Vai trò của Nhà nước trong việc hạn chế những nhược điểm của nền kinh tế thị trường - Pdf 11

A. LỜI NÓI ĐẦU
Đất nước ta đang bước vào thời kỳ phát triển mới, thời kỳ đẩy tới một bước công
nghiệp hóa hiện đại hóa vì mục tiêu dân giàu nước mạnh, xã hội công bằng văn minh
từng bước đi lên chủ nghĩa xã hội. Cơ chế quản lý kinh tế mới ở nước ta hiện nay là cơ
chế thị trường có sự quản lý của nhà nước bằng pháp luật, chính sách, kế hoạch các công
cụ khác. Nhà nước đóng vai trò điều hành nền kinh tế vĩ mô (định hướng và điều tiết)
nhằm phát huy vai trò tích cực, hạn chế và ngăn ngừa mặt tiêu cực của kinh tế thị trường.
Trong quá trình thực hiện đổi mới và cải cách hành chính hiện nay cải cách công cụ quản
lý kinh tế vĩ mô được đổi mới hoàn thiện. Chiến lược phát triển kinh tế xã hội là định
hướng cơ bản cho sự vận động cơ chế thị trường của nước ta. Chúng ta đang đẩy nhanh,
mạnh việc xây dựng hệ thống pháp luật, các thể chế kinh tế, tăng cường việc sử dụng các
công cụ tài chính và tiền tệ điều tiết thị trường. Như vậy nền kinh tế hàng hóa và kinh tế
thị trường đòi hỏi tăng cường chứ không làm giảm nhẹ vai trò quản lý của Nhà nước bất
luận là nhà nước TBCN hay XHCN. Hơn nữa chúng ta đang xây dựng nền kinh tế hàng
hóa nhiều thành phần áp dụng cơ chế thị trường theo định hướng XHCN và mở rộng
quan hệ quốc tế đi vào thị trường thế giới không phân biệt chế độ chính trị kinh tế của
nhà nước ngày càng cao.
Ngày nay trong nền kinh tế thị trường hiện đại, với sự phát triển nhanh chóng của
khoa học - công nghệ, nếu không có sự can thiệp của Nhà nước thì không thể giải quyết
được nhiều vấn đề kinh tế lớn có tầm cỡ quốc gia, quốc tế . Vì thế kết hợp hài hoà giữa
sự vận hành của cơ chế thị trường với sự điều tiết của Nhà nước là cần thiết và là giải
pháp mang lại thành công trên con đường phát triển. Trong mối quan hệ đó, Nhà nước
giữ vai trò định hướng tạo “hành lang” pháp lý và môi trường đầu tư để các chủ thể có
thể phát huy tính năng động, sáng tạo của mình.
Thực tế đã chứng minh vai trò quản lý kinh tế của nhà Nước trong nền kinh tế thị
trường ở nước ta hết sức quan trọng, đặc biệt là trong những năm gần đây, dưới sự quản
lý vĩ mô của Nhà nước đã và đang khắc phục dần những mặc tích cực và khắc phục
những mặt hạn chế.
Nhận thức được tầm quan trọng về vai trò của Nhà nước trong nền kinh tế thị
trường nên nhóm em đã chọn đề tài “Vai trò của Nhà nước trong việc hạn chế những
nhược điểm của nền kinh tế thị trường’’.

Kinh tế thị trường xã hội gần giống với kinh tế thị trường nhưng mục tiêu của nó
là “ gắn kết trên cơ sở thị trường các nguyên tắc tự do và bình đẳng xã hội”. Tuy nhiên,
cần tránh hiểu nhầm vấn đề tự do trên thị trường.
Khái niệm kinh tế thị trường xã hội hoàn toàn khác các quan điểm của “ chủ nghĩa
tự do mới”. Kinh tế thị trường xã hội không đồng nhất với cái gọi là “kinh tế thị trường
tự do”. Đây là mô hình kinh tế được các nhà kinh tế theo trường phái tự do của Mỹ đề
xuất, mà bản chất của nó là giảm thiểu sự can thiệp của Nhà nước và để cho nền kinh tế
tự vận hành thông qua các công cụ của nó.
Kinh tế thị trường xã hội cũng không đồng nhất với các quan điểm kinh tế, xã hội
của những người trọng tiền. Những người này muốn giảm thiểu sự can thiệp của Nhà
nước nhưng đồng thời cũng muốn chiến đấu với lạm phát bằng cách theo đuổi một chính
sách hạn chế kiểm soát lượng cung tiền tệ. Hơn nữa, họ cho rằng tiến trình kinh tế tự nó
hoàn toàn có khả năng chịu đựng các biến động có tính chu kỳ nếu Nhà nước kiềm chế
không can thiệp.
