng đến nhu cầu vốn lưu động
2.1.5 Kết luận
2.2 Phân tích cơ cấu tài chính và tình hình đầu tư
2.2.1 Hệ số nợ và hệ số tự tài trợ
2.2.2 Hệ số nợ dài hạn
2.2.3 Tỷ suất tự tài trợ TSDH
2.2.4 Khả năng thanh toán lãi tiền vay.
2.2.5Tỷ suất đầu tư TSCĐ
2.2.6 Kết luận
2.3 Phân tích khả năng thanh toán ngắn hạn
a.Khả năng thanh toán nợ ngắn hạn (hiện thời)
b. Khả năng thanh toán nhanh tương đối
2.4 Phân tích năng lực hoạt động của tài sản
a. Phân tích tốc độ thu hồi các khoản phải thu
b. Phân tích tốc độ luân chuyển hàng tồn kho
c. Chỉ tiêu phản ánh năng lực sản xuất của TSCĐ
d. Hiệu suất sử dụng tổng tài sản
2.5 Phân tích khả năng sinh lời
a.Phân tích khả năng sinh lời doanh thu (ROS)
b. Phân tích khả năng sinh lợi tổng TS (ROA)
c. Phân tích khả năng sinh lợi VCSH
3. Phân tích dòng tiền
3.1 Lưu chuyển tiền thuần từ hoạt động đầu tư
5
3.2 Lưu chuyển tiền thuần từ hoạt động tài chính
Chương 3 .Một số giải pháp góp phần hoàn thiện công tác quản lý và phân tích

nhau nhưng nội dung và bản chất của hoạt động tài chính và giá trị tài chính cơ
bản là giống nhau.
1.1.2 Khái niệm tài chính doanh nghiệp
Tài chính là một hệ thống các mối quan hệ tiền tệ nảy sinh trong quá trình
phân phối tổng sản phẩm xã hội và thu nhập quốc dân nhằm hình thành và sử
dụng các quỹ tiền tệ phục vụ cho quá trình sản xuất kinh doanh và thực hiện các
chức năng quản lý nhà nước của doanh nghiệp.
Tài chính doanh nghiệp là một phạm trù kinh tế khách quan, gắn liền với sự
ra đời của nền kinh tế hàng hóa, tiền tệ. Mức độ phát triển của tài chính trong
doanh nghiệp phụ thuộc vào tính chất và nhịp độ phát triển của nền kinh tế hàng
hóa. Nền kinh tế tập trung bao cấp đã sản sinh ra cơ chế quản lý tài chính doanh
nghiệp là bao cấp. Nền kinh tế thị trường đã làm xuất hiện hàng loạt các quan hệ
tài chính mới. Do đó, tính chất và phạm vi của hoạt động tài chính doanh nghiệp
cũng có những thay đổi đáng kể.
Tài chính doanh nghiệp là tài chính của những tổ chức, các đơn vị sản xuất
kinh doanh có tư cách pháp nhân. Tài chính doanh nghiệp là một khâu quan
trọng trong hệ thống tài chính quốc gia, ở đó diễn ra các quá trình sản xuất kinh
doanh như: đầu tư, cung ứng đầu vào, tiêu thụ sản phẩm hàng hóa, dịch vụ ra thị
trường. Trong đó, sự chu chuyển của vốn luôn gắn liền với sự vận động của tài
sản, vật tư, hàng hóa. Như vậy, xét về mặt bản chất thì các mối quan hệ tiền tệ và
các quỹ tiền tệ là hình thức biểu hiện bề ngoài của tài chính doanh nghiệp, mà
7
đằng sau nó ẩn dấu những quan hệ kinh tế phức tạp, những luồng tiền chuyển
dịch giá trị gắn liền với việc tạo lập và sử dụng các quỹ tiền tệ. Sự vận động đó
không chỉ bó hẹp trong một chu kỳ kinh doanh mà trực tiếp hoặc gián tiếp có
liên quan đến tất cả các khâu của quá trình tái sản xuất xã hội. Hay nói cách
khác, sự vận động của nó làm phát sinh các quan hệ kinh tế dưới hình thức giá trị
trong các khâu của quá trình tái sản xuất giữa doanh nghiệp và các đối tác trong
nền kinh tế thị trường. Những quan hệ đó tuy chứa đựng những nội dung kinh tế
khác nhau nhưng chúng có những đặc trưng giống nhau, luôn luôn tồn tại và

