Phân tích định lượng tác động của đầu tư với chuyển dịch cơ cấu kinh tế Việt Nam-slide+word phần 3 - Pdf 11

Lời nói đầu
Trải qua 20 năm đổi mới, nền kinh tế nước ta đã có nhiều khởi sắc. Kinh tế phát
triển nhanh và Việt Nam ngày càng hội nhập sâu hơn với thế giới. Có được những
thành tựu đó là do: Ngay từ ngày đầu của công cuộc Đổi mới Đảng ta đã xác định
chuyển dịch cơ cấu kinh tế là con đường tất yếu để công nghiệp hóa, hiện đại hóa
đất nước, coi chuyển dịch cơ cấu kinh tế là nhiệm vụ quan trọng của thời kỳ Đổi
mới. Mặt khác, để chủ trương đúng đắn đó đi vào thực tiễn phải kể đến vai trò trực
tiếp của đầu tư phát triển.
Những tác động của đầu tư với chuyển dịch cơ cấu kinh tế Việt Nam luôn được
nhắc đến khi đánh giá các thành tựu của thời kỳ Đổi mới. Nhưng những đánh giá đó
chủ yếu là định tính. Những đánh giá này có thể cung cấp cái nhìn tổng thể nhưng
không đi sâu vào các căn cứ thực tế. Để phục vụ cho công tác nghiên cứu khoa học
cũng như việc lập kế hoạch phát triển kinh tế xã hội cần những đánh giá định lượng.
Bởi vậy, đề tài này ra đời với mục đích cao nhất là phân tích định lượng tác động
của đầu tư với chuyển dịch cơ cấu kinh tế Việt Nam.
1
ChươngI
Những vấn đề lí luận chung
A. Các khái niệm chung về cơ cấu và chuyển dịch cấu kinh tế
1 .Cơ cấu kinh tế:
1.1. Khái niệm và bản chất:
-Cơ cấu kinh tế là tổng thể các yếu tố cấu thành nền kinh tế, có quan hệ chặt chẽ với
nhau, được biểu hiện cả về mặt chất và mặt lượng, tuỳ thuộc vào mục tiêu của nền
kinh tế.
-Về mặt bản chất: CCKT là kết quả của phân công lao động xã hội
-Về mặt biểu hiện: CCKT có 2 đặc tính:
*Biểu hiện hình thức thông qua quan hệ tỉ lệ: tỉ trọng giữa các bộ phận hợp thành cơ
cấu ngành.
*Biểu hiện nội dung thông qua quan hệ giữa các thành phần: các thành phần tương
tác với nhau như thế nào, quan hệ chặt hay lỏng.
1.2. Phân loại CCKT:

thực hiện một cách chủ động, có ý thức hoặc xảy ra trong điều kiện khách quan, có
thể không theo hoặc ngược lại dự kiến ban đầu.
 CCKT không thể tự thay đổi nếu không có sự tác động từ bên ngoài
 Nếu CCKT chuyển dịch đúng, hợp lí thì đó là yếu tố thúc đẩy sự phát triển
kinh tế xã hội; ngược lại nó trở thành yếu tố kìm hãm. Vì vậy CDCCKT là
một vấn đề mang tầm quốc gia, đòi hỏi một chương trình hành động thống
nhất trên phạm vi cả nước
2.2. Các nguyên tắc CDCCKT
-CDCCKT phải phù hợp với sự phát triển của lực lượng sản xuất và quan hệ sản
xuất. Tức là phải phù hợp với các quy luật khách quan chứ không phải những mệnh
lệnh hành chính chủ quan, duy ý chí. Bởi vậy, CDCC phải đảm bảo hiệu quả trước
mắt và hiệu quả lâu dài, hài hoà giữa hiệu quả cục bộ và hiệu quả toàn bộ cũng như
phải đem lại hiệu quả cho mọi người, cho toàn xã hội.
-CDCCKT phải dựa trên một chương trình hành động thống nhất mang tính quốc
gia. Đối với cơ cấu theo lãnh thổ, CCKT vừa phải phù hợp với lợi thế so sánh của
vùng vừa phải hài hoà với tổng thể xã hội. Đối với cơ cấu ngành, phải xuất phát từ
sự thay đổi các ngành chủ lực làm đầu tàu kéo nền kinh tế từ những thay đổi về
lượng đến những chuyển dịch về chất. Cơ cấu theo thành phần tuy không đóng vai
trò chủ đạo nhưng phải tạo ra môi trường kinh tế cởi mở, linh hoạt cho sự chuyển
dịch.
-CDCCKT có thể diễn ra một cách tuần tự, cũng có thể diễn ra một cách nhảy vọt
tuỳ theo điều kiện cụ thể.
2.3. Xu hướng CDCCKT
CDCCKT có thể diễn ra theo nhiều hướng khác nhau và còn phù thuộc vào mục
tiêu kinh tế xã hội của từng quốc gia. Tuy nhiên, đối với Việt Nam, để có một nền
kinh tế hợp lí và đồng bộ thì CDCCKT tốt nhất nên đi theo một xu hướng chung.
Đặc biệt, đối với CC ngành kinh tế: Tỉ trọng ngành phi nông nghiệp tăng lên, tỉ
trọng ngành nông nghiệp giảm xuống. Mục tiêu để đạt đến một nền kinh tế phát
triển thì: tỉ lệ lao động phi nông nghiệp chiếm 85%tổng lao động xã hội. Khoa học
công nghệ đóng góp khoảng 80% năng suất lao động xã hội. Ngành công nghiệp

