LỜI NÓI ĐẦU
Trải qua 20 năm đổi mới, nền kinh tế nước ta đã có nhiều khởi sắc. Kinh tế phát
triển nhanh và Việt Nam ngày càng hội nhập sâu hơn với thế giới. Có được những
thành tựu đó là do: Ngay từ ngày đầu của công cuộc Đổi mới Đảng ta đã xác định
chuyển dịch cơ cấu kinh tế là con đường tất yếu để công nghiệp hóa, hiện đại hóa
đất nước, coi chuyển dịch cơ cấu kinh tế là nhiệm vụ quan trọng của thời kỳ Đổi
mới. Mặt khác, để chủ trương đúng đắn đó đi vào thực tiễn phải kể đến vai trò
trực tiếp của đầu tư phát triển.
Những tác động của đầu tư với chuyển dịch cơ cấu kinh tế Việt Nam luôn được
nhắc đến khi đánh giá các thành tựu của thời kỳ Đổi mới. Nhưng những đánh giá
đó chủ yếu là định tính. Những đánh giá này có thể cung cấp cái nhìn tổng thể
nhưng không đi sâu vào các căn cứ thực tế. Để phục vụ cho công tác nghiên cứu
khoa học cũng như việc lập kế hoạch phát triển kinh tế xã hội cần những đánh giá
định lượng.
Bởi vậy, đề tài này ra đời với mục đích cao nhất là phân tích định lượng tác động
của đầu tư với chuyển dịch cơ cấu kinh tế Việt Nam.
ChươngI
1
Những vấn đề lí luận chung
A. Các khái niệm chung về cơ cấu và chuyển dịch cấu kinh tế
1 .Cơ cấu kinh tế:
1.1. Khái niệm và bản chất:
-Cơ cấu kinh tế là tổng thể các yếu tố cấu thành nền kinh tế, có quan hệ chặt chẽ
với nhau, được biểu hiện cả về mặt chất và mặt lượng, tuỳ thuộc vào mục tiêu của
nền kinh tế.
-Về mặt bản chất: CCKT là kết quả của phân công lao động xã hội
-Về mặt biểu hiện: CCKT có 2 đặc tính:
*Biểu hiện hình thức thông qua quan hệ tỉ lệ: tỉ trọng giữa các bộ phận hợp thành
cơ cấu ngành.
*Biểu hiện nội dung thông qua quan hệ giữa các thành phần: các thành phần
tương tác với nhau như thế nào, quan hệ chặt hay lỏng.
Chuyển dịch cơ cấu kinh tế (CDCCKT) là sự thay đổi cơ cấu của nền kinh tế do
sự thay đổi các chính sách và các bién động về mặt xã hội gây nên, nó có thể được
thực hiện một cách chủ động, có ý thức hoặc xảy ra trong điều kiện khách quan,
có thể không theo hoặc ngược lại dự kiến ban đầu.
CCKT không thể tự thay đổi nếu không có sự tác động từ bên ngoài
Nếu CCKT chuyển dịch đúng, hợp lí thì đó là yếu tố thúc đẩy sự phát
triển kinh tế xã hội; ngược lại nó trở thành yếu tố kìm hãm. Vì vậy
CDCCKT là một vấn đề mang tầm quốc gia, đòi hỏi một chương trình
hành động thống nhất trên phạm vi cả nước
2.2. Các nguyên tắc CDCCKT
-CDCCKT phải phù hợp với sự phát triển của lực lượng sản xuất và quan hệ sản
xuất. Tức là phải phù hợp với các quy luật khách quan chứ không phải những
mệnh lệnh hành chính chủ quan, duy ý chí. Bởi vậy, CDCC phải đảm bảo hiệu
quả trước mắt và hiệu quả lâu dài, hài hoà giữa hiệu quả cục bộ và hiệu quả toàn
bộ cũng như phải đem lại hiệu quả cho mọi người, cho toàn xã hội.