- Đòn bẩy kích thích và điều tiết kinh doanh.
8
Vai trò này của tài chính doanh nghiệp được thể hiện thông qua việc tạo sức
mua hợp lý để thu hút vốn đầu tư, lao động, vật tư, dịch vụ, đồng thời xác
định giá bán hợp lý khi tiêu thụ hàng hóa, cung cấp dịch vụ và thông qua
hoạt động phân phối thu nhập của doanh nghiệp, phân phối quỹ khen
thưởng, quỹ lương, thực hiện các hợp đồng kinh tế.
- Giám sát, kiểm tra chặt chẽ hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp.
Tình hình tài chính của doanh nghiệp là một tấm gương phản ánh trung thực
nhất mọi hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp. Thông qua các chỉ tiêu tài
chính mà các nhà quản lý doanh nghiệp dễ dàng nhận thấy thực trạng quá
trình kinh doanh của doanh nghiệp, phát hiện kịp thời những vướng mắc, tồn
tại để từ đó đưa ra các quyết định điều chỉnh các hoạt động kinh doanh nhằm
đạt tời các mục tiêu đã đinh.
Vai trò của tài chính doanh nghiệp sẽ trở nên tích cực hay thụ động trước hết
là phụ thuộc vào môi trường kinh doanh, cơ chế tổ chức tài chính doanh
nghiệp và các nguyên tắc cần quán triệt trong hoạt động tài chính của doanh
nghiệp.
1.2 Sự cần thiết của phân tích tài chính doanh nghiệp
Tài chính doanh nghiệp là những quan hệ tiền tệ gắn trực tiếp với việc tổ
chức huy động, phân phối, sử dụng và quản lý vốn trong quá trình kinh doanh.
Phân tích tài chính là một hệ thống các phương pháp, công cụ cho phép
thu thập và xử lý các thông tin trong quản lý doanh nghiệp nhằm xem xét, kiểm
tra, đánh giá tình hình tài chính, khả năng và tiềm lực của doanh nghiệp cũng
như hiệu quả của quá trình hoạt động sản xuất kinh doanh giúp cho các đối
tượng sử dụng thông tin tài chính có các quyết định tài chính, quyết định quản lý
phù hợp.
Thông qua một hệ thống các phương pháp, công cụ, kỹ thuật phân tích
giúp cho người sử dụng thông tin có thể vừa đánh giá tổng hợp toàn diện khái
quát, vừa xem xét một cách chi tiết hoạt động tài chính doanh nghiệp để qua đó

tăng trưởng và phát triển của doanh nghiệp, những rủi ro mà doanh nghiệp có thể
phải hứng chịu. Thông qua đó để họ đưa ra quyết định đầu tư một cách có hiệu
quả nhất: có nên bỏ vốn đầu tư vào doanh nghiệp hay không, nếu đầu tư thì với
khối lượng bao nhiêu và trong thời gian bao lâu?
1.2.3 Đối với người cho vay, nhà cung cấp vật tư, hàng hóa, dịch vụ, các cơ
quan quản lý nhà nước, và các đối tượng khác.
Người cho vay là các ngân hàng, các công ty tài chính, tổ chức tín dụng ...
họ phân tích tài chính để nhận biết khả năng vay và trả nợ của khách hàng. Khi
quyết định cho vay thì một trong những vấn đề mà người cho vay cần xem xét là
doanh nghiệp thực sự có nhu cầu hay không? khả năng trả nợ của doanh nghiệp
như thế nào?
Đối với các nhà cung cấp vật tư, hàng hóa, dịch vụ, họ phải quyết định
xem có cho phép khách hàng sắp tới được mua trả chậm hàng hóa hay không, họ
cần thiết phải nắm thông tin về khả năng thanh toán của doanh nghiệp hiện tại
cũng như trong tương lai ….
Đối với các cơ quan quản lý nhà nước như cơ quan thuế, cơ quan đăng ký
kinh doanh… Họ phân tích tài chính để đánh giá, kiểm tra, kiểm soát hoạt động
sản xuất kinh doanh, hoạt động tài chính tiền tệ của doanh nghiệp có đúng chính
sách chế độ và luật pháp không, tình hình thực hiện nghĩa vụ đối với nhà nước
để đề ra các biện pháp quản lý phù hợp.
Người lao động cũng quan tâm đến các thông tin về tình hình tài chính
doanh nghiệp để đánh giá triển vọng của nó trong tương lai. Những người đi tìm
việc đều có nguyện vọng được làm việc ở những công ty có triển vọng sáng sủa
với tương lai lâu dài để hy vọng có mức lương tương xứng và chỗ làm việc ổn
định. Do vậy, một công ty có tình hình tài chính và tương lai ảm đạm đang đứng
trên bờ vực phá sản sẽ không thu hút được người lao động. Các đối thủ cạnh
tranh cũng quan tâm đến khả năng sinh lợi, doanh thu bán hàng và các chỉ tiêu
tài chính khác trong điều kiện có thể để tìm biện pháp cạnh tranh với công ty.
Các thông tin về tình hình tài chính của doanh nghiệp nói chung còn được cả các
10