Dịch vụ-công nghiệp-nông nghiệp. Tỷ lệ tiết kiệm chiếm hơn 20% thu
nhập quốc dân thuần túy. Đầu tư chiếm tỷ lệ cao.
 Giai đoạn 5:Tiêu dùng cao
 Có thể thấy trong mỗi giai đoạn đầu tư luôn là yếu tố tiên quyết đối với sự
hình thành 1 cơ cấu kinh tế mới,tiến bộ và hợp lý hơn.
1.2. Mô hình 2 khu vực của Harry Oshima
Dựa trên nghiên cứu của 2 mô hình 2 khu vực của Athus Lewis và của trường phái
Tân cổ điển và đặc điểm riêng của các nước châu Á gió mùa (nền nông nghiệp
mang tính chất thời vụ cao nên lao động thất nghiệp cũng có tính chất thời vụ);
Harry Oshima đã quan tâm đến việc đầu tư phát triển nền kinh tế theo 3 giai đoạn:
 Giai đoạn bắt đầu của quá trình tăng trưởng: tạo việc làm trong thời gian nhàn
rỗi theo hướng tăng cường đầu tư phát triển nông nghiệp. Cụ thể là đa dạng
hoá sản xuất nông nghiệp, xen canh, tăng vụ, mở rộng chăn nuôi. Đồng thời để
4
nâng cao năng suất lao động cần đầu tư xây dựng hệ thống kênh mương, đập
tưới tiêu nước, hệ thống vận tải nông thôn để trao đổi hàng hoá, hệ thống giáo
dục và điện khí hoá nông thôn.
 Giai đoạn 2: Hướng tới có việc làm đầy đủ bằng cách đầu tư phát triển đồng
thời cả công nghiệp, nông nghiệp và dịch vụ theo chiều rộng. Bên cạnh việc
tiếp tục phát triển nông nghiệp theo quy mô lớn, cần phát triển những ngành
công nghiệp, dịch vụ cần nhiều lao động và các ngành thu hút nhiều lao động.
Nhờ đó vừa giải quyết lao động dư thừa vừa mở rộng thị trường cho ngành
công nghiệp.
 Giai đoạn 3: Sau khi có việc làm đầy đủ: thực hiện phát triển các ngành kinh tế
theo chiều sâu nhằm giảm cầu lao động. Đẩy mạnh đầu tư đưa khoa học công
nghệ vào nhằm thay thế lực lượng lao động đang dần trở nên thiếu hụt. Các
ngành sử dụng ít lao động đang dần thay thế các ngành sử dụng nhiều lao động
trong cơ cấu kinh tế
 Mô hình của Oshima là mô hình tiến bộ nhất và cũng gần gũi nhất với
điều kiện Việt Nam (một nước châu Á gió mùa). Bởi vậy những kết luận