-CDCCKT phải dựa trên một chương trình hành động thống nhất mang tính quốc
gia. Đối với cơ cấu theo lãnh thổ, CCKT vừa phải phù hợp với lợi thế so sánh của
vùng vừa phải hài hoà với tổng thể xã hội. Đối với cơ cấu ngành, phải xuất phát
từ sự thay đổi các ngành chủ lực làm đầu tàu kéo nền kinh tế từ những thay đổi
về lượng đến những chuyển dịch về chất. Cơ cấu theo thành phần tuy không đóng
vai trò chủ đạo nhưng phải tạo ra môi trường kinh tế cởi mở, linh hoạt cho sự
chuyển dịch.
-CDCCKT có thể diễn ra một cách tuần tự, cũng có thể diễn ra một cách nhảy vọt
tuỳ theo điều kiện cụ thể.
2.3. Xu hướng CDCCKT
CDCCKT có thể diễn ra theo nhiều hướng khác nhau và còn phù thuộc vào mục
tiêu kinh tế xã hội của từng quốc gia. Tuy nhiên, đối với Việt Nam, để có một nền
kinh tế hợp lí và đồng bộ thì CDCCKT tốt nhất nên đi theo một xu hướng chung.
Đặc biệt, đối với CC ngành kinh tế: Tỉ trọng ngành phi nông nghiệp tăng lên, tỉ
trọng ngành nông nghiệp giảm xuống. Mục tiêu để đạt đến một nền kinh tế phát
nghiệp-dịch vụ-nông nghiệp.
Giai đoạn 4: Trưởng thành: Cơ cấu kinh tế đặc trưng của giai đoạn này:
Dịch vụ-công nghiệp-nông nghiệp. Tỷ lệ tiết kiệm chiếm hơn 20% thu
nhập quốc dân thuần túy. Đầu tư chiếm tỷ lệ cao.
Giai đoạn 5:Tiêu dùng cao
Có thể thấy trong mỗi giai đoạn đầu tư luôn là yếu tố tiên quyết đối với
sự hình thành 1 cơ cấu kinh tế mới,tiến bộ và hợp lý hơn.
1.2. Mô hình 2 khu vực của Harry Oshima
Dựa trên nghiên cứu của 2 mô hình 2 khu vực của Athus Lewis và của trường phái
Tân cổ điển và đặc điểm riêng của các nước châu Á gió mùa (nền nông nghiệp
mang tính chất thời vụ cao nên lao động thất nghiệp cũng có tính chất thời vụ);
Harry Oshima đã quan tâm đến việc đầu tư phát triển nền kinh tế theo 3 giai đoạn:
Giai đoạn bắt đầu của quá trình tăng trưởng: tạo việc làm trong thời gian
nhàn rỗi theo hướng tăng cường đầu tư phát triển nông nghiệp. Cụ thể là đa
dạng hoá sản xuất nông nghiệp, xen canh, tăng vụ, mở rộng chăn nuôi. Đồng
4
thời để nâng cao năng suất lao động cần đầu tư xây dựng hệ thống kênh
mương, đập tưới tiêu nước, hệ thống vận tải nông thôn để trao đổi hàng hoá,
hệ thống giáo dục và điện khí hoá nông thôn.
Giai đoạn 2: Hướng tới có việc làm đầy đủ bằng cách đầu tư phát triển đồng
thời cả công nghiệp, nông nghiệp và dịch vụ theo chiều rộng. Bên cạnh việc
tiếp tục phát triển nông nghiệp theo quy mô lớn, cần phát triển những ngành
công nghiệp, dịch vụ cần nhiều lao động và các ngành thu hút nhiều lao
động. Nhờ đó vừa giải quyết lao động dư thừa vừa mở rộng thị trường cho
ngành công nghiệp.
Giai đoạn 3: Sau khi có việc làm đầy đủ: thực hiện phát triển các ngành kinh
tế theo chiều sâu nhằm giảm cầu lao động. Đẩy mạnh đầu tư đưa khoa học
công nghệ vào nhằm thay thế lực lượng lao động đang dần trở nên thiếu hụt.
Các ngành sử dụng ít lao động đang dần thay thế các ngành sử dụng nhiều
lao động trong cơ cấu kinh tế
giảm trong đóng góp vào tăng trưởng của cả hai nhân tố sản xuất tư bản và
lao động theo cách tính qui ước. Như vậy, trong giai đoạn này, nhân tố
đóng góp lớn nhất cho tăng trưởng là nhân tố tổng năng suất nhân tố (Total
Factor Productivity - TFP).