3. Phân loại thị trường
Có nhiều cách phân loại khác nhau về thị trường.
- Cách phổ biến nhất là phân loại thị trường theo nội dung hàng hóa mà người ta
giao dịch. Theo cách này, ở mức tổng quát nhất, các thị trường được chia ra thành thị
trường hàng hóa tiêu dùng (thị trường đầu ra) và thị trường các yếu tố sản xuất (thị
trường đầu vào). Các thị trường đầu ra lại có thể phân nhỏ thành vô số thị trường cụ thể
như thị trường gạo, thị trường quần áo, thị trường ô tô, thị trường giáo dục,v.v…Các thị
trường đầu vào có thể phân thành thị trường vốn hiện vật (máy móc, thiết bị, nhà xưởng
v.v…), thị trường đất đai, thị trường lao động v.v…Tùy theo cách người ta quan niệm về
hàng hóa là theo nghĩa rộng hay nghĩa hẹp hơn mà người ta có thể đặt tên cho thị trường
một cách khác nhau. Ví dụ, thị trường máy móc (đầu vào) có thể chia ra thành các phân
nhánh như thị trường chung, có tính chất đại diện, ta nói đến một thị trường cụ thể hay
riêng biệt nào đó theo cách phân loại này.
- Phân loại theo cách không gian kinh tế mà theo đó các quan hệ trao đổi hàng
hóa diễn ra: theo cách này, thị trường có thể phân ra thành thị trường thế giới, thị trường
khu vực, thị trường quốc gia, thị trường vùng hay địa phương. Thật ra, khi nói đến các thị

trường vì vậy nước ta muốn hoà nhập vào nền kinh tế quốc tế cũng phải phát triển theo
mô hình kinh tế thị trường.
5. Vai trò của nền kinh tế thị trường:
Phát triển kinh tế thị trường sẽ phá vỡ cơ cấu kinh tế tự nhiên chuyển thành kinh tế
hàng hoá, thúc đẩy xã hội hoá sản xuất .
- Thúc đẩy lực lượng sản xuất phát triển.
- Kích thích tính năng động sáng tạo của các chủ thể kinh tế.
- Kích thích việc cải tiến kĩ thuật nâng cao chất lượng cải tiến mẫu mã cũng như
tăng số lượng hàng hoá dịch vụ.
- Thúc đẩy sự phân công lao động xã hội và chuyên môn hoá sản xuất.
- Thúc đẩy quá trình tích tụ tập trung sản xuất tạo điều kiện ra đời của sản xuất lớn
6. Đặc điểm của nền kinh tế thị trường :
 Nền kinh tế thị trường đang hình thành và phát triển
- Thứ nhất, trong thời gian qua, kết cấu hạ tầng được đầu tư với mức độ ngày càng
tăng. Tuy nhiên, kết cấu hạ tầng vật chất và xã hội ở nước ta còn ở trình độ thấp, chưa
đáp ứng yêu cầu phát triển. Trình độ công nghệ lạc hậu, máy móc cũ kỹ, quy mô sản xuất
nhỏ bé, năng suất, chất lượng, hiệu quả sản xuất còn thấp.
- Thứ hai, cơ cấu kinh tế đang tiếp tục chuyển dịch theo hướng công nghệ hóa,
hiện đại hóa, tuy nhiên, cơ cấu kinh tế chuyển dịch chậm, còn mất cân đối và kém hiệu
quả. Cơ cấu kinh tế nước ta còn mang nặng đặc trưng của một cơ cấu kinh tế nông
nghiệp. Ngành nghề chưa phát triển; sự phân công hiệp tác, chuyên môn hóa sản xuất
chưa rộng, chưa sâu, giao lưu hàng hóa còn nhiều hạn chế.
- Thứ ba, chưa có thị trường theo đúng nghĩa của nó. Trong những năm qua thị
trường của nước ta đang trong quá trình hình thành và phát triển nên nó còn ở trình độ
thấp. Dung lượng thị trường sức lao động theo đúng nghĩa, thị trường tài chính, thị
trường bất động sản, thị trường khoa học và công nghệ còn sơ khai, phát triển chậm.