động theo cách tính qui ước. Như vậy, trong giai đoạn này, nhân tố đóng góp
lớn nhất cho tăng trưởng là nhân tố tổng năng suất nhân tố (Total Factor
Productivity - TFP).
Có thế nói rằng, lý thuyết chuyển dịch cơ cấu của M. Syrquin là một bức tranh tổng
thể khá chính xác về sự phát triển và chuyển dịch cơ cấu kinh tế trên thế giới thời
kỳ hiện đại. Đặc biệt, lý thuyết này đi sâu hơn các lý thuyết trước trong việc phân
tích tác động của từng nguồn lực trong đầu tư phát triển đến chuyển dịch cơ cấu
kinh tế trong từng giai đoạn.
1.6. Lý thuyết phát triển cân đối và Lý thuyết phát triển không cân đối hay
“các cực tăng trưởng”
• Những nhà kinh tế học ủng hộ lý thuyết phát triển cân đối (như R Nurkse,
Rosenstein - Rodan) cho rằng ngay từ đầu phải đầu tư phát triển đồng đều ở
tất cả mọi ngành kinh tế quốc dân để nhanh chóng công nghiệp hóa và
chuyển dịch cơ cấu kinh tế. Luận cứ mà họ đưa ra là:
- Trong quá trình phát triển, tất cả các ngành có liên quan mật thiết với nhau, "đầu
ra" của ngành này là "đầu vào" của ngành kia và như vậy, sự phát triển đồng đều và
cân đối chính là đòi hỏi sự cân bằng cung cầu trong sản xuất.
- Sự phát triển cân đối giữa các ngành như thế giúp tránh được các ảnh hưởng tiêu
cực của thị trường thế giới và hạn chế được mức độ phụ thuộc vào các nền kinh tế
khác, qua đó tiết kiệm được nguồn ngoại tệ.
- Một nền kinh tế dự trên cơ cấu cân đối giữa tất cả các ngành là nền tảng vững chắc
đảm bảo sự độc lập chính trị của các nước đang phát triển.
Những nghiên cứu mà mô hình đưa ra chỉ phù hợp để định hướng cho một nền kinh
tế đóng. Nó không phù hợp với điều kiện toàn cầu hóa hiện nay. Đặc biệt với các
nước đang phát triển nếu đi theo con đường này sẽ bị hạn chế trong việc tiếp cận
với các nguồn lực do không tận dụng được các lợi ích mà môi trường bên ngoài
đem lại. Mặt khác, việc đầu tư cho tất cả các ngành phải đối mặt với vấn đề nguồn
lực khan hiếm. Đặc biệt, với các nước đang phát triển, việc đầu tư vào tất cả các
ngành với nguồn lực nhỏ bé trong nước sẽ dẫn tới đầu tư dàn trải, kém hiệu quả.
• Bởi vậy hiện nay hầu hết các nước đều đi theo con đường phát triển không

Việc đầu tư vào ngành nào, quy mô vốn là bao nhiêu, đồng vốn được sử dụng
như thế nào đều tác động mạnh mẽ và trực tiếp đến sự phát triển của ngành nói riêng
và của cả nền kinh tế nói chung. Cụ thể, đầu tư sẽ góp phần tăng cường vật chất kĩ
thuật, nâng cao hàm lượng công nghệ qua đó nâng cao năng suất lao động của ngành.
Nhờ đó sẽ tạo ra sản lượng cao hơn với giá thành thấp hơn. Mặt khác, đầu tư là tiền
đề tập trung các nguồn lực khác của nền kinh tế (lao động,tài nguyên,vốn dư thừa…)
cho mục tiêu phát triển ngành. Chính đầu tư chứ không phải các quyết định hành
chính là nhân tố trực tiếp nhất có thể huy động tất cả các yếu tố đầu vào cần thiết cho
sự phát triển của ngành. Không những thế việc đầu tư còn tạo ra điều kiện vật chất
cho sự ra đời của những ngành mới. Sự thay đổi tỉ trọng giữa các ngành và sự ra đời
của những ngành mới chính là chuyển dịch cơ cấu kinh tế ngành.
2.2.Đối với cơ cấu lãnh thổ kinh tế:
7
Có thể dễ dàng nhận thấy bất cứ vùng nào nhận được một sự đầu tư thích hợp đều có
điều kiện để phát huy mạnh mẽ những thế mạnh của mình. Những vùng tập trung
nhiều khu công nghiệp lớn đều là những vùng rất phát triển của một quốc gia. Những
vùng có điều kiện được đầu tư sẽ là đầu tàu kéo các vùng khác cùng phát triển. Những
vùng kém phát triển có thể nhờ vào đầu tư để thoát khỏi đói nghèo và giảm dần
khoảng cách với các vùng khác. Nếu xét cơ cấu lãnh thổ theo góc độ thành thị và
nông thôn thì đầu tư là yếu tố bảo đảm cho chất lượng của đô thị hoá. Việc mở rộng
các khu đô thị dựa trên các quyết định của chính phủ sẽ chỉ là hình thức nếu không đi
kèm với các khoản đầu tư hợp lý. Đô thị hoá không thể gọi là thành công thậm chí
còn cản trở sự phát triển nếu cơ sớ hạ tầng không đáp ứng được các nhu cầu của
người dân. Các dịch vụ y tế, giáo dục… cũng cần được đầu tư cho phù hợp với sự
phát triển của một đô thị.
2.3.Đối với cơ cấu thành phần kinh tế:
Đối với mỗi quốc gia, việc tổ chức các thành phần kinh tế chủ yếu phụ thuộc vào
chiến lược phát triển của chính phủ. Các chính sách kinh tế sẽ quyết định thành phần
nào là chủ đạo; thành phần nào được ưu tiên phát triển; vai trò; nhiệm vụ của các
thành phần trong nền kinh tế…Ở đây đầu tư đóng vai trò nhân tố thực hiện.