Bước 1: Lập kế hoạch phân tích:
- Nội dung phân tích: cần xác định rõ các vấn đề được phân tích: có thể là
toàn bộ hoạt động tài chính hoặc chỉ là một số vấn đề cụ thể nào đó như
cơ cấu vốn, khả năng thanh toán…. Đây là cơ sở để xây dựng đề cương
cụ thể để tiến hành phân tích.
- Phạm vi phân tích: Có thể là toàn đơn vị hoặc một số đơn vị được chọn
làm điểm để phân tích, tùy yêu cầu và thực tiễn quản lý mà xác định nội
dung và phạm vi phân tích thích hợp.
11
- Thời gian ấn định trong kế hoạch phân tích bao gồm cả thời gian chuẩn bị
và thời gian tiến hành công tác phân tích.
- Trong kế hoạch phân tích cần phân công trách nhiệm cho các bộ phận
trực tiếp thực hiện và bộ phận phục vụ công tác phân tích, cũng như các
hình thức hội nghị phân tích nhằm thu thập nhiều ý kiến, đánh giá đúng
thực trạng và phát hiện đầy đủ tiềm năng giúp doanh nghiệp phấn đấu đạt
kết quả cao trong kinh doanh.
Bước 2: Thu thập và xử lý thông tin:
Trong phân tích tài chính, nhà phân tích phải thu thập, sử dụng mọi nguồn
thông tin, từ thông tin trong nội bộ doanh nghiệp đến những thông tin bên
ngoài, từ những thông tin số lượng đến những thông tin giá trị, từ những
thông tin lượng hóa được đến những thông tin không lượng hóa được.
- Thông tin tài chính: Để có được nguồn thông tin này cần thu thập các kế
hoạch tài chính chi tiết và tổng hợp, các báo cáo tài chính, báo cáo kế toán
quản trị, các tài liệu kế toán chi tiết có liên quan.
- Thông tin phi tài chính: Sự phát triển của doanh nghiệp do tác động của
nhiều nhân tố trong và ngoài doanh nghiệp. Phân tích tài chính là việc
phân tích hướng tới tương lai của doanh nghiệp. Bởi vậy, ngoài các thông
tin tài chính hiện tại và quá khứ, việc phân tích tài chính doanh nghiệp
phải sử dụn nhiều thông tin phí tài chính khác: thông tin về môi trường
chung về kinh tế, chính trị, pháp luật…, thông tin về ngành mà doanh

* Sản phẩm của doanh nghiệp: Mặt hàng, chất lượng, vị trí
của sản phẩm trên thị trường, mức độ đa dạng hóa sản phẩm
trong doanh nghiệp, chu kỳ sống của sản phẩm đó.
* Thị trường của các sản phẩm trong doanh nghiệp mang
tính chất quốc tế hay nội địa, thị phần mà doanh nghiệp chiếm
lĩnh cũng như tính ổn định của thị trường….
* Chính sách của doanh nghiệp để tăng cường và bảo vệ vị
trí của mình: Chính sách dự trữ vật tư, hàng hóa, chính sách bán
hàng, chính sách giá cả, chính sách khách hàng, chính sách
quảng cáo…..
Chất lượng công tác phân tích phụ thuộc rất lớn vào chất lượng của các
thông tin thu thập được. Bởi vậy, trước khi phân tích, nhà phân tích phải kiểm tra
tính hợp pháp của tài liệu chứa đựng thông tin (trình tự lập, ban hành, người lập,
cấp thẩm quyền phê duyệt…. ) cũng như độ tin cậy của nguồn thông tin thu thập
được: tính nhất trí của cùng một thông tin kế toán trên các tài liệu khác nhau,
tính trung thực hợp lý của các thông tin kế toán….
Phạm vi kiểm tra không chỉ giới hạn ở các tài liệu trực tiếp làm căn cứ
phân tích mà cả các tài liệu khác có liên quan, đặc biệt là các tài liệu gốc.
Bước 3: Xác định những biểu hiện đặc trưng:
Tính toán các tỷ số tài chính, lập các bảng biểu theo từng nội dung đã đặt
ra, so sánh với các chỉ số kỳ trước, các chỉ số của ngành, của các doanh nghiệp
khác trong cùng một lĩnh vực hoạt động. Trên cơ sở đó, đánh giá khái quát mặt
mạnh, điểm yếu của doanh nghiệp, vạch ra những vấn đề, những trọng tâm cần
được phân tích.
Bước 4: Phân tích:
- Phân tích các nhân tố, xác định mức độ ảnh hưởng của các nhân tố đến
các chỉ tiêu phân tích.
- Phân tích các nguyên nhân thành công và nguyên nhân thất bại.
Bước 5: Tổng hợp và dự đoán:
- Tổng hợp kết quả, rút ra nhận xét, dự báo xu hướng phát triển.