Có thế nói rằng, lý thuyết chuyển dịch cơ cấu của M. Syrquin là một bức tranh
tổng thể khá chính xác về sự phát triển và chuyển dịch cơ cấu kinh tế trên thế giới
thời kỳ hiện đại. Đặc biệt, lý thuyết này đi sâu hơn các lý thuyết trước trong việc
phân tích tác động của từng nguồn lực trong đầu tư phát triển đến chuyển dịch cơ
cấu kinh tế trong từng giai đoạn.
1.6. Lý thuyết phát triển cân đối và Lý thuyết phát triển không cân đối hay
“các cực tăng trưởng”
• Những nhà kinh tế học ủng hộ lý thuyết phát triển cân đối (như R
Nurkse, Rosenstein - Rodan) cho rằng ngay từ đầu phải đầu tư phát triển
đồng đều ở tất cả mọi ngành kinh tế quốc dân để nhanh chóng công nghiệp
hóa và chuyển dịch cơ cấu kinh tế. Luận cứ mà họ đưa ra là:
- Trong quá trình phát triển, tất cả các ngành có liên quan mật thiết với nhau, "đầu
ra" của ngành này là "đầu vào" của ngành kia và như vậy, sự phát triển đồng đều
và cân đối chính là đòi hỏi sự cân bằng cung cầu trong sản xuất.
- Sự phát triển cân đối giữa các ngành như thế giúp tránh được các ảnh hưởng tiêu
cực của thị trường thế giới và hạn chế được mức độ phụ thuộc vào các nền kinh tế
khác, qua đó tiết kiệm được nguồn ngoại tệ.
- Một nền kinh tế dự trên cơ cấu cân đối giữa tất cả các ngành là nền tảng vững
chắc đảm bảo sự độc lập chính trị của các nước đang phát triển.
Những nghiên cứu mà mô hình đưa ra chỉ phù hợp để định hướng cho một nền
kinh tế đóng. Nó không phù hợp với điều kiện toàn cầu hóa hiện nay. Đặc biệt với
các nước đang phát triển nếu đi theo con đường này sẽ bị hạn chế trong việc tiếp
cận với các nguồn lực do không tận dụng được các lợi ích mà môi trường bên
ngoài đem lại. Mặt khác, việc đầu tư cho tất cả các ngành phải đối mặt với vấn đề
nguồn lực khan hiếm. Đặc biệt, với các nước đang phát triển, việc đầu tư vào tất
cả các ngành với nguồn lực nhỏ bé trong nước sẽ dẫn tới đầu tư dàn trải, kém hiệu
2 .Những logic thực tế về vai trò của đầu tư với chuyển dịch cơ cấu kinh tế
2.1. Đối với cơ cấu ngành kinh tế:
Việc đầu tư vào ngành nào, quy mô vốn là bao nhiêu, đồng vốn được sử dụng
như thế nào đều tác động mạnh mẽ và trực tiếp đến sự phát triển của ngành nói
riêng và của cả nền kinh tế nói chung. Cụ thể, đầu tư sẽ góp phần tăng cường vật
chất kĩ thuật, nâng cao hàm lượng công nghệ qua đó nâng cao năng suất lao động
của ngành. Nhờ đó sẽ tạo ra sản lượng cao hơn với giá thành thấp hơn. Mặt khác,
đầu tư là tiền đề tập trung các nguồn lực khác của nền kinh tế (lao động,tài
nguyên,vốn dư thừa…) cho mục tiêu phát triển ngành. Chính đầu tư chứ không
phải các quyết định hành chính là nhân tố trực tiếp nhất có thể huy động tất cả các
yếu tố đầu vào cần thiết cho sự phát triển của ngành. Không những thế việc đầu tư
còn tạo ra điều kiện vật chất cho sự ra đời của những ngành mới. Sự thay đổi tỉ
trọng giữa các ngành và sự ra đời của những ngành mới chính là chuyển dịch cơ
cấu kinh tế ngành.
