Khoá luận tốt nghiệp
ĐẠI HỌC HUẾ
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC
THỰC TRẠNG TỘI PHẠM LỨA TUỔI VỊ THÀNH NIÊN TRÊN
ĐỊA BÀN THỊ XÃ HỒNG LĨNH - TỈNH HÀ TĨNH, NGUYÊN
NHÂN VÀ CÁC GIẢI PHÁP
(GIAI ĐOẠN 2001 – 2008)
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP CỬ NHÂN
CÔNG TÁC XÃ HỘI
HUẾ, 5/2009
1
Khoá luận tốt nghiệp
DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT
VTN: Vị thành niên
TAND: Tòa án nhân dân
VKSND: Viện kiểm sát nhân dân
CTXH: Công tác xã hội
UBND: Ủy ban nhân dân
CA: Công an
NVXH: nhân viên xã hội
TNCS: Thanh niên cộng sản
TNTP: Thiếu niên tiền phong
CSĐT: Cảnh sát điều tra
PVS: Phỏng vấn sâu
THCS: Trung học cơ sở
THPT: Trung học phổ thong
2
Khoá luận tốt nghiệp
DANH MỤC BẢNG BIỂU
Bảng số 1: Thống kê các vụ VTN phạm tội qua các năm từ 2001 đến 2008
những đối tượng phạm tội là người lớn thì vị thành niên (VTN) ngày càng tham
gia nhiều vào các hoạt động phạm tội với mức độ và tính chất ngày càng nguy
hiểm cho xã hội. Các vụ án do VTN thực hiện không chỉ xảy ra ở thành thị mà
còn ở cả các vùng nông thôn, miền núi vùng sâu vùng xa, vùng đồng bào dân
tộc thiểu số. Nếu như trước đây các loại tội phạm mà trẻ VTN mắc phải thường
là trộm cắp vặt, gây rối, đánh nhau không gây nguy hiểm lớn, thì gần đây mức
độ phạm tội lại nguy hiểm hơn và vượt quá giới hạn của tuổi vị thành niên như
đánh nhau có vũ khí, hình thành băng cướp, trộm cắp tài sản lớn. Thậm chí
hiếp dâm, giết người, cướp của, mua bán, sử dụng chất ma tuý…
Theo thống kê của Cục Cảnh sát điều tra tội phạm về trật tự xã hội của Bộ
Công an: Năm 2006 có 7.000 vụ đối tượng phạm tội ở độ tuổi dưới 14 tuổi,
chiếm 70% tội phạm vị thành niên. Năm 2007, số vụ phạm pháp hình sự do
người chưa thành niên vi phạm có giảm 1% so với năm 2006, nhưng mức độ
5
Khoá luận tốt nghiệp
phạm tội lại nghiêm trọng hơn nhiều. Năm 2007 và 3 tháng đầu năm 2008,
riêng trẻ em dưới 16 tuổi có 7.000 vụ vi phạm, chiếm đến 70% tội phạm VTN
dưới 18 tuổi. Công an các địa phương đã khởi tố điều tra 8.531 vụ với 11.732
đối tượng ở tất cả các tội danh này. Xử lý hành chính lên tới 35.463 vụ với
48.187 đối tượng; trong đó giao cho gia đình giáo dục 21.484 đối tượng, xã
phường quản lý, giáo dục 8.892 đối tượng, lập hồ sơ đưa đi trường giáo dục
5.616 đối tượng, áp dụng các biện pháp khác 11.677 đối tượng.
Riêng 6 tháng đầu năm 2008 đã xảy ra 5.746 vụ, với 9.000 em (tăng 2% số
vụ). Số vụ án do người chưa thành niên gây ra chiếm khoảng 20% tổng số vụ vi
phạm hình sự, là một con số rất lớn. Tội danh trộm cắp tài sản chiếm 38%; cố ý
gây thương tích chiếm 11% và đặc biệt là giết người chiếm 1,4%. Trong đó, lứa
tuổi phạm tội cao nhất từ 16 đến dưới 18 tuổi, chiếm khoảng 60%; từ 14 đến
dưới 16 tuổi là 32% và dưới 14 tuổi là 8%.