4. Những chỉ số đánh giá mức độ chuyển dịch cơ cấu kinh tế và tác động của
đầu tư tới chuyển dịch cơ cấu kinh tế
4.1.Các chỉ số đánh giá chuyển dịch cơ cấu kinh tế
4.1.1. Tỉ trọng các ngành -
β
(t)
• Công thức tính tỉ trọng ngành.
Tỉ trọng của ngành nông nghiệp là :
β
NN
(t) =
)(
)(
tGDP
tGDP
NN
Tỉ trọng của ngành công nghiệp và xây dựng là :
β
CN
(t) =
)(
)(
tGDP
tGDP
CN
Tỉ trọng của ngành dịch vụ là :
β
DV
(t) =
)(

 Công thức tính
d
NN
=
)()1( tt
NNNN
ββ

 Ý nghĩa: Độ lệch tỷ trọng ngành phản ánh sự thay đổi tỷ trọng ngành đó giữa
năm đầu và năm cuối của giai đoạn nghiên cứu. Nhờ đó ta có thể đánh giá
được hướng chuyển dịch của ngành đó cũng như hướng chuyển dịch cơ cấu
kinh tế giữa các ngành.
4.1.3. Hệ số chuyển dịch k của 2 ngành nông nghiệp và phi nông nghiệp
• Công thức tính
Cos θ
o
=
)1()1(())()((
)1()()1()(
2222
tttt
tttt
PNNNNPNNNN
PNNPNNNNNN
ββββ
ββββ
+×+
×+×
Góc θ
o

10
H1 =
)(
)()1(
)(
)()1(
t
tt
t
tt
I
II
β
ββ
β
ββ


với
)1(t
I
β
là tỷ trọng đầu tư ngành thời kỳ nghiên cứu
)(t
I
β
là tỷ trọng đầu tư ngành thời kỳ trước