- Thứ tư, công cuộc đổi mới ở nước ta trong 20 năm qua đã đạt được những thành
tựu to lớn và có ý nghĩa lịch sử, đất nước đã ra khỏi khủng hoảng kinh tế - xã hội, có sự
thay đổi cơ bản và toàn diện. Một trong những thành tựu quan trọng nhất là kinh tế tăng
trưởng khá nhanh, GDP bình quân đầu người liên tục tăng. Song, thực tế cho thấy thu

hình kinh tế khái quát trong thời kì quá độ lên chủ nghĩa xã hội ở nước ta. Mô hình kinh
tế đó có những đặc trưng riêng, làm cho nó khác với kinh tế thị trường ở các nước tư bản
chủ nghĩa.
7. Ưu và nhược điểm của nền kinh tế thị trường:
Nền kinh tế thị trường là nền kinh tế tự do cạnh tranh. Doanh nghiệp muốn đứng
vững được trên thị trường phải luôn luôn đổi mới về sản phẩm, về tổ chức quản lý. Do
vậy, nó luôn tạo ra lực lượng sản xuất cho xã hội, tạo ra sự dư thừa hàng hoá để cho phép
thoả mãn nhu cầu ở mức tối đa.
 Ưu điểm:
- Kinh tế thị trường luôn tạo ra cơ hội cho mọi người sáng tạo, luôn tìm cách để
cải tiến lối làm việc và rút ra những bài học kinh nghiệm về thành công hay thất bại để
phát triển không ngừng.
- Kinh tế thị trường tạo ra cơ chế đào tạo, tuyển chọn, sử dụng người quản lý kinh
doanh năng động, có hiệu quả và đào thải các nhà quản lý kém hiệu quả.
- Kinh tế thị trường tạo ra môi trường kinh doanh tự do, dân chủ trong kinh tế bảo
vệ lợi ích người tiêu dùng.
- Kinh tế thị trường là một hệ thống tự điều chỉnh nền kinh tế, bảo đảm có năng
suất, chất lượng và hiệu quả cao, dư thừa và phong phú hàng hóa. Dịch vụ được mở rộng
và coi như là hàng hoá. Thị trường năng động, luôn luôn đổi mới mặt hàng, công nghệ.
 Nhược điểm của nền kinh tế thị trường:
Kinh tế thị trường là một hệ thống tự điều chỉnh nền kinh tế, bảo đảm có năng
suất, chất lượng và hiệu quả cao, dư thừa và phong phú hàng hóa. Dịch vụ được mở rộng
và coi như là hàng hóa. Thị trường năng động, luôn luôn đổi mới mặt hàng, công nghệ.
Song ngoài những ưu điểm nêu trên, kinh tế thị trường còn tồn tại một số nhược
điểm sau:
- Kinh tế thị trường chú trọng đến những nhu cầu có khả năng thanh toán, không
chú ý đến những nhu cầu cơ bản của xã hội.
- Kinh tế thị trường, đặt lợi nhuận lên hàng đầu, cái gì có lãi thì làm, không có lãi
thì thôi nên nó không giải quyết được cái gọi là “hàng hoá công cộng” (đường xá, các
công trình văn hoá, y tế và giáo dục .v.v.)

-Trên lĩnh vực lập pháp: Bộ máy nhà nước thể chế hóa đường lối, quan điểm của
Đảng Cộng Sản thành pháp luật của nhà nước.
- Trên lĩnh vực hành pháp: Bộ máy nhà nước bằng hoạt động cụ thể, đưa pháp luật
vào đời sống xã hội, đảm bảo để pháp luật nhà nước trở thành khuôn mẫu hoạt động của
nhà nước, xã hội đảm bảo thực hiện thống nhất trong toàn quốc.
- Trên lĩnh vực tư pháp: bằng hoạt động cụ thể của từng cơ quan, bảo đảm cho pháp
luật được thực hiện nghiêm nhằm duy trì trật tự, kỉ cương, ổn định xã hội.
2. Vai trò của Nhà nước:
Trong thời đại ngày nay, Nhà nước nào cũng có vai trò nhất định trong sự phát
triển của một quốc gia, đặc biệt là trong sự nghiệp cải tổ và xây dựng nền kinh tế. Việt
Nam đang thực hiện công cuộc công nghiệp hóa – hiện đại hóa đất nước với nền kinh tế
thị trường với nhiều thành phần cùng tham gia. Trong điều kiện như vậy thì vai trò quản
lý kinh tế của nhà nước là khách quan, một nhu cầu nội tại của nền kinh tế thị trường, thể
hiện ở việc Nhà điều tiết nền kinh tế thông qua việc hoạch định chính sách. Vì vậy, nâng
cao vai trò của Nhà nước trong quản lý và điều tiết nền kinh tế, đặc biệt là trong quá trình
công nghiệp hóa– hiện đại hóa là vấn đề mang tính thời sự. Nền kinh tế thị trường và cơ
chế thị trường không làm giảm nhẹ sự quản lí của Nhà nước.