Như vậy để thấy được rằng VTN phạm tội là một vấn đề lớn của xã hội vì
VTN là lực lượng xã hội to lớn, là nguồn lực lớn cho đất nước, là sức sống hiện
phòng ngừa loại tội phạm này lại chưa được chú trọng, việc tuyên truyền pháp
luật sâu rộng trong quần chúng nhân dân không hiệu quả và chưa được quan
tâm đúng mức. Chính vì vậy, hiện tượng tội phạm ở tuổi VTN tại địa bàn thị xã
Hồng Lĩnh là một trong những vấn đề bức xúc cần được quan tâm.
Để ngăn chặn và phòng ngừa tội phạm ở lứa tuổi VTN tại thị xã Hồng Lĩnh
- Hà Tĩnh, một vấn đề cấp bách được đặt ra là cần phải nghiên cứu, phân tích
sâu sắc tình hình tội phạm ở lứa tuổi VTN, tìm hiểu những nguyên nhân làm
phát sinh tội phạm, trên cơ sở đó khuyến nghị những giải pháp góp phần hạn
chế, ngăn chặn, đẩy lùi tội phạm nói chung và tội phạm ở lứa tuổi VTN nói
riêng. Đặc biệt trong giai đoạn hiện nay, khi mà nền kinh tế tri thức có vị trí,
vai trò quan trọng trong quá trình phát triển, đổi mới đất nước thì việc đào tạo
bồi dưỡng thế hệ trẻ lại cần hơn bao giờ hết. Mặt khác chúng ta biết rằng VTN
7
Khoá luận tốt nghiệp
là giai đoạn phát triển quan trọng để hình thành nhân cách của con người vì vậy
mà VTN tham gia vào các hoạt động phạm tội sẽ là mầm họa của xã hội nếu
không ngăn chặn kịp thời.
Từ thực tế trên tôi đã lựa chọn đề tài nghiên cứu: Thực trạng tội phạm lứa
tuổi vị thanh niên trên địa bàn thị xã Hồng Lĩnh- Hà Tĩnh, nguyên nhân và các
giải pháp” (Từ năm 2001 đến năm 2008).
2. Tổng quan về vấn đề nghiên cứu
Theo quan điểm của các nhà tội phạm học trên thế giới, việc nghiên cứu
hiện tượng tội phạm có từ rất lâu trong lịch sử xã hội loài người nhưng nghiên
cứu tội phạm với tư cách là một ngành khoa học độc lập thì có từ… 150 năm
trước đây , khi mà chủ nghĩa tư bản đến giai đoạn phát triển và tội phạm trở
thành nổi kinh hoàng của xã hội loài người. Ngay từ khi ra đời, việc nghiên cứu
tội phạm cũng đã hình thành những hướng tiếp cận khác nhau.
Trong xã hội hiện đại, vấn đề tội phạm ở tuổi VTN cũng vốn là đối tượng
nghiên cứu của nhiều ngành khoa học như: Tội phạm học, tâm lý học, xã hội
học… Dưới góc độ xã hội học, vấn đề tội phạm (lệch lạc) đã được nhiều nhà xã
Trong những năm qua, nhiều sinh viên các trường đại học, nhiều học viên
cao học và nghiên cứu sinh các trường đại học và viện nghiên cứu cũng đã
chọn đối tượng tội phạm ở tuổi VTN làm đề tài nghiên cứu. Dưới góc độ tội
phạm học, bằng phương pháp phân tích số liệu thống kê tội phạm qua các năm,
đã có nhiều công trình nghiên cứu về tội phạm VTN đã được công bố như:
Năm 1981, trong luận án phó tiến sĩ luật học với đề tài: Nghiên cứu và
phòng ngừa tội phạm của những người chưa thành niên ở Việt Nam, tác giả
Đào Trí Úc đã đánh giá tình hình tội phạm ở tuổi VTN của Việt Nam, làm rõ
cơ cấu về lứa tuổi, về giới và về địa lý tội phạm,… Phân tích các nguyên nhân
và điều kiện của tội phạm, nhân thân những người phạm tội và mối liên hệ giữa
các yếu tố môi trường với quá trình hình thành nhân cách và hành vi; Các biện
pháp tổ chức phòng ngừa tội phạm.