Báo cáo kết quả kinh doanh là báo cáo tài chính phản ánh toàn bộ kết quả
hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp trong một thời kỳ nhất định và những
nghĩa vụ mà doanh nghiệp phải thực hiện với nhà nước.
Dựa vào số liệu trên báo cáo kết quả kinh doanh, người sử dụng thông tin
có thể kiểm tra, phân tích và đánh giá kết quả hoạt động kinh doanh của doanh
nghiệp trong kỳ, so sánh với các kỳ trước và với các doanh nghiệp khác trong
cùng ngành để nhân biết khái quát kết quả hoạt động của doanh nghiệp trong kỳ
và xu hướng vận động, nhằm đưa ra các quyết định quản lý, quyết định tài chính
phù hợp.
Báo cáo kết quả kinh doanh cho biết tình hình doanh thu, chi phí và lợi
nhuận của một doanh nghiệp trong một kỳ kế toán đã qua.
1.3.2.3 Báo cáo lưu chuyển tiền tệ (Cash flow statement)
BCLCTT là báo cáo tài chính tổng hợp phản ánh việc hình thành và sử
14
dụng lượng tiền phát sinh trong kỳ báo cáo của doanh nghiệp.
Nếu BCĐKT cho biết những nguồn lực, của cải (tài sản) và nguồn hình
thành của những tài sản đó và báo cáo kết quả kinh doanh cho biết thu nhập và
chi phí phát sinh để tính được kết quả lãi, lỗ trong một kỳ kinh doanh, thì
BCLCTT được lập để trả lời các vấn đề liên quan đến các luồng tiền vào, ra
trong doanh nghiệp, tình hình tài trợ, đầu tư bằng tiền của doanh nghiệp trong
từng thời kỳ.
Theo chuẩn mực kế toán 24 quy định: Một BCLCTT phải được chia thành
ba phần:
- Lưu chuyển tiền từ hoạt động kinh doanh
- Lưu chuyển tiền từ hoạt động đầu tư
- Lưu chuyển tiền từ hoạt động tài chính
1.3.2.3 Thuyết minh báo cáo tài chính (Descriptive financial statement)
Thuyết minh báo cáo tài chính là một bộ phận hợp thành hệ thống báo cáo
tài chính của doanh nghiệp, được lập để giải thích và bổ sung thông tin về tình
hình hoạt động sản xuất kinh doanh, tình hình tài chính của doanh nghiệp trong

quân. Nội dung so sánh gồm:
- So sánh kỳ này với kỳ trước để thấy rõ hơn xu thế thay đổi về tình hình
tài chính của doanh nghiệp. Đánh giá sự tăng trưởng hay thụt lùi trong
trong hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp.
- So sánh giữa số liệu thực hiện với số kế hoạch để thấy mức độ phấn đấu
của doanh nghiệp.
- So sánh số liệu của doanh nghiệp với số liệu của doanh nghiệp khác hoặc
với số liệu trung bình của ngành để đánh giá tình hình tài chính doanh
nghiệp là tốt hay xấu, vị thế của doanh nghiệp trên thị trường.
- So sánh theo chiều dọc để xem xét tỷ trọng của từng chỉ tiêu so với tổng
thể, so sánh theo chiều ngang của nhiều kỳ để thấy được sự biến đổi cả về
số tương đối và tuyệt đối của một chỉ tiêu nào đó qua các niên độ kế toán
liên tiếp.
Đây là một phương pháp đơn giản, dễ tính toán, dễ thực hiện. Sử dụng
phương pháp này giúp cho các nhà phân tích đánh giá được vị thế của doanh
nghiệp, tình hình tài chính của doanh nghiệp, xem xét việc thực hiện kế hoạch đã
đề ra. Thông qua đó nhà quản lý đưa ra được kế hoạch chiến lược hoạt động cho
thời gian tới. Tuy nhiên kết quả thu được khi sử dụng phương pháp này chưa
phản ánh một cách tổng quát nhất thực trạng tài chính của doanh nghiệp. Do vậy
khi tiến hành phân tích tài chính nhà phân tích thường sử dụng phối hợp nhiều
phương pháp.
1.3.3.2 Phương pháp tỷ lệ.
Là phương pháp truyền thống được áp dụng phổ biến trong phân tích tài
chính doanh nghiệp. Để áp dụng phương pháp này cần xác định được các
ngưỡng, các tỷ số tham chiếu. Để đánh giá tình trạng tài chính của doanh nghiệp
cần so sánh các tỷ số của doanh nghiệp với tỷ số tham chiếu.
Trong phân tích tài chính doanh nghiệp, các tỷ lệ tài chính được phân
thành các nhóm tỷ lệ đặc trưng, phản ánh những nội dung cơ bản theo các mục
tiêu hoạt động của doanh nghiệp. Đó là các nhóm tỷ lệ về khả năng thanh toán,
nhóm tỷ lệ về cơ cấu vốn, nhóm tỷ lệ về năng lực hoạt động kinh doanh, nhóm tỷ