• Vai trò kinh tế của Nhà nước:
- Nhà nước phải đảm bảo sự ổn định về chính trị, kinh tế, xã hội và thiết lập
khuôn khổ pháp luật để tạo điều kiện cần thiết cho hoạt động kinh tế, từ đó mà phát triển
kinh tế.
- Nhà nước định hướng cho sự phát triển kinh tế và thực hiện điều tiết các hoạt
động kinh tế để đảm bảo cho nền kinh tế thị trường tăng trưởng ổn định. Cụ thể như nhà
nước xây dựng chiến lược quy hoạch và phát triển, đầu tư vào một số lĩnh vực trọng
điểm để dẫn dắt nền kinh tế- xã hội đáp ứng yêu cầu phát triển kinh tế. Nhà nước sử dụng
chính sách tài chính, tiền tệ để ổn định môi trường kinh tế vĩ mô, tạo điều kiện cho phát
triển kinh tế.
- Nhà nước đảm bảo cho nền kinh tế hoạt động hiệu quả : ngăn chặn những tác
động xấu ảnh hưởng tới việc nâng cao hiệu quả kinh tế- xã hội như lạm dụng tài nguyên,
gây ô nhiễm môi trường của các doanh nghiệp. Nhà nước có nhiệm vụ bảo vệ cạnh tranh,

hình thành. Chính phủ đã chủ trương hóa xóa bỏ các cơ chế tập trung bao cấp, nhấn mạnh
quan hệ hàng hóa tiền tệ, tập trung vào các biện pháp quản lí kinh tế, thành lập hàng loạt
các tổ chức tài chính ngân hàng, hình thành các thị trường cơ bản như thị trường tiền tệ,
thị trường lao động, thị trường hàng hóa, thị trường đất đai… cải cách hành chính được
thúc đẩy nhằm nâng cao tính cạnh tranh của nền kinh tế tạo môi trường thuận lợi cho
hoạt động kinh doanh, phát huy mọi nguồn lực cho tăng trưởng kinh tế.
Quan điểm về mô hình nền kinh tế trong thời kỳ quá độ đã thay đổi căn bản và đến
nay đã được xác lập, đó là nền kinh tế thị trường định hướng XHCN, gồm 5 thành phần
kinh tế: kinh tế nhà nước, kinh tế tập thể, kinh tế tư nhân (cá thể, tiểu chủ, tư hữu tư
nhân), kinh tế tư bản nhà nước và kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài. Sự đổi mới tư duy
kinh tế của Đảng còn thể hiện ở việc xác lập đúng vị trí, vai trò của từng thành phần kinh
tế trong nền kinh tế quốc dân.
Vậy sự đổi mới tư duy kinh tế của Đảng về các thành phần kinh tế có tầm quan
trọng đặc biệt, nó tạo điều kiện thuận lợi cho mọi cá nhân, tổ chức trong xã hội phát huy
mọi tiềm năng, sáng tạo, tạo ra sức mạnh to lớn cho sự nghiệp phát triển kinh tế, xã hội
của đất nước, đồng thời là động lực to lớn cho chúng ta phát triển nền kinh tế. Ngoài ra
nó còn góp phần quan trọng trong việc hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa
thông qua tính dân chủ trong hoạt động kinh tế, mọi cá nhân đều có quyền tổ chức hoạt
động sản xuất, kinh doanh một cách bình đẳng theo pháp luật.
3.2 Các giai đoạn nhận thức của Đảng:
Trải qua các kì đại hội Đảng,thể chế thị trường dần được hoàn thiện,cụ thể:
Đại hội VI 12-1986), Đảng ta mới chỉ khẳng định sự cần thiết phải sử dụng quan
hệ hàng hóa - tiền tệ dưới chủ nghĩa xã hội.
Đại hội VII (6-1991) đề ra Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ
đi lên chủ nghĩa xã hội của Đảng khẳng định: “Phát triển nền kinh tế hàng hóa nhiều
thành phần theo định hướng xã hội chủ nghĩa, vận hành theo cơ chế thị trường có sự
quản lý của Nhà nước”.