9
Khoá luận tốt nghiệp
Sau đó đề tài Phòng ngừa người chưa thành niên phạm tội của tập thể tác
giả Viện kiểm sát nhân dân tối cao (1987). Năm 1994, Viện khoa học hình sự
nay thuộc Bộ Nội Vụ (nay là Bộ Công an) công bố đề tài: Về luận cứ khoa học
– thực tiển cho việc phòng ngừa tội phạm trong thanh thiếu niên ở nước ta và
Tổng cục cảnh sát nhân dân (thuộc Bộ Nội vụ nay là Bộ Công an) đã công bố
đề tài KX.04.14 về tội phạm ở Việt Nam – thực trạng – nguyên nhân và giải
pháp. Bằng phương pháp phân tích tài liệu thống kê, đề tài đã mô tả phân tích
thực trạng tội phạm, phân tích nguyên nhân làm nảy sinh các loại tội phạm
trong đó có tội phạm VTN và đề xuất một số biện pháp trong đấu tranh phòng
chống tội phạm trong đấu tranh phòng chống tội phạm trong giai đoạn mới.
Trong luận án tiến sĩ luật học năm 2000 với đề tài: Hoạt động của lực
lượng công an nhân dân trong phòng ngừa người chưa thành niên phạm tội
trong tình hình hiện nay, tác giả Đỗ Bá Cở cũng dưới góc độ tiếp cận theo
hướng tội phạm học, sử dụng phương pháp thống kê, làm rõ khái niệm người
chưa thành niên phạm tội và người chưa thành niên làm trái pháp luật; Đưa ra
lý luận về phòng ngừa tội phạm nói chung và phòng ngừa người chưa thành
- Phân tích những nguyên nhân chủ yếu, những yếu tố chính tác động đến
tội phạm ở tuổi VTN ở trên địa bàn thị xã Hồng Lĩnh - Hà Tĩnh từ nhiều góc độ
(cá nhân, gia đình, nhà trường, xã hội …)
- Đề xuất một số giải pháp và đề xuất một số khuyến nghị giúp cơ quan
chức năng hạn chế loại tội phạm này.
- Đưa ra vai trò của công tác xã hội (CTXH) đối với tội phạm ở lứa tuổi
VTN.
3.2. Nhiệm vụ nghiên cứu
Để thực hiện những mục tiêu trên thì khóa luận cần tiến hành một số nhiệm
vụ cụ thể như sau:
- Phân tích cơ cấu, tính chất, đặc điểm… của tình hình tội phạm ở lứa tuổi
VTN trên địa bàn thị xã Hồng Lĩnh - Hà Tĩnh.
11
Khoá luận tốt nghiệp
- Trên cơ sở tiếp cận về văn hóa, kinh tế, dịch vụ xã hội làm rõ những
nguyên nhân và điều kiện phát sinh tội phạm ở lứa tuổi VTN.
- Đánh giá tình hình tội phạm VTN trên địa bàn thị xã Hồng Lĩnh và công
tác phòng chống loại tội phạm này.
- Dự báo tình hình tội phạm ở tuổi VTN tại thị xã Hồng Lĩnh – Hà Tĩnh
trong những năm tới, khuyến nghị giải pháp cơ bản và tăng cường vai trò của
CTXH nhằm hạn chế loại tội phạm này.
4. Đối tượng, khách thể, phạm vi nghiên cứu
4.1. Đối tượng nghiên cứu
Thực trạng tội phạm lứa tuổi vị thanh niên trên địa bàn thị xã Hồng Lĩnh-
Hà Tĩnh, nguyên nhân và các giải pháp” (Từ năm 2001 đến năm 2008).