2.2.Đối với cơ cấu lãnh thổ kinh tế:
7
Có thể dễ dàng nhận thấy bất cứ vùng nào nhận được một sự đầu tư thích hợp
đều có điều kiện để phát huy mạnh mẽ những thế mạnh của mình. Những vùng
tập trung nhiều khu công nghiệp lớn đều là những vùng rất phát triển của một
quốc gia. Những vùng có điều kiện được đầu tư sẽ là đầu tàu kéo các vùng khác
cùng phát triển. Những vùng kém phát triển có thể nhờ vào đầu tư để thoát khỏi
đói nghèo và giảm dần khoảng cách với các vùng khác. Nếu xét cơ cấu lãnh thổ
theo góc độ thành thị và nông thôn thì đầu tư là yếu tố bảo đảm cho chất lượng
của đô thị hoá. Việc mở rộng các khu đô thị dựa trên các quyết định của chính phủ
sẽ chỉ là hình thức nếu không đi kèm với các khoản đầu tư hợp lý. Đô thị hoá
không thể gọi là thành công thậm chí còn cản trở sự phát triển nếu cơ sớ hạ tầng
không đáp ứng được các nhu cầu của người dân. Các dịch vụ y tế, giáo dục…
cũng cần được đầu tư cho phù hợp với sự phát triển của một đô thị.
2.3.Đối với cơ cấu thành phần kinh tế:
Đối với mỗi quốc gia, việc tổ chức các thành phần kinh tế chủ yếu phụ thuộc
Nhưng để cạnh tranh hiệu quả chúng ta cần biết thị trường thế giới đang cần gì để
xây dựng cơ cấu đầu tư vào những nhóm ngành sản xuất hàng xuất khẩu phù hợp.
Toàn cầu hoá đang đưa Việt Nam ra gần hơn với thế giới và đưa thế giới đến gần
hơn với Việt Nam.
4. Những chỉ số đánh giá mức độ chuyển dịch cơ cấu kinh tế và tác động của
đầu tư tới chuyển dịch cơ cấu kinh tế
4.1.Các chỉ số đánh giá chuyển dịch cơ cấu kinh tế
4.1.1. Tỉ trọng các ngành -
β
(t)
• Công thức tính tỉ trọng các ngành:
)(
)(
tGDP
tGDP
Ngành
Ngành
=
β
Tỉ trọng của ngành phi nông nghiệp là :
β
PNN
(t) = β
CN
(t) + β
DV
(t)
Tỉ trọng của ngành sản xuất vật chất là :
β
SXVC
=
)1()1(())()((
)1()()1()(
2222
tttt
tttt
PNNNNPNNNN
PNNPNNNNNN
ββββ
ββββ
+×+
×+×
Góc θ
o
= arccos θ
o
Hệ số chuyển dịch k của 2 ngành NN và phi NN là :
9
K=
90
0
θ
• Ý nghĩa của hệ số
Góc θ
o
bằng 0
o
khi không có sự chuyển dịch cơ cấu kinh tế và 90
0
khi sự dịch
−
−
với
)1(t
I
β
là tỷ trọng đầu tư ngành thời kỳ nghiên cứu
)(t
I
β
là tỷ trọng đầu tư ngành thời kỳ trước
)1(t
β
là tỷ trọng đóng góp GDP của ngành đó thời kỳ nghiên cứu
)(t
β
là tỷ trọng đóng góp GDP của ngành đó thời kỳ trước
• Ý nghĩa : chỉ tiêu này cho biết, để tăng 1% tỷ trọng GDP của ngành trong
tổng GDP (thay đổi cơ cấu kinh tế) thì cần phải đầu tư cho ngành tăng thêm
bao nhiêu. Bởi vậy, nó là thước đo đánh giá độ nhạy cảm giữa tỷ trọng GDP
của mỗi ngành và tỷ trọng đầu tư của ngành đó. Qua đó có thể đánh giá mức
độ ảnh hướng của đầu tư tới chuyển dịch cơ cấu ngành kinh tế. Nếu hệ số
này mang giá giá trị dương tức là khi tỷ trọng đầu tư vào ngành tăng hoặc
giảm thì tỷ trọng GDP cũng tăng giảm tương ứng. Nếu hệ số này âm, tức là
trong giai đoạn đo đầu tư không tác động thuận chiều đến thay đổi tỷ trọng
ngành.