Đại hội VIII (7-1996) Đảng đã khẳng định cơ chế thị trường có sự quản lý của
Nhà nước, theo định hướng xã hội chủ nghĩa. Nhưng lúc đó cũng mới nói nền kinh tế
hàng hóa, cơ chế thị trường, chưa dùng khái niệm “kinh tế thị trường”.

nước nói chung, của lĩnh vực kinh tế nói riêng, bảo đảm tính chính trị, tính định hướng
đúng đắn trong sự phát triển kinh tế, làm cho kinh tế chẳng những có tốc độ tăng trưởng
và năng suất lao động cao, có lực lượng sản xuất không ngừng lớn mạnh mà còn đi đúng
định hướng xã hội chủ nghĩa, tức là hạn chế được bất công, bóc lột, chăm lo và bảo vệ lợi
ích của đại đa số nhân dân lao động. Trên cơ sở đường lối, chiến lược đó, Đảng lãnh đạo
toàn bộ hệ thống chính trị và guồng máy xã hội, trước hết là Nhà nước, tổ chức thực hiện
bằng được phương hướng và nhiệm vụ đã đề ra.
3.3 Kết quả và ảnh hưởng của những chính sách Nhà nước đối với nền kinh tế thị
trường
Nhìn chung những cải cách kinh tế trong hơn hai thập kỉ qua đã đem lại cho Việt
Nam những thành tựu ban đầu rất đáng phấn khởi. Việt Nam đã tạo ra được một môi
trường kinh tế thị trường có tính cạnh tranh và năng động. Nền kinh tế hàng hóa nhiều
thành phần được khuyến khích phát triển, tạo nên tính hiệu quả trong việc huy động các
nguồn lực xã hội phục vụ cho tăng trưởng kinh tế. Các quan hệ kinh tế đối ngoại đã trở
nên thông thoáng hơn, thu hút được ngày càng nhiều các nguồn vốn đầu tư trực tiếp nước
ngoài, mở rộng thị trường cho hàng hóa xuất khẩu và phát triển thêm một số lĩnh vực
hoạt động tạo ra nguồn thu ngoại tệ ngày càng lớn như du lịch, xuất khẩu lao động, kiều
hối
Sau năm 1989, Việt Nam đã tiến hành tự do hóa thương mại, phá giá tỷ giá để hỗ
trợ xuất khẩu, và bắt tay thực hiện một chính sách tái hội nhập kinh tế khu vực và quốc
tế. Việt Nam đã thể hiện cam kết tự do hóa thương mại của mình trong những năm gần
đây, và sự hội nhập vào nền kinh tế thế giới đã trở thành một trong những điểm mấu chốt
của chương trình cải cách của Việt Nam. Do kết quả của những cải cách này, xuất khẩu
đã tăng mạnh, tới gần 20 – 30% trong một vài năm qua. Năm 2007, xuất khẩu chiếm 78%
GDP. Nhập khẩu cũng tăng nhanh, và Việt Nam đã phải chịu thâm hụt thương mại lớn ở
mức 12.8 tỷ đôla năm 2007. Tổng nợ nước ngoài của Việt Nam, chiếm gần 30,2% GDP
trong năm 2006, được ước tính ở mức khoảng 18,4 tỷ đôla.
Việt Nam khuyến khích mạnh mẽ đầu tư nước ngoài như là một phần trong chiến
lược phát triển của mình, và Chính phủ cam kết sẽ tiếp tục cải thiện môi trường đầu tư và
kinh doanh. Khả năng tiếp tục thu hút vốn bên ngoài, thông qua đầu tư trực tiếp nước

thành tựu đáng mừng, làm thay đổi khá rõ tình hình đất nước. Kinh tế ra khỏi tình trạng
khủng hoảng, hoạt động ngày càng năng động và có hiệu quả. Của cải xã hội ngày càng
nhiều, hàng hóa ngày càng phong phú. Đời sống nhân dân từng bước được cải thiện. Đất
nước chẳng những giữ vững được ổn định chính trị trước những chấn động lớn trên thế
giới mà còn có bước phát triển đi lên. Tổng sản phẩm trong nước (GDP) tăng bình quân
7% /năm. Nông nghiệp phát triển liên tục, đặc biệt là về sản xuất lương thực, nuôi trồng
và khai thác thủy sản. Giá trị sản xuất công nghiệp tăng 13,5%/năm. Hệ thống kết cấu hạ
tầng được tăng cường. Các ngành dịch vụ, xuất khẩu và nhập khẩu phát triển. Quan hệ
đối ngoại và hội nhập kinh tế quốc tế không ngừng được mở rộng,… Tuy nhiên, cũng có
nhiều vấn đề mới đặt ra cần được tiếp tục nghiên cứu và giải quyết.