)1(t
β

ββ
Với
g(t1) là tốc độ tăng trưởng kỳ nghiên cứu
g(1) là tốc độ tăng trưởng kỳ trước
• Ý nghĩa : chỉ tiêu này cho biết để góp phần đưa vào tăng trưởng kinh tế
(GDP) lên 1% thì tỉ trọng đầu tư vào 1 ngành nào đó tăng bao nhiêu.
Cũng giống như hệ số trên, hệ số này là thước đo độ nhạy cảm của tăng
trưởng kinh tế nói chung với thay đổi tỷ trọng đầu tư của mỗi ngành.
Chương II
11
Thực trạng của đầu tư tác động đến chuyển dịch cơ cấu kinh tế
Việt Nam giai đoạn sau đổi mới kinh tế 1986
Phần A. Tác động của đầu tư đến chuyển dịch cơ cấu ngành kinh tế.
I.Khái quát tình hình thu hút vốn đầu tư ở Việt Nam sau Đổi mới
Đổi mới kinh tế đánh dấu một bước ngoặt lớn trong hoạt động đầu tư phát triển ở
Việt Nam. Với sự ra đời của Luật đầu tư nước ngoài (1987) và Luật Doanh nghiệp
(2000) tình hình thu hút vốn đầu tư đã có nhiều chuyển biến tích cực. Tổng vốn đầu
tư tăng nhanh. Chỉ xét giai đoạn từ 1995-2007, tổng vốn đầu tư đã tăng hơn 7 lần.
Từ năm 1990 đến nay tổng vốn đầu tư phát triển của Việt Nam tăng khá nhanh và tỷ
lệ đầu tư so với GDP đã tăng lên đến 41% năm 2006, 41,7% năm 2007.
Vốn đầu tư ở Việt Nam
0
100000
200000
300000
400000
500000
600000
1995 1996 1997 1998 1999 2000 2001 2002 2003 2004 2005 2006 Sơ bộ
2007

Tỷ trọng ngành kinh tế của VN thời kỳ 1986-2007 được thể hiện qua bảng
sau :
Bảng 1
Năm 1986 1990 1999 2000 2005 2006 2007
Đóng góp GDP của các ngành (tỷ đồng)
NN 228 16252 101723 108356 175984 198797 232188
CN 173 9513 137959 162220 344229 404696 475680
DV 198 16190 160260 171070 319004 370771 436146
Tỷ trọng của các ngành trong nền kinh tế (%)
NN 38.06 38.74 25.43 24.53 20.05 18.74 17.86
CN 28.88 22.67 34.49 36.73 41.00 40.97 41.77
DV 33.06 38.59 40.08 38.73 38.50 40.29 40.37
(nguồn:TỔNG CỤC THỐNG KÊ)
Có thể thấy vai trò của các ngành kinh tế không ngừng thay đổi theo thời
gian. Trong đó, ngành nông nghiệp từ chỗ là ngành quan trọng nhất (chiếm tỷ trọng
cao nhất trong giai đoạn 1986-1990) đã dần nhường chỗ cho các ngành công nghiệp
và dịch vụ. Tỷ trọng của ngành dịch vụ nhìn chung không ngừng gia tăng trong các
thời kỳ. Hiện nay, công nghiệp đang là ngành chiếm tỷ trọng cao nhất trong GDP.
Đồng nghĩa với việc là ngành kinh tế quan trọng nhất. Tỷ trọng ngành dịch vụ cũng
tăng liên tục qua các năm. Có những thời kỳ dịch vụ đã là ngành kinh tế lớn nhất
(1999-2005). Hiện nay, đó là ngành kinh tế lớn thứ hai sau công nghiệp.
13
Nếu so sánh với các chỉ tiêu kinh tế xã hội 5 năm, còn có thể thấy:
Chỉ tiêu kinh tế xã hội 5 năm 1996-2000: Cơ cấu ngành kinh tế năm cuối
(2000) Nông-lâm-ngư nghiệp:19-20%; Công nghiệp-xây dựng: 34-35%; Dịch vụ:
45-46%. Nếu nhìn vào giá trị đạt được của Việt Nam trong năm 2000 với các số
liệu tương ứng là 24.53%-36.73%-38.73% thì chuyển dịch cơ cấu ngành nông
nghiệp, dịch vụ đã không đạt được chỉ tiêu đề ra. Tuy nhiên, nguyên nhân ở đây là
do chính các chỉ tiêu thời kỳ này là không hợp lý khi kỳ vọng quá cao vào sự phát
triển của ngành dịch vụ trong điều kiện bấy giờ của đất nước.