4.2. Khách thể nghiên cứu
“Những hành vi phạm tội do người ở tuổi vị thành niên thực hiện tại thị xã
Hồng Lĩnh từ năm 2001 đến 2008”, đã bị Tòa án nhân dân (TAND) Hồng Lĩnh
và TAND Tỉnh Hà Tĩnh xét xử bằng một bản án đã có hiệu lực pháp luật và bị
xem là tội phạm.
hệ thống nhìn nhận đối tượng nghiên cứu như một chỉnh thể, một thể thống nhất
của mối quan hệ tương tác với môi trường xung quanh, chúng ta biết rằng tội phạm
là một hiện tượng xã hội có quá trình phát sinh, phát triển và tiêu vong được tạo nên
bởi nhiều yếu tố do vậy khi nghiên cứu nó phải xem xét từ nhiều khía cạnh vì một
kết quả có thể do nhiều nguyên nhân gây ra. Tội phạm nói chung và tội phạm ở lứa
tuổi vị thành niên nói riêng có tính chất lịch sử cụ thể, có nguồn gốc phát sinh từ xã
hội, có mối quan hệ phổ biến và sự phát triển, nó là kết quả từ những nguyên nhân
kinh tế - văn hóa - xã hội trong một xã hội cụ thể, tại một thời gian xã hội nhất
định… Chính vì vậy mà khi nghiên cứu tội phạm nói chung và tội phạm ở lứa tuổi
vị thành niên nói riêng phải đặt nó trong bối cảnh xã hội nhất định.
13
Khoá luận tốt nghiệp
5.2. Phương pháp hệ
Trên cơ sở phương pháp luận duy vật biện chứng và duy vật lịch sử, các
phương pháp có thể tiến hành nghiên cứu này là: Phân tích tài liệu sẳn có,
phỏng vấn sâu cá nhân, quan sát, điều tra … Tuy nhiên do tính đặc thù của đề
tài, ở đây tôi chỉ sử dụng hai phương chủ yếu dưới đây để làm sáng tỏ mục đích
nghiên cứu của khóa luận.
5.2.1. Phương pháp phân tích tài liệu
Phân tích những tài liệu sẵn có gồm: Số liệu xét xử tội phạm nói chung và
tội phạm ở tuổi vị thành niên nói riêng được TAND thị xã Hồng Lĩnh và
TAND tỉnh Hà Tĩnh xét xử qua các năm (từ 2001 đến 2008). Các báo cáo tổng
kết hàng năm của ngành tòa án, ngành kiểm sát, ngành công an ở thị xã Hồng
Lĩnh - Hà Tĩnh (từ 20001 đến 2008); Các báo cáo chuyên đề về phòng chống
tội phạm; Các bản tài liệu và pháp luật liên quan; Các cáo trạng truy tố các đối
tượng là người ở tuổi vị thành niên phạm tội ra tòa bị xét xử theo quy định của
pháp luật (2001 đến 2008) và các bài báo đăng tải trên các phương tiện thông
tin đại chúng.
5.2.2. Phương pháp phỏng vấn sâu cá nhân
Tiến hành phỏng vấn sâu tổng cộng là 30 đối tượng, bao gồm:
Kinh tế, văn hóa, xã hội,
truyền thông,…
Các giải pháp và CTXH
đối với tội phạm VTN trên
địa bàn thị xã Hồng Lĩnh –
Hà Tĩnh
Khoá luận tốt nghiệp
8. Ý nghĩa của đề tài
8.1. Ý nghĩa lý luận
Cùng với những thành tựu trên lĩnh vực kinh tế - xã hội thì tội phạm xuất
hiện ngày càng nhiều. Hiện nay tội phạm nói chung và tội phạm VTN nói riêng
đang là đối tượng nghiên cứu của nhiều ngành khoa học, việc nghiên cứu về
đối tượng này đã có từ rất sớm nhưng nhìn nhận nó dưới góc độ xã hội học và
CTXH thì chỉ mới xuất hiện gần đây và đang còn rất mới mẽ, đặc biệt là với
CTXH đây là một ngành khoa học mới hình thành ở Việt Nam. Chính vì vậy
mà khi nghiên cứu đề tài “ Thực trạng tội phạm lứa tuổi VTN trên địa bàn thị
xã Hồng Lĩnh - Hà Tĩnh, nguyên nhân, các giải pháp” khóa luận sẽ góp phần bổ
sung lý luận, củng cố và phát triển thêm một số hiểu biết về xã hội học, CTXH
về vấn đề tội phạm ở lứa tuổi VTN.