2.Hệ số co dãn giữa việc thay đổi cơ cấu đầu tư ngành với thay đổi GDP (H2)
• Công thức tính
ở Việt Nam. Với sự ra đời của Luật đầu tư nước ngoài (1987) và Luật Doanh
nghiệp (2000) tình hình thu hút vốn đầu tư đã có nhiều chuyển biến tích cực. Tổng
vốn đầu tư tăng nhanh. Chỉ xét giai đoạn từ 1995-2007, tổng vốn đầu tư đã tăng
hơn 7 lần. Từ năm 1990 đến nay tổng vốn đầu tư phát triển của Việt Nam tăng
khá nhanh và tỷ lệ đầu tư so với GDP đã tăng lên đến 41% năm 2006, 41,7% năm
2007.
Vốn đầu tư ở Việt Nam
0
100000
200000
300000
400000
500000
600000
1995 1996 1997 1998 1999 2000 2001 2002 2003 2004 2005 2006 Sơ bộ
2007
Tỷ đồng
Vốn đầu tư ở Việt Nam
(nguồn: tổng cục thống kê)
11
Mặt khác, về cơ cấu nguồn vốn có sự đa dạng hóa. Nếu trước đổi mới, vốn đầu
tư xã hội chủ yếu là vốn nhà nước. Thì sau đổi mới nguồn vốn đã được mở rộng
với sự tham gia của các thành phần kinh tế ngoài nhà nước. Nguồn vốn trong
nước đã được khai thác khá hơn, chiếm trên 70% so với tổng vốn đầu tư, vượt dự
kiến kế hoạch (60%), tạo điều kiện tốt hơn để tập trung đầu tư vào những mục
tiêu phát triển nông nghiệp và nông thôn, xoá đói giảm nghèo, nâng cao chất
lượng nguồn nhân lực, phát triển khoa học và công nghệ, đặc biệt là xây dựng kết
cấu hạ tầng; đồng thời có nhiều hình thức huy động khác như công trái giáo dục,
trái phiếu chính phủ, trái phiếu đô thị..., tăng thêm nguồn vốn đầu tư phát triển.
Bên cạnh đó, chúng ta luôn luôn coi trọng việc thu hút nguồn vốn từ bên ngoài, cả
Có thể thấy vai trò của các ngành kinh tế không ngừng thay đổi theo thời gian.
Trong đó, ngành nông nghiệp từ chỗ là ngành quan trọng nhất (chiếm tỷ trọng cao
nhất trong giai đoạn 1986-1990) đã dần nhường chỗ cho các ngành công nghiệp
và dịch vụ. Tỷ trọng của ngành dịch vụ nhìn chung không ngừng gia tăng trong
các thời kỳ. Hiện nay, công nghiệp đang là ngành chiếm tỷ trọng cao nhất trong
GDP. Đồng nghĩa với việc là ngành kinh tế quan trọng nhất. Tỷ trọng ngành dịch
vụ cũng tăng liên tục qua các năm. Có những thời kỳ dịch vụ đã là ngành kinh tế
lớn nhất (1999-2005). Hiện nay, đó là ngành kinh tế lớn thứ hai sau công nghiệp.
Nếu so sánh với các chỉ tiêu kinh tế xã hội 5 năm, còn có thể thấy:
- Chỉ tiêu kinh tế xã hội 5 năm 1996-2000: Cơ cấu ngành kinh tế năm cuối (2000)
Nông-lâm-ngư nghiệp:19-20%; Công nghiệp-xây dựng: 34-35%; Dịch vụ:
45-46%. Nếu nhìn vào giá trị đạt được của Việt Nam trong năm 2000 với các số
liệu tương ứng là 24.53%-36.73%-38.73% thì chuyển dịch cơ cấu ngành nông
nghiệp, dịch vụ đã không đạt được chỉ tiêu đề ra. Tuy nhiên, nguyên nhân ở đây là
do chính các chỉ tiêu thời kỳ này là không hợp lý khi kỳ vọng quá cao vào sự phát
triển của ngành dịch vụ trong điều kiện bấy giờ của đất nước.
- Chỉ tiêu kinh tế xã hội 5 năm 2001-2005: Cơ cấu kinh tế năm 2005: Tỷ trọng các
ngành: Nông nghiệp: 20-21%; Công nghiệp-xây dựng: 38-39%; Dịch vụ 41-42%.