Từ thực tiễn phát triển kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa trong thời
gian qua và căn cứ vào yêu cầu phát triển trong thời gian tới, có thể xác định những
phương hướng, nhiệm vụ cơ bản phát triển nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ
nghĩa ở Việt Nam như sau:
- Phải tiếp tục thực hiện một cách nhất quán chính sách phát triển kinh tế nhiều
thành phần, coi các thành phần kinh tế kinh doanh theo pháp luật đều là bộ phận cấu
thành quan trọng của nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, cùng phát triển
lâu dài, hợp tác và cạnh tranh lành mạnh. Không nên có thái độ định kiến và kỳ thị đối
với bất cứ thành phần kinh tế nào.
- Kinh tế nhà nước phải phát huy được vai trò chủ đạo trong nền kinh tế quốc dân,
là nhân tố mở đường cho sự phát triển kinh tế, là lực lượng vật chất quan trọng và là công
cụ để Nhà nước định hướng và điều tiết vĩ mô nền kinh tế. Doanh nghiệp nhà nước giữ
những vị trí then chốt; đi đầu ứng dụng tiến bộ khoa học và công nghệ; nêu gương về
năng suất, chất lượng, hiệu quả kinh tế – xã hội và chấp hành pháp luật.
- Đẩy mạnh việc củng cố, sắp xếp, điều chỉnh cơ cấu của các doanh nghiệp nhà
nước; đồng thời tiếp tục đổi mới cơ chế, chính sách để tạo động lực phát triển và nâng
cao hiệu quả hoạt động của các doanh nghiệp nhà nước theo hướng xóa bao cấp; doanh
nghiệp thực sự cạnh tranh bình đẳng trên thị trường, tự chịu trách nhiệm về sản xuất, kinh
doanh; nộp đủ thuế và có lãi; thực hiện tốt quy chế dân chủ trong doanh nghiệp.
- Kinh tế tập thể gồm các hình thức hợp tác đa dạng, trong đó hợp tác xã là nòng

tâm các thị trường quan trọng nhưng hiện chưa có hoặc còn sơ khai như: thị trường lao
động, thị trường chứng khoán, thị trường bất động sản, thị trường khoa học và công nghệ,
đáp ứng nhu cầu đa dạng và nâng cao sức mua của thị trường trong nước, cả ở thành thị
và nông thôn, chú ý thị trường các vùng có nhiều khó khăn. Chủ động hội nhập thị
trường quốc tế. Hạn chế và kiểm soát độc quyền kinh doanh.
Mặt khác, phải đổi mới sâu rộng cơ chế quản lý kinh tế, phát huy những yếu tố
tích cực của cơ chế thị trường, triệt để xóa bỏ bao cấp trong kinh doanh, tăng cường vai
trò quản lý và điều tiết vĩ mô của Nhà nước, đấu tranh có hiệu quả chống các hành vi
tham nhũng, lãng phí, gây phiền hà. Nhà nước tạo môi trường pháp lý thuận lợi, bình
đẳng cho các doanh nghiệp cạnh tranh và hợp tác để phát triển; bằng chiến lược, quy
hoạch, kế hoạch và chính sách, kết hợp với sử dụng lực lượng vật chất của Nhà nước để
định hướng phát triển kinh tế – xã hội, khai thác hợp lý các nguồn lực của đất nước, bảo
đảm cân đối vĩ mô nền kinh tế, điều tiết thu nhập; kiểm tra, thanh tra mọi hoạt động kinh
doanh theo quy định của pháp luật, chống buôn lậu, làm hàng giả, gian lận thương mại.
Tiếp tục đổi mới các công cụ quản lý vĩ mô của Nhà nước đối với nền kinh tế,
trong đó đặc biệt coi trọng việc xây dựng và hoàn thiện hệ thống các cơ chế chính sách,
luật pháp, đổi mới công tác kế hoạch hóa, nâng cao chất lượng công tác xây dựng các
chiến lược, quy hoạch và kế hoạch phát triển kinh tế – xã hội; tăng cường công tác thông
tin kinh tế – xã hội trong nước và quốc tế, công tác kế toán, thống kê; ứng dụng rộng rãi
các thành tựu khoa học và công nghệ trong công tác dự báo, kiểm tra tình hình thực hiện
ở cả cấp vĩ mô và doanh nghiệp.