1.3.4 Nội dung phân tích tài chính doanh nghiệp
1.3.4.1 Phân tích khái quát về môi trường kinh tế vĩ mô, môi trường ngành
Nhà phân tích phải phát hiện những biến động của môi trường kinh tế vĩ
mô, ngành nghề kinh doanh từ đó đánh giá sơ bộ về môi trường bên ngoài ảnh
hưởng đến sản xuất kinh doanh và tài chính của doanh nghiệp như thế nào? Xác
định xu hướng phát triển, nguy cơ cũng như cơ hội đối với doanh nghiệp.
1.3.4.2Phân tích báo cáo tài chính doanh nghiệp
1.3.4.2.1 Phân tích khái quát tình hình tài chính doanh nghiệp thông qua các
cân bằng trên bảng cân đối kế toán.
Bảng cân đối kế toán cho biết tình hình tài chính của doanh nghiệp tại
những thời điểm nhất định, nó bao gồm hệ thống các chỉ tiêu tài chính phát sinh
phản ánh từng nội dung tài sản và nguồn vốn. Như vậy, dựa vào số liệu trên bảng
cân đối kế toán ta có thể phân tích được kết cấu nguồn vốn và tài sản của doanh
nghiệp xem xét sự tăng giảm của tài sản và nguồn vốn để phân tích diễn biến
nguồn vốn và sử dụng vốn.
Để phân tích kết cấu nguồn vốn và tài sản trước hết ta xem xét quy mô
của từng loại nguồn vốn và tài sản thông qua giá trị tuyệt đối của chúng, sau đó
tính tỷ trọng của từng loại tài sản và nguồn vốn. Qua đó đánh giá được cơ cấu
của từng loại tài sản và nguồn vốn chiếm bao nhiêu % trong tổng nguồn. Ta tính
trên cả cột đầu năm và cuối kỳ để xem xét kết cấu nguồn vốn và tài sản của
doanh nghiệp trong năm có ổn định không. Ta cũng có thể so sánh kết cấu nguồn
vốn và tài sản của doanh nghiệp qua một vài năm để xem xét cụ thể biến động
của chúng qua cac năm.
Căn cứ vào mối quan hệ trên bảng cân đối kế toán, các nhà phân tích có
thể phân tích được tình hình tài chính của doanh nghiệp thông qua các chỉ tiêu
sau:
Thứ nhất: Xác định vốn lưu động thường xuyên:
17
Vốn lưu động thường xuyên là phần chênh lệch giữa nguồn vốn dài hạn
và tài sản dài hạn. Đây là một phần vốn ổn định sử dụng cho việc tài trợ tài sản