• Đánh giá số liệu.
Nếu xét theo tương quan giữa 2 khu vực nông nghiệp và phi nông nghiệp có thể
thấy chuyển dịch cơ cấu kinh tế đã đi đúng hướng. Từ năm 1990, độ lệch tỷ trọng
nông nghiệp luôn mang giá trị âm cho thấy hướng chuyển dịch từ khu vực nông
nghiệp sang khu vực phi nông nghiệp.
14
Nhưng nếu xét cho từng nhóm ngành thì sự chuyển dịch chưa mạnh mẽ và chưa thể
hiện một xu thế liên tục trong mọi giai đoạn. Cụ thể, giai đoạn 1986-1989, nền kinh
tế chưa chuyển dịch đúng hướng. Điều này có thể lý giải do những bỡ ngỡ ban đầu
của chúng ta trong quá trình công nghiệp hóa-hiện đại hóa đất nước. Trong các giai
đoạn tiếp theo, tỷ trọng nông nghiệp đã đi theo xu hướng chung là luôn giảm. Độ
lệch tỷ trọng ngành nông nghiệp có giá trị tuyệt đối cao nhất vào giai đoạn
1990-1994 (11.33%). Từ 1995, giá trị này thấp hơn hẳn giai đoạn trước nhưng luôn
tăng đều qua các năm. Tỷ trọng công nghiệp tăng nhưng mức tăng có xu hướng
chậm lại. Điều đó là phù hợp nếu công nghiệp nhường bước cho dịch vụ phát triển.
Tuy nhiên, sự phát triển của khu vực dịch vụ lại không đi theo một xu hướng như
mong muốn. Giai đoạn 1995-2000, độ lệch tỷ trọng nhóm ngành dịch vụ mang dấu
âm trong khi chủ trương chung của chúng ta trong thời kỳ này là không ngừng gia
tăng tỷ trọng ngành dịch vụ. Điều đó có nghĩa là những chủ trương của Đảng chưa
được thực sự đi vào thực tiễn. Tuy nhên, hiện nay, xu hướng chung đã được lập lại.
Độ lệch tỷ trọng dịch vụ lại mang giá trị dương trong giai đoạn 2005-2007. Có thể
lạc quan rằng kế hoạch 5 năm 2006-2010 đang được triển khai đúng hướng trong
thực tế.
3. Tốc độ chuyển dịch cơ cấu kinh tế
Tốc độ chuyển dịch cơ cấu giữa 2 khu vực nông nghiệp và phi nông nghiệp được
đánh giá thông qua hệ số chuyển dịch k.
• Số liệu thực tế của Việt Nam
Tỷ trọng các khu vực trong nền kinh tế Việt Nam
Bảng 2

luật, do đó đã kéo theo tình trạng đầu tư lãng phí, không đem lại hiệu quả kinh tế,
thì bước vào công cuộc đổi mới quá trình chuyển dịch cơ cấu ngành kinh tế của
nước ta đã đem lại những kết quả rất tích cực.Từ các chỉ số đã phân tích ở trên có
thể thấy nền kinh tế đã chuyển dịch đúng hướng, tuy nhiên tốc độ chuyển dịch cơ
cấu còn chậm và hàm chứa những yếu tố bất hợp lý và không bền vững.
III. Đánh giá tác động của đầu tư tới chuyển dịch cơ cấu kinh tế
1. Đánh giá thông qua hệ số co giãn
1.1. Đánh giá tác động của đầu tư đến thay đổi tỷ trọng ngành
Bảng:Hệ số co giãn giữa việc thay đổi cơ cấu đầu tư với thay đổi cơ cấu kinh tế
của ngành (H1)
2000 2002 2003 2004 2005 2006
Sơ bộ
2007
Tổng vốn ĐT ngành NN 15938 12945 14130 14706 15962 18412 20472
Tỷ trọng ĐT ngành NN
(%) 13.846 8.747 8.471 7.768 7.461 7.567 6.688
tỷ trọng GDP ngành NN 24.53 23.03 22.54 21.76 20.05 18.74 17.86
16
(%)
H1(NN) _ 6.022 1.483 2.398 0.503 -0.217 2.474
Tổng vốn ĐT ngành CN 45155 62805 69325 80388 90516 104575 135641
Tỷ trọng ĐT ngành CN(%) 39.228 42.438 41.558 42.462 42.311 42.981 44.313
Tỷ trọng GDP ngành
CN(%) 36.73 38.49 39.47 40.09 41 40.97 41.77
H1(CN) _ 1.708 -0.814 1.385 -0.157 -21.641 1.587
Tổng vốn ĐT ngành DV 54018 72242 83359 94225 107452 120319 149987
Tỷ trọng ĐT ngành DV(%) 46.926 48.815 49.971 49.77 50.228 49.452 48.999
Tỷ trọng GDP ngành
DV(%) 38.74 38.48 37.99 38.15 38.95 40.29 40.37
H1(DV) _ -5.998 -1.86 -0.955 0.43884 -0.449 -4.613