8.2. Ý nghĩa thực tiễn
Khóa luận đã đi sâu nghiên cứu phân tích, mô tả thực trạng tội phạm và
những đối tượng phạm tội ở lứa tuổi VTN tại địa bàn thị xã Hồng Lĩnh - Hà
Tĩnh. Qua đó góp phần tìm hiểu các điều kiện và nguyên nhân phát sinh tội
phạm để từ đó có những đánh giá chính xác đồng thời đề xuất những khuyến
nghị và giải pháp phòng ngừa tội phạm nói chung và tội phạm VTN nói riêng.
Góp phần giúp cho các cấp ủy, chính quyền, cơ quan bảo vệ pháp luật và
các đoàn thể trong hệ thống chính trị có cách nhìn toàn diện về thực trạng công
tác đấu tranh phòng chống VTN phạm tội ở thị xã Hồng Lĩnh, từ đó có những
giải pháp đồng bộ trong công tác phòng chống VTN phạm tội và giúp VTN
phạm tội hòa nhập cộng đồng, góp phần tích cực vào việc giáo dục và đào tạo
trên địa bàn Hồng Lĩnh mới được phân tích, đánh giá một cách khoa học, đầy
đủ và chính xác.
1.1. Cơ sở lý luận
1.1.1. Quan điểm của chủ nghĩa Mác – Lênin về vấn đề tội phạm
C.Mác, Ph.Ăngghen và V.I.Lênin có công lao khám phá ra quy luật khách
quan của tiến trình phát triển xã hội. Đó là cơ sở khoa học cho nhận thức quá
trình phát triển của các hiện tượng xã hội trong đó có hiện tượng tội phạm.
Ngay trong tác phẩm Tình cảnh giai cấp công nhân Anh, Ph.Ăngghen đã chỉ rõ
quy luật phát sinh, phát triển chủ yếu của tội phạm trong xã hội tư bản chủ
nghĩa. Lần đầu tiên trong lịch sử nhân loại, tội phạm và nguyên nhân của nó
được giải thích một cách khoa học như là hiện tượng vốn có trong xã hội có
giai cấp đối kháng. C.Mác và Ph.Ăngghen đã đề ra tư tưởng cho rằng phương
hướng cơ bản của cuộc đấu tranh tội phạm là phòng ngừa tội phạm, và “Nhà
làm luật thông thái bao giờ cũng làm tất cả để phòng ngừa tội phạm chứ không
để tội phạm xảy ra rồi mới trừng phạt’’ [26,tr.75]. Những quan điểm của
C.Mác và Ph.Ăngghen về tội phạm và nguyên nhân của chúng trong xã hội xã
hội chủ nghĩa đã được V.I.Lênin phát triển một cách toàn diện. Lênin chỉ ra
khâu quyết định của việc phòng ngừa tội phạm là phải xác định được các
nguyên nhân và đề ra các biện pháp xóa bỏ các nguyên nhân đó. Trong tác
18
Khoá luận tốt nghiệp
phẩm “Nhà nước và cách mạng’’, Lênin chỉ rõ: “Nguyên nhân xã hội sâu xa
của những hành động quá lạm vào quy tắc của cuộc sống chung là sự bóc lột
quần chúng, sự nghèo đói và sự bần cùng của chúng. Một khi gạt bỏ được
nguyên nhân chủ yếu ấy thì những hành động quá lạm tất nhiên sẽ bắt đầu tiêu
vong’’ [26,tr.76]. Lênin đã đưa ra quan điểm tổng hợp và đặc biệt chú ý xây
dựng hệ thống các biện pháp phòng ngừa xã hội đối với tội phạm. Theo Lênin,
việc phát hiện tội phạm và áp dụng hình phạt kịp thời cũng là biện pháp,
phương hướng để phòng ngừa tội phạm.