sản lưu động chưa được tài trợ bởi bên thứ 3.
Khi N/cVLĐ<0, tức là TSKD < NKD, chứng tỏ toàn bộ phần vốn chiếm
dụng từ bên thứ 3 lớn hơn toàn bộ nhu cầu vốn ngắn hạn phát sinh trong quá
trình kinh doanh của doanh nghiệp.
Thứ ba: Xác định vốn bằng tiền:
Vốn bằng tiền có thể được xác định theo 2 cách:
- Cách 1: Vốn bằng tiền = (Ngân quỹ có) – (Ngân quỹ nợ)
VBT dương hay ngân quỹ có lớn hơn ngân quỹ nợ, chứng tỏ công ty chủ
động về vốn bằng tiền. Ngược lại VBT âm thể hiện công ty bị động về VBT.
- Cách 2: Vốn bằng tiền = (Vốn lưu động thường xuyên) – (Nhu cầu vốn
lưu động)
18
VBT>0, với N/cVLĐ dương chứng tỏ VLĐTX thỏa mãn N/cVLĐ. Ngược
lại, công ty có quá nhiều tiền do chiếm dụng được vốn từ bên thứ 3 nếu N/cVLĐ
âm.
VBT<0, N/cVLĐ>0, VLĐTX>0, chứng tỏ VLĐTX chỉ tài trợ được một
phần N/cVLĐ, phần còn lại công ty phải dựa vào tín dụng ngắn hạn ngân hàng,
phần này càng nhiều, doanh nghiệp càng phụ thuộc vào ngân hàng.
1.3.4.2.2 Phân tích báo cáo kết quả kinh doanh
Số liệu trên báo cáo kết quả kinh doanh cung cấp những thông tin tổng
hợp về phương thức kinh doanh, việc sử dụng các tiềm năng vốn, lao động kỹ
thuật, kinh nghiệm của doanh nghiệp và chỉ ra rằng hoạt động kinh doanh đó
đem lại lợi nhuận hay gây ra tình trạng lỗ vốn. Nó không chỉ cung cấp số liệu về
hoạt động kinh doanh mà DN đã thực hiện trong kỳ mà còn dự báo các hoạt
động của DN trong tương lai.
Thực chất, phân tích báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh của DN là
phân tích thu nhập và chi phí.
Thứ nhất: Phân tích doanh thu và thu nhập khác của doanh nghiệp:
Về mặt lý thuyết một DN thông thường cần có nguồn thu nhập chủ yếu,
thường xuyên và ổn định là DTT từ bán hàng và cung cấp dịch vụ. Các khoản

Chỉ tiêu đo lường khả năng thanh toán phổ biến nhất là hệ số thanh toán
ngắn hạn và hệ số thanh toán nhanh.
Hệ số khả năng thanh toán ngắn hạn:
Hệ số khả năng thanh toán nợ
ngắn hạn
=
Tài sản ngắn hạn
Nợ ngắn hạn
Hệ số khả năng thanh toán nợ ngắn hạn đo lường khả năng mà các tài sản
ngắn hạn có thể chuyển đổi thành tiền để hoàn trả các khoản nợ ngắn hạn. Nếu
hệ số này cao có thể đem lại sự an toàn về khả năng thanh toán cao so với nghĩa
vụ phải thanh toán.
Nếu gặp khó khăn tài chính, công ty có thể không còn khả năng thanh
toán đúng hạn các khoản phải trả hoặc cần mở rộng hạn mức tín dụng tài ngân
hàng. Kết quả là, nợ ngắn hạn sẽ tăng nhanh hơn tài sản ngắn hạn, chỉ số thanh
toán ngắn hạn có thể giảm xuống. Đây có thể là tín hiệu đầu tiên của sự trục trặc
về tài chính. Chỉ số này chỉ thể hiện khả năng thanh toán tại một thời điểm nhất
định, vì vậy khi nghiên cứu cũng cần phải tính toán, thống kê trong một khoảng
thời gian đủ dài để có cái nhìn đầy đủ về lịch sử vận hành và phát triển của công
ty. Ngoài ra, cũng có thể so sánh chỉ số này giữa các công ty trong cùng ngành
để đánh giá hiệu quả tương đối của công ty.
Hệ số khả năng thanh toán nhanh tương đối. Hệ số này đo lường khả năng
thanh toán các khoản nợ ngắn hạn của công ty bằng việc chuyển đổi các tài sản
ngắn hạn không kể hàng tồn kho, do không phải lúc nào, nguyên vật liệu, thành
phẩm … hay quá trình từ dự trữ chuyển thành tiền cũng được diễn ra ngay nhanh
chóng mà phải trải qua một thời gian nhất đinh.
Hệ số khả năng thanh toán
nhanh tương đối
=
Tiền + ĐTTC ngắn hạn + Phải