Các chỉ tiêu này rõ ràng đã được điều chỉnh phù hợp hơn. Tuy nhiên, việc đặt mục
tiêu tỷ trọng dịch vụ cao hơn công nghiệp là chưa hợp lý. Trong thực tế năm 2005,
tỷ trọng ngành dịch vụ (38.05%) vẫn chưa đạt được mục tiêu đề ra.
- Chỉ tiêu phát triển kinh tế xã hội 5 năm 2006-2010 là: nông-lâm-ngư nghiệp:
15-16%; công nghiệp-xây dựng: 43-44%; Dịch vụ: 40-41%. Chỉ tiêu đặt ra cho
giai đoạn này đã thực sự định hướng được cho sản xuất và là chỉ tiêu tốt để so
sánh. Và nếu nhìn vào cơ cấu ngành năm 2007, ta hoàn toàn có cơ sở để tin tưởng
các chỉ tiêu này sẽ được hoàn thành vao năm 2010.
1. Hướng chuyển dịch cơ cấu kinh tế
• Số liệu thực tế của Việt Nam
Độ lệch tỷ trọng các ngành các giai đoạn :
Bảng 4
nhưng luôn tăng đều qua các năm. Tỷ trọng công nghiệp tăng nhưng mức tăng có
xu hướng chậm lại. Điều đó là phù hợp nếu công nghiệp nhường bước cho dịch vụ
phát triển. Tuy nhiên, sự phát triển của khu vực dịch vụ lại không đi theo một xu
hướng như mong muốn. Giai đoạn 1995-2000, độ lệch tỷ trọng nhóm ngành dịch
vụ mang dấu âm trong khi chủ trương chung của chúng ta trong thời kỳ này là
không ngừng gia tăng tỷ trọng ngành dịch vụ. Điều đó có nghĩa là những chủ
trương của Đảng chưa được thực sự đi vào thực tiễn. Tuy nhên, hiện nay, xu
hướng chung đã được lập lại. Độ lệch tỷ trọng dịch vụ lại mang giá trị dương
trong giai đoạn 2005-2007. Có thể lạc quan rằng kế hoạch 5 năm 2006-2010 đang
được triển khai đúng hướng trong thực tế.
2. Tốc độ chuyển dịch cơ cấu kinh tế
Tốc độ chuyển dịch cơ cấu giữa 2 khu vực nông nghiệp và phi nông nghiệp được
đánh giá thông qua hệ số chuyển dịch k.
• Số liệu thực tế của Việt Nam
Tỷ trọng các khu vực trong nền kinh tế Việt Nam
Bảng 2
Đơn vị: %
Năm 1986 1989 1990 1994 1995 1999 2000 2004 2005 2007
Tỷ trọng NN 38.06 42.07 38.74 27.43 27.18 25.44 24.53 21.76 20.9 17.86
Tỷ trọng PNN 61.94 57.93 61.26 72.57 72.82 74.56 75.47 78.24 79.1 82.14
Chuyển dịch cơ cấu ngành NN và phi NN
Bảng 3
Giai đoạn 1986-1989 1990-1994 1995-1999 2000-2004 2005-2007
cos θ
0.99703 0.97956 0.99960 0.99908 0.99902
Góc θ
4.419 11.603 1.628 2.463 2.534
Hệ số k 0.049 0.129 0.018 0.027 0.028
14
• Đánh giá số liệu
Tổng vốn ĐT ngành NN 15938 12945 14130 14706 15962 18412 20472
Tỷ trọng ĐT ngành NN
(%) 13.846 8.747 8.471 7.768 7.461 7.567 6.688
tỷ trọng GDP ngành NN
(%) 24.53 23.03 22.54 21.76 20.05 18.74 17.86
H1(NN) _ 6.022 1.483 2.398 0.503 -0.217 2.474
Tổng vốn ĐT ngành CN 45155 62805 69325 80388 90516 104575 135641
15
Tỷ trọng ĐT ngành CN(%) 39.228 42.438 41.558 42.462 42.311 42.981 44.313
Tỷ trọng GDP ngành
CN(%) 36.73 38.49 39.47 40.09 41 40.97 41.77
H1(CN) _ 1.708 -0.814 1.385 -0.157 -21.641 1.587
Tổng vốn ĐT ngành DV 54018 72242 83359 94225 107452 120319 149987
Tỷ trọng ĐT ngành DV(%) 46.926 48.815 49.971 49.77 50.228 49.452 48.999
Tỷ trọng GDP ngành
DV(%) 38.74 38.48 37.99 38.15 38.95 40.29 40.37
H1(DV) _ -5.998 -1.86 -0.955 0.43884 -0.449 -4.613
Các hệ số co giãn của ngành nông nghiệp nhìn chung đều mang giá trị dương,
Điều đó có nghĩa là việc giảm tỷ trọng đầu tư đã tác động thuận chiều đến giảm tỷ
trọng nông nghiệp. Trong đó năm 2005, hệ số co jãn có giá trị nhỏ nhất 0.503.