Tóm lại, trong các tác phẩm của mình, C.Mác và Ph.Ăngghen, Lênin đều
nguy hiểm cho nền dân chủ cộng hòa. Căn cứ vào tình hình tội phạm lúc ấy,
ngày 28/2/1946 Chủ tịch Hồ Chí Minh đã ký sắc lệnh số 27 “Quy định các tòa
án quân sự có quyền xử các tội bắt cóc, tống tiền và ám sát. Những kẻ phạm tội
này bị phạt từ 2 năm đến 10 năm tù và có thể bị xử tử. Đối với các tội hình sự
thường sẽ do các tòa án thường xét xử’’ [20,tr.158].
Theo Chủ tịch Hồ Chí Minh, kẻ phạm tội là phải trừng trị theo pháp luật.
Đó là điều tất yếu để giữ gìn kỷ cương phép nước và giữ vững an ninh chính
trị, trật tự an toàn xã hội. Song, Chủ tịch Hồ Chí Minh cũng rất coi trọng và
quan tâm đến yếu tố giáo dục và coi đó là yếu tố chính của việc phòng ngừa tội
phạm.
* Quan điểm của Đảng và Nhà nước ta về vấn đề tội phạm
Học tập và làm theo tư tưởng của Hồ Chí Minh, Đảng ta cho rằng: “Quốc
gia có luật thì toàn Đảng, toàn dân, toàn quân ta phải sống theo luật. Muốn đất
nước có kỹ cương thì phải giữ nghiêm phép nước. Có giữ nghiêm phép nước
thì thế nước mới vững chãi. Cuộc sống hạnh phúc của nhân dân đòi hỏi lực
lượng công an nhân dân chủ động sự bảo vệ bình yên, giữ vững ổn định chính
trị và an toàn xã hội. Ngành tư pháp được nhân dân giao cho trọng trách cầm
cân nảy mực, phải chính trực công minh, xử đúng luật, không được để lọt kẻ có
tội, không xử oan lương dân, ’’ [14,tr.31]. Để cụ thể hóa quan điểm này và giữ
20
Khoá luận tốt nghiệp
vững nền an ninh trật tự của Tổ quốc, Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IX
của Đảng chủ trương: “Kết hợp chặt chẽ kinh tế với quốc phòng và an ninh,
quốc phòng và an ninh với kinh tế trong các chiến lược quy hoạch và kế hoạch
phát triển kinh tế - xã hội Thường xuyên cảnh giác, kịp thời đập tan mọi âm
mưu và hành động xâm phạm độc lập chủ quyền, toàn vẹn lãnh thổ của Tổ
quốc và an ninh quốc gia; ngăn chặn và đẩy lùi các tội phạm nguy hiểm và các
tệ nạn xã hội, bảo đảm tốt an toàn xã hội’’ [6,tr.40-41].
Về tình hình tội phạm hiện nay, Đảng ta nhận định: “Tình hình tội phạm
xuất hiện nhiều hơn, cả những hình thức tội phạm mới, như tội phạm có tổ
công dân tinh thần, ý thức làm chủ xã hội, ý thức tuân thủ pháp luật, chủ động
tham gia phòng ngừa và phòng chống tội phạm’’ [23,tr.14]. Theo đường lối xét
xử hình sự của Đảng ta, “hình phạt không chỉ nhằm trừng trị người phạm tội
mà còn giáo dục họ trở thành những người có ích cho xã hội, có ý thức tuân
theo pháp luật và các quy tắc của cuộc sống xã hội chủ nghĩa, ngăn ngừa họ
phạm tội mới. Hình phạt còn nhằm giáo dục người khác tôn trọng pháp luật,
đấu tranh phòng ngừa và chống tội phạm’’ [23,tr.27-28].
Đối với tội phạm ở tuổi VTN, xuất phát từ bản chất ưu việt của chế độ xã
hội chủ nghĩa, Đảng và Nhà nước ta đã có những chủ trương, chính sách đặc
biệt khoan hồng. Bộ luật hình sự cũng đã dành hẳn chương X quy định riêng
đường lối xử lý đối với tội phạm ở lứa tuổi này.