lần lãi phải trả tiền vay. Thông thường hệ số này càng cao thì rủi ro mất khả
năng thanh toán lãi tiền vay càng thấp và ngược lại.
Ngoài ra để đánh giá khả năng thanh toán của DN có thể dung các chỉ
tiêu:
- Hệ số vòng quay khoản phải thu
- Hệ số vòng quay hàng tồn kho
Phương pháp phân tích chủ yếu là so sánh hệ số khả năng thanh toán của
doanh nghiệp giữa các kỳ khác nhau, hệ số khả năng thanh toán của DN với các
DN khác trong ngành, hệ số trung bình ngành. Tuy nhiên, để có kết luận đúng về
khả năng thanh toán của doanh nghiệp cần phải có cách nhìn toàn diện, phải thấy
được sự tác động của các nhân tố làm tăng hay giảm các chỉ tiêu.
1.3.4.2.4Phân tích các chỉ số về cơ cấu tài chính và tình hình đầu tư
Cơ cấu tài chính đề cập tới việc công ty sử dụng nguồn tài trợ từ các
khoản vay thay cho vốn cổ phần. Các tỷ lệ này được dùng để đo lường vốn góp
của các chủ sở hữu với công ty so với phần tài trợ của các chủ nợ đối với công ty
và có ý nghĩa quan trọng trong phân tích tài chính. Bởi lẽ, các chủ nợ nhìn vào
số VCSH của công ty để xem xét mức độ tin tưởng vào sự đảm bảo an toàn cho
chủ nợ về các món nợ. Nếu CSH công ty chỉ đóng góp một tỷ lệ nhỏ trong tổng
số vốn thì rủi ro trong sản xuất kinh doanh chủ yêu do chủ nợ phải gánh chịu.
Mặt khác, bằng cách tăng vốn thông qua vay nợ, chủ công ty vẫn nắm được
quyền kiểm soát và điều hành công ty, nếu công ty thu được lợi nhuận từ tiền
vay lớn hơn chi phí sử dụng vốn thì lợi nhuận dành cho chủ lợi nhuận sẽ gia tăng
đáng kể.
Đòn bẩy tài chính là công cụ để khuếch đại tỷ xuất lợi nhuận trên vốn chủ
sở hữu, khi doanh nghiệp làm ăn có lãi. Thêm vào đó, vay nợ cũng là một hình
thức tài trợ vốn quan trọng, tạo lợi thế lá chắn thuế cho công ty vì chi phí lãy vay
là một khoản chi phí hợp lý khi tính thuế thu nhập doanh nghiệp. Tuy nhiên khi
doanh nghiệp sử dụng càng nhiều nợ thì càng có nguy cơ mất khả năng hoàn
thành nghĩa vụ trả nợ, dẫn tới các rủi ro tài chính và nguy cơ phá sản. Khi sử
dụng nợ, chủ nợ và chủ sở hữu công ty có thể gặp phải những xung đột về quyền

chính, thường người cho vay chấp nhận chỉ tiêu này nhỏ hơn 1 hay nợ dài hạn
không vượt quá nguồn vốn chủ sở hữu. Khi chỉ tiêu này càng gần 1, doanh
nghiệp càng ít có khả năng được vay thêm các khoản vay dài hạn.
Hệ số tự tài trợ
tài sản dài hạn
=
Vốn chủ sơ hữu
Tài sản dài hạn bình quân
Tỷ suất này lớn hơn 1, thể hiện khả năng tài chính vững mạnh. Ngược lại,
nếu nhỏ hơn 1 có nghĩa là có 1 phần tài sản cố định được tài trợ bằng nguồn vốn
vay, nợ. Nếu nguồn vốn đó là nguồn vốn ngắn hạn thì doanh nghiệp đang sử
dụng cơ cấu vốn mạo hiểm.
1.3.4.2.5 Phân tích chỉ tiêu phản ánh năng lực hoạt động của tài sản
Nhóm chỉ tiêu này được tính cho một thời kỳ thường là 1 năm dương lịch
hoặc năm tài chính, cho thấy công ty khai thác và sử dụng các nguồn lực hiệu
quả như thế nào. Nhóm chỉ tiêu bao gồm các chỉ tiêu sau:
- Vòng quay khoản phải thu và kỳ thu tiền bình quân:
Vòng quay khoản phải thu
=
DTT về bán hàng và cung cấp dịch vụ
Các khoản phải thu bình quân
22
Vòng quay các khoản phải thu phản ánh tốc độ chuyển đổi các khoản phải
thu thành tiền mặt của công ty. Thông thường vòng quay các khoản phải thu
càng lớn chứng tỏ tốc độ thu hồi các khoản phải thu càng nhanh, công ty ít bị
chiếm dụng vốn và ngược lại. Tuy nhiên không phải lúc nào vòng quay tăng
cũng tốt và giảm là không tốt, phân tích biến động của doanh thu thuần và các
khoản phải thu bình quân trong kỳ để có được cách nhìn nhận đúng đắn.
Kỳ thu tiền bình quân
=