Điều đó có nghĩa là để tỷ trọng GDP nông nghiệp giảm 1% phải giảm tỷ trọng đầu
tư nông nghiệp 0.503%. Hay ngược lại chỉ cần giảm tỷ trọng nông nghiệp 0.503%
đã làm tỷ trọng nông nghiệp 1%. Tức là năm mối quan hệ giữa tỷ trọng đầu tư và
tỷ trọng GDP là rất chặt chẽ, đầu tư có tác động mạnh đến CDCC nông nghiệp.
Đối với ngành công nghiệp và dịch vụ, để thích ứng với vấn đề độ trễ của đầu tư
(do đặc trưng của 2 ngành này là các công trình đẩu tư thường lớn hơn và có thời
gian kéo dài hơn đầu tư cho nông nghiệp) xét hệ số co giãn theo giai đoạn. Khi đó,
đối với ngành công nghiệp, giai đoạn 2000-2004, H1=0.909, Giai đoạn
2005-2007, H1=2,519. H1(CN) >0. Kết luận đầu tư các tác động đến thay đổi tỷ
trọng công nghiệp và giai đoạn mức độ tac động giảm trong 2 giai đoạn. Đối với
dịch vụ chưa thu được những hiệu quả tương xứng với phần bỏ ra.
2. Đánh giá chung
Trong chủ trương phát triển đất nước ngay từ Đại hội VI, Đảng ta đã luôn coi
chuyển dịch cơ cấu ngành kinh tế là giải pháp để tăng trưởng và phát triển đất
nước. Phục vụ thiết thực cho chủ trương đó, trong thời gian qua cơ cấu vốn đầu tư
đã thay đổi theo hướng đầu tư có tọng tâm, trọng điểm. Trong đó tỷ trọng đầu tư
cho ngành dịch vụ là cao nhất và tỷ trọng đầu tư cho ngành nông nghiệp là thấp
nhất. Điều đó đã mang lại một diện mạo mới cho nền kinh tế. Cơ cấu kinh tế nhìn
chung có những chuyển biến tích cực. Tỷ trọng khu vực nông nghiệp liên tục
giảm qua các năm. Tương đương với đó là sự tăng lên không ngừng của khu vực
phi nông nghiệp. Chuyển dịch cơ cấu ngành kinh tế đã tạo ra các hiệu ứng tích cực
cho nền kinh tế. Tốc độ tăng trưởng kinh tế duy trì cao qua các năm. Nếu như tốc
độ tăng trưởng kinh tế ở nước ta trước đổi mới, thời kỳ 1977-1980 chỉ có gần
0,2%, thì từ năm 1986 đến nay, nền kinh tế luôn có mức tăng trưởng cao. Cụ thể:
Tốc độ tăng bình quân thời kỳ 1986-1990 đạt xấp xỉ 4,5%; thời kỳ 1991-1995 đạt
8,2%, thời kỳ 1996-2000 đạt 7%, thời kỳ 2001-2005 là 7,5%. Giải quyết tốt hơn
vấn đề công ăn việc làm. Nâng cao thu nhập. Cải thiện đời sống nhân dân. Tạo
điều kiện cho các chủ thể trong nền kinh tế phát huy các tiềm năng vốn có. Có thể
thấy chuyển dịch cơ cấu ngành kinh tế đã và đang từng bước hiện thực hóa các
mục tiêu mà Đảng đề ra. Tuy nhiên, chất lượng chuyển dịch cơ cấu kinh tế không
cao. Cụ thể: Thứ nhất, tốc độ chuyển dịch chậm. Điều này tuy không tạo ra những
thay đột ngột cho nền kinh tế. Nhưng trong điều kiện toàn cầu hóa như hiện nay
chuyển dịch chậm kéo theo nguy cơ tụt hậu. Thứ hai, trong khu vực phi nông