- Giải quyết tốt các vấn đề xã hội, hướng vào phát triển và lành mạnh hóa xã hội,
thực hiện công bằng xã hội, coi đây là một nội dung rất quan trọng của định hướng xã hội
chủ nghĩa, bảo đảm tính ưu việt của chế độ xã hội mới. Điều đó chẳng những tạo động
lực mạnh mẽ nhằm phát triển sản xuất, tăng năng suất lao động mà còn thực hiện bình
đẳng trong các quan hệ xã hội, khuyến khích nhân dân làm giàu chính đáng và hợp pháp,
điều tiết các quan hệ xã hội.
Trong tình hình cụ thể hiện nay ở Việt Nam, phải bằng nhiều giải pháp tạo ra
nhiều việc làm mới. Chăm lo cải thiện điều kiện làm việc, bảo đảm an toàn vệ sinh lao
động, phòng chống tai nạn và bệnh nghề nghiệp cho người lao động. Từng bước mở rộng

kiến thức, giữ gìn đạo đức cách mạng và lối sống lành mạnh, đấu tranh khắc phục có hiệu
quả tệ tham nhũng và các hiện tượng thoái hóa, hư hỏng trong Đảng và trong bộ máy của
Nhà nước.
Tóm lại, sự hình thành tư duy kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa
không chỉ đơn thuần là sự tìm tòi và phát kiến về mặt lý luận của chủ nghĩa xã hội, mà
còn là sự lựa chọn và khẳng định con đường và mô hình phát triển trong thực tiễn mang
tính cách mạng và sáng tạo của Việt Nam. Phát triển kinh tế thị trường định hướng xã hội
chủ nghĩa là một quá trình tất yếu phù hợp với quy luật phát triển của thời đại và đáp ứng
yêu cầu phát triển của đất nước.
Tuy nhiên, đây là sự nghiệp vô cùng khó khăn, phức tạp, lâu dài, bởi lẽ nó rất mới
mẻ, chưa có tiền lệ, phải vừa làm vừa rút kinh nghiệm. Riêng về mặt lý luận cũng còn
không ít vấn đề phải tiếp tục đi sâu nghiên cứu, tổng kết, làm sáng tỏ. Chẳng hạn như:
các vấn đề về chế độ sở hữu và các thành phần kinh tế; về lao động và bóc lột; về quản lý
doanh nghiệp nhà nước ra sao để nó đóng được vai trò chủ đạo; làm thế nào để thực hiện
được công bằng xã hội trong điều kiện kinh tế còn thấp kém; vấn đề bản chất giai cấp
công nhân của Đảng trong điều kiện phát triển kinh tế nhiều thành phần; các giải pháp
tăng cường sức mạnh và hiệu lực của Nhà nước xã hội chủ nghĩa, chống quan liêu, tham
nhũng , v.v
2. Những giải pháp của Nhà nước nhằm hạn chế những nhược điểm của nền kinh tế
thị trường hiện nay.
Những giải pháp nhằm hạn chế nhược điểm của nền kinh tế thị trường của Nhà
nước.
Thực tế lịch sử đã chứng minh rằng các nền kinh tế thị trường thành công nhất đều
không thể phát triển một cách tự phát nếu thiếu sự can thiệp và hỗ trợ của Nhà nước. Các
nền kinh tế thị trường nguyên thủy dựa trên cơ sở sản xuất và trao đổi giản đơn có thể
hoạt động hiệu quả mà không cần sự can thiệp của nhà nước. Tuy nhiên, vì nền kinh tế
tăng trưởng dưới tác động bên ngoài ngày một phức tạp như hiện nay nên sự can thiệp
của nhà nước xuất hiện như một tất yếu cho sự hoạt động có hiệu quả của nền kinh tế thị
trường.
Bởi vậy, thông qua đề tài tiểu luận này, nhóm chúng em xin nêu ra những giải

của những chu kỳ kinh tế có thể lường trước là một nghệ thuật mà các nền kinh tế phát
triển đã rất thuần thục. Tiếp đến là trong điều hòa các vấn đề xã hội, nhất là kìm chế sự
phân hóa giàu nghèo, không ai khác ngoài các chính sách của Chính phủ làm cho xã hội
phát triển nhanh, nhưng hài hòa giữa các tầng lớp nhân dân, làm cho mọi người đều được
hưởng lợi từ kết quả tăng trưởng kinh tế, đồng thời bảo đảm cho nền kinh tế phát triển
vừa nhanh, vừa hiệu quả và bền vững.
+ Nhà nước đã sử dụng một hệ thống luật pháp điều lệ, mức hình phạt thậm chí cả
mức truy tố để giảm ô nhiễm môi trường.