Điều 69 của bộ luật hình sự quy định Nguyên tắc xử lý đối với người chưa
thành niên phạm tội nêu rõ:
1. Việc xử lý người chưa thành niên phạm tội chủ yếu nhằm giáo dục, giúp
đỡ họ sửa chữa sai lầm, phát triển lành mạnh và trở thành công dân có ích cho
xã hội.
Trong mọi trường hợp điều tra, truy tố, xét xử hành vi phạm tội của người
chưa thành niên, các cơ quan nhà nước có thẩm quyền phải xác định khả năng
22
Khoá luận tốt nghiệp
nhận thức của họ về tính chất nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội,
nguyên nhân và điều kiện gây ra tội phạm.
2. Người chưa thành niên phạm tội có thể được miễn trách nhiệm hình sự,
nếu người đó phạm tội ít nghiêm trọng, gây hại không lớn, có nhiều tình tiết
giảm nhẹ và được gia đình hoặc cơ quan, tổ chức nhận giám sát, giáo dục.
3. Việc truy cứu trách nhiệm hình sự người chưa thành niên phạm tội và áp
dụng hình phạt đối với họ được thực hiện chỉ trong trường hợp cần thiết và phải
căn cứ vào tính chất của hành vi phạm tội, vào những đặc điểm về nhân cách và
yêu cầu của việc phòng ngừa tội phạm.
4. Khi xét xử, nếu thấy không cần thiết phải áp dụng hình phạt đối với
xử giảm; riêng đối với hình phạt tù, mỗi lần có thể được giảm bốn năm nhưng
phải bảo đảm đã chấp hành ít nhất hai phần năm mức hình phạt đã tuyên.
2. Người chưa thành niên bị phạt cải tạo không giam giữ hoặc phạt tù, nếu
lập công hoặc mắc bệnh hiểm nghèo, thì được xét giảm ngay và có thể được
miễn chấp hành hình phạt còn lại.
3. Người chưa thành niên bị phạt tiền nhưng bị lâm vào hoàn cảnh kinh tế
đặc biệt khó khăn kéo dài do thiên tai, hỏa hoạn, tai nạn hoặc ốm đau gây ra
hoặc lập công lớn, thì theo đề nghị của Viện trưởng viện kiếm sát, Tòa án có
thể quyết định giảm hoặc miễn chấp hành phần phạt tiền còn lại [23,tr. 57].
Để phòng chống tội phạm có hiệu quả, Đảng và Nhà nước ta đã cụ thể hóa
trách nhiệm của các cơ quan, tổ chức và cá nhân trong phòng chống tội phạm.
Tại điều 4 của Bộ luật hình sự quy định trách nhiệm đấu tranh phòng ngừa và
chống tội phạm nêu rõ:
1. Các cơ quan Công an, Kiểm sát, Tòa án, Tư pháp, Thanh tra và các cơ
quan hữu quan khác có trách nhiệm thi hành đầy đủ chức năng, nhiệm vụ của
mình, đồng thời hướng dẫn, giúp đỡ các cơ quan khác của Nhà nước, tổ chức,
công dân đấu tranh phòng ngừa và chống tội phạm, giáo dục và giám sát người
phạm tội tại cộng đồng.
24
Khoá luận tốt nghiệp
2. Các cơ quan, tổ chức có nhiệm vụ giáo dục những người thuộc quyền
quản lý của mình nâng cao cảnh giác, ý thức bảo vệ pháp luật và tuân theo pháp
luật, tôn trọng các quy tắc của cuộc sống xã hội chủ nghĩa; Kịp thời có biện
pháp loại trừ nguyên nhân và điều kiện gây ra tội phạm trong cơ quan, tổ chức
của mình.
3. Mọi công dân có nghĩa vụ tích cực tham gia đấu tranh phòng ngừa và
chống tội phạm’’ [23,tr.16-17].
Để giữ vững ổn định an ninh chính trị và trật tự an toàn xã hội, Đảng ta kêu
gọi: “Phát huy dân chủ đi đôi với với giữ vững kỷ luật, kỷ cương, tăng pháp
chế, quản lý xã hội bằng pháp luật, tuyên truyền giáo dục toàn dân, nâng cao ý