nghiệp, tỷ trọng ngành dịch vụ liên tục giảm trong một thời gian dài trong khi tỷ
trọng đầu tư cho khu vực nay luôn tăng và chiếm mức cao nhất. Điều đó cho thấy
đầu tư vào ngành này chưa hiệu quả. Có thể kết luận thực trạng phát triển đói với
mỗi ngành là: Trong ngành dịch vụ, các loại dịch vụ cao cấp có giá trị gia tăng lớn
17
chưa phát triển mạnh. Trong nông nghiệp, sản xuất chưa gắn kết có hiệu quả với
thị trường; việc đưa khoa học, công nghệ vào sản xuất còn chậm; công nghiệp
Nẵng (hạt nhân), Quảng Ngãi,Quảng Nam,Bình Định,Phú Yên và Khánh Hòa.
Đây là vùng kinh tế lớn thứ 3 tại Việt Nam. Đặc trưng của vùng này là các khu
kinh tế cảng biển tổng hợp. Các khu kinh tế gồm có: khu kinh tế mở Chu Lai, khu
kinh tế Dung Quất, khu kinh tế Chân Mây, khu kinh tế Nhơn Hội và khu vực Cam
Ranh - Vân Phong. So với hai vùng kinh tế trọng điểm còn lại, vùng kinh tế này
yếu kém hơn về mặt hạ tầng và nhân lực nhưng lại có tiềm năng lớn về cảng biển
trung chuyển lớn và phát triển du lịch nghỉ dưỡng (chiếm phần lớn các dự án khu
nghỉ mát biển của cả nước) và di sản thế giới (khu vực Trung Bộ chiếm 6/7 di sản
18
thế giới tại Việt Nam). Khu vực này cũng có tiềm năng về phát triển công nghiệp
đóng tàu và dịch vụ hàng hải.
3.Vùng kinh tế trọng điểm phía Nam
VKTTĐPN nằm ở vị trí độc đáo.Bao gồm các tỉnh : Thành phố Hồ Chí Minh,
Đồng Nai, Bình Dương, Bà Rịa-Vũng Tàu, Bình Phước, Tây Ninh, Long An và
Tiền Giang (Tiền Giang thuộc miền Tây Nam Bộ).
Vùng kinh tế trọng điểm phía Nam có vai trò rất quan trọng, đóng góp lớn nhất
cho kinh tế Việt Nam, chiếm gần 60% thu ngân sách, trên 70% kim ngạch xuất
khẩu và là khu vực thu hút vốn đầu tư nước ngoài (FDI) hàng đầu cả nước, tỷ lệ
dân số đô thị gần 50% (so với mức bình quân 25% của cả nước). Đây là một vùng
kinh tế năng động, tập trung nhiều nguồn lực phát triển.
II.Thực trạng đầu tư phát triển tác động tới chuyển dịch cơ cấu kinh tế
vùng,lãnh thổ
1. Cơ cấu đầu tư theo vùng kinh tế
Cơ cấu đầu tư theo địa phương và vùng lãnh thổ là cơ cấu đầu tư theo không
gian, phản ánh tình hình sử dụng nguồn lực địa phương và việc phát huy lợi thế
cạnh tranh của từng vùng. Một cơ cấu đầu tư theo địa phương hay vùng lãnh thổ
được xem là hợp lý nếu nó phù hợp với yêu cầu, chiến lược phát triển kinh tế xã
hội, phát huy lợi thế sẵn có của vùng trong khi vẫn đảm bảo hỗ trợ , tạo điều kiện
thuận lợi cho phát triển chung của các vùng khác, đảm bảo sự phát triển thống
nhất và những cân đối lớn trong phạm vi quốc gia và giữa các ngành.