+ Ngoài ra nhà nước còn sử dụng cả chính sách quyền sở hữu công khai nguồn tài
nguyên, nếu gây ô nhiễm sẽ phải chịu chi phí theo giá thị trường.
-Thứ 3: Nhà nước đã điều hành chính sách tài chính và chính sách tiền tệ một cách
độc lập nhằm điều tiết hoạt động kinh tế bằng cách kiểm soát việc cung ứng tiền.
Trong lịch sử, các nền kinh tế thị trường luôn rơi vào tình trạng bị đe dọa bởi khi
đồng tiền tăng giá đột ngột, khi nạn thất nghiệp phát triển cao, khi thì vừa có tình trạng
thất nghiệp vừa có tình trạng lạm phát
Chính sách tài chính bao gồm các chính sách thuế và chi tiêu ngân sách của nhà
nước nhằm điều tiết chu kì kinh tế, đảm bảo công ăn việc làm, ổn định giá cả và tăng
trưởng liên tục của nền kinh tế.
Ngoài ra ở Việt Nam hiện nay, vai trò của Nhà nước đối với kinh tế không chỉ
xuất phát từ yêu cầu phổ biến của quá trình phát triển kinh tế thị trường, mà còn xuất phát
từ tính đặc thù của nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa. Bài viết này của
nhóm chúng em xin được nói thêm về khía cạnh thứ hai vừa nêu.
+ Thị trường, kinh tế thị trường là một kiểu quan hệ giữa người với người trong
sản xuất, trao đổi và tiêu dùng, nên mang đậm dấu ấn của quan hệ xã hội, của thể chế
chính trị mà nền kinh tế đó tồn tại. Với mức độ đáng kể, sự phát triển kinh tế thị trường ở
Việt Nam hiện nay bị chi phối và nhằm phục vụ cho định hướng xã hội chủ nghĩa. Đương
nhiên, nhân tố sâu xa bảo đảm định hướng chính trị đối với kinh tế là đường lối, quan
điểm, tư tưởng chỉ đạo của Đảng Cộng sản cầm quyền. Song, để đường lối, quan điểm, tư
tưởng chỉ đạo của Đảng biến thành hiện thực vận động của nền kinh tế, chúng phải được
thể chế hóa thành hệ thống pháp luật, chương trình, kế hoạch phát triển kinh tế – xã hội

ra sự đồng thuận xã hội trong hành động vì mục tiêu phát triển của đất nước. Tính đúng
đắn, hợp lý và kịp thời của việc hoạch định và năng lực tổ chức thực hiện các chính sách
phát triển vĩ mô do Nhà nước đảm nhiệm là điều kiện tiên quyết nhất hình thành sự đồng
thuận đó. Là những công cụ tạo ra sự đồng thuận xã hội, từ đó mà có ổn định xã hội cho
phát triển và tăng trưởng kinh tế, các chính sách, pháp luật của Nhà nước, một mặt, phải
phản ánh đúng những nhu cầu chung của xã hội, của mọi chủ thể kinh tế…; mặt khác,
phải tôn trọng tính đa dạng về nhu cầu, lợi ích cụ thể của các chủ thể đó.
+ Nhà nước ta cũng có vai trò to lớn trong việc bảo đảm gia tăng phúc lợi xã hội,
bởi mục tiêu căn bản của nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam
là góp phần thực hiện “dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh”. Có
chính sách xã hội hợp lý; bảo đảm phúc lợi ngày một gia tăng nhờ hiệu quả tác động của
chính sách kinh tế tiến bộ do Nhà nước hoạch định và tổ chức thực hiện bằng những nỗ
lực của nhiều chủ thể kinh tế khác nhau… là nhân tố có vai trò quyết định trong vấn đề
này.
+ Công bằng xã hội là một động lực của sự phát triển xã hội nói chung, của sự
phát triển và tăng trưởng kinh tế bền vững nói riêng. Một trong những mục tiêu của quá
trình phát triển nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa mà Nhà nước hướng
tới là xóa bỏ tình trạng vi phạm công bằng xã hội. Đây là một nhiệm vụ lâu dài. Ở nước
ta hiện nay, công bằng xã hội trên lĩnh vực kinh tế được biểu hiện không chỉ ở chỗ lao
động ngang nhau thì được hưởng thụ ngang nhau, mà còn ở chỗ cống hiến – đóng góp cả
về vật chất lẫn tinh thần trong quá khứ cũng như trong hiện tại – ngang nhau cho sự phát


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status