Tài sản cố định bình quân
Hiệu suất sử dụng tài sản cố định phản ánh trong một kỳ, một đồng tài sản
cố định tạo ra bao nhiêu đồng doanh thu thuần. Thông thường, hệ số này càng
cao phản ánh sức sản xuất của tài sản cố định hiệu quả. Tuy nhiên, hệ số này cao
nhưng là do doanh nghiệp thu hẹp quy mô sản xuất là không tốt.
- Hiệu suất sử dụng tổng tài sản:
Hiệu suất sử dụng
tổng tài sản
=
DTT về bán hàng và cung cấp dịch vụ
Tổng tài sản bình quân
Chỉ tiêu này thể hiện trong kỳ, một đồng tài sản tạo ra bao nhiêu đồng thu
nhập. Thông thường hệ số này càng cao chứng tỏ công ty sử dụng càng hiệu quả
23
tài sản của mình trong hoạt động sản xuất kinh doanh và ngược lại.
1.3.4.2.6 Phân tích khả năng sinh lợi
Đây là nhóm chỉ tiêu phản ánh tổng hợp nhất hiệu quả sản xuất kinh
doanh và hiệu năng quản lý công ty.
- Tỷ suất lợi nhuận trên doanh thu:
Tỷ suất lợi nhuận doanh thu =
Lợi nhuận
Doanh thu
X 100%
Tỷ suất này thể hiện trong 100 đồng doanh thu mà công ty thu được trong
kỳ có bao nhiêu đồng lợi nhuận. Tỷ suất này càng cao chứng tỏ hiệu quả hoạt
động của doanh nghiệp càng tốt. Tỷ suất này được dùng để phản ánh khả năng
sinh lời toàn bộ hoạt động, khả năng sinh lời hoạt động kinh doanh, khả năng
sinh lời hoạt động bán hàng.
- Khả năng sinh lời tổng tài sản:
Tỷ suất lợi nhuận trước thuế

nên những biến động đó.
1.2.4.2.7 Phân tích báo cáo lưu chuyển tiền tệ
 Đánh giá các nguồn thu và chi tiền
Bước 1: Đánh giá xem nguồn thu và chi bằng tiền chủ yếu từ hoạt động
kinh doanh, hoạt động đầu tư hay hoạt động tài chính.
24
Các nguồn tiền chính của một công ty có thể thay đổi theo giai đoạn tăng
trưởng của nó. Trong dài hạn thì công ty phải tạo ra tiền từ hoạt động kinh
doanh. Nếu dòng tiền thuần từ hoạt động kinh doanh của công ty liên tục bị âm
thì công ty cần phải vay tiền hoặc phát hành cổ phiếu (hoạt động tài chính) để tài
trợ cho phần thiếu hụt. Nhưng cuối cùng thì các nhà tài trợ vốn này cũng phải
nhận lại được tiền nhờ hoạt động kinh doanh, nếu không họ sẽ không tiếp tục
cấp vốn cho doanh nghiệp. Tiền được tạo ra từ hoạt động kinh doanh có thể được
dùng cho hoạt động tài chính và hoạt động đầu tư. Nếu công ty có những cơ hội
kinh doanh hoặc cơ hội đầu tư khác tốt thì sử dụng tiền cho hoạt động đầu tư,
nếu không thì nên trả lại vốn cho các nhà cấp vốn tức là hoạt động tài chính.
Tóm lại phải xác định được dòng tiền thu và chi chính của doanh nghiệp là gì? ,
lưu chuyển tiền thuần từ hoạt động kinh doanh có dương hay không và có đủ để
tài trợ chi phí đầu tư hay không?
Bước 2: Đánh giá các nhân tố chủ yếu của lưu chuyển tiền từ hoạt động
kinh doanh.
Nhà phân tích cần tìm hiểu các nhân tố quan trọng nhất quyết định dòng
tiền từ hoạt động kinh doanh. Trên báo cáo lưu chuyển tiền tệ theo phương pháp
gián tiếp, ta có thể xem xét sự tăng, giảm của các khoản phải thu, tồn kho, phải
trả, … để biết xem công ty đang tạo ra tiền hay phải chi tiền cho hoạt động kinh
doanh và tại sao.
Việc so sánh giữa lưu chuyển tiền thuần từ hoạt động kinh doanh với lợi
nhuận sau thuế cho ta thấy chất lượng của lợi nhuận. Nếu một công ty có lợi
nhuận sau thuế lớn mà dòng tiền thuần từ hoạt động kinh doanh kém thì đó có
thể là một dấu hiệu của chất lượng lợi nhuận thấp.


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status