H2(NN) _ -8.62249 -0.85923 -1.35364 -0.47365 -0.57099 -3.82406
H2(CN) _ 1.915934 -0.56466 0.354811 -0.04262 -0.63642 1.020205
H2(DV) _ 0.942519 0.644859 -0.06561 0.110286 0.620925 -0.30156
Theo bảng số liệu trên có thể thấy việc phân bổ đầu tư vào hai khu vực nông
nghiệp và phi nông nghiệp tuân thủ theo đúng đòi hỏi của chuyển dịch cơ cấu
kinh tế. Cụ thể, H2(NN)<0. Điều đó có nghĩa là để đẩy nhanh tốc độ của tăng
trưởng kinh tế, tỷ trọng đầu tư vào khu vực nông nghiệp giảm qua các năm.
Trong đó năm 2002, để góp phần đưa tốc độ tăng trưởng kinh tế lên 1%, tỷ
trọng đầu tư của khu vực nông nghiệp đã giảm 8.6%. Đây là mức giảm mạnh
nhất trong cả thời kỳ.
Xét theo cơ cấu 3 ngành kinh tế, tương tự phần trên, tính hệ số của công nghiệp
và nông nghiệp theo giai đoạn. Đối với ngành công nghiệp,
H2(2000-2004)=0.56. H2(2005-2007) = 9.984. H2>0 cho thấy sự gia tăng tỷ
trọng của đầu tư đã đóng góp vào tăng trưởng kinh tế. Đối với ngành dịch vụ,
H2(2000-2004) = 0.412. H2(2005-2007) = - 5.162 <0. Giữa đầu tư vào ngành
dịch vụ và tăng trưởng kinh tế chưa có mối quan hệ thuận chiều mạnh mẽ. Nói
cách khác đầu tư vào khu vực dịch vụ chưa thu được những hiệu quả tương
xứng với phần bỏ ra.
III.2. Đánh giá chung
Trong chủ trương phát triển đất nước ngay từ Đại hội VI, Đảng ta đã luôn coi
chuyển dịch cơ cấu ngành kinh tế là giải pháp để tăng trưởng và phát triển đất
nước. Phục vụ thiết thực cho chủ trương đó, trong thời gian qua cơ cấu vốn đầu
tư đã thay đổi theo hướng đầu tư có tọng tâm, trọng điểm. Trong đó tỷ trọng đầu
tư cho ngành dịch vụ là cao nhất và tỷ trọng đầu tư cho ngành nông nghiệp là
thấp nhất. Điều đó đã mang lại một diện mạo mới cho nền kinh tế. Cơ cấu kinh
tế nhìn chung có những chuyển biến tích cực. Tỷ trọng khu vực nông nghiệp liên
tục giảm qua các năm. Tương đương với đó là sự tăng lên không ngừng của khu
vực phi nông nghiệp. Chuyển dịch cơ cấu ngành kinh tế đã tạo ra các hiệu ứng
tích cực cho nền kinh tế. Tốc độ tăng trưởng kinh tế duy trì cao qua các năm.
Nếu như tốc độ tăng trưởng kinh tế ở nước ta trước đổi mới, thời kỳ 1977-1980

Vùng kinh tế trọng điểm Bắc Bộ
Vùng kinh tế trọng điểm Trung Bộ
Vùng kinh tế trọng điểm Nam Bộ
Phân tích cơ cấu lãnh thổ nền kinh tế người ta thường xem xét cơ cấu lãnh thổ cả
nước,cơ cấu lãnh thổ vùng lớn, cơ cấu lãnh thổ của tiểu vùng trong vùng lớn,cơ cấu
lãnh thổ của tỉnh và của huyện.Trong giới hạn nghiên cứu,xin phép được trọng tâm
vào 6 vùng kinh tế lớn mà trong đó hạt nhân là các vùng kinh tế trọng điểm của đất
nước.
1.Vùng kinh tế trọng điểm phía Bắc
Vùng kinh tế trọng điểm Bắc Bộ bao gồm các tỉnh,thành phố: Hà Nội – Hưng
Yên - Hải Dương – Hải Phòng - Quảng Ninh – Vĩnh Phúc –Hà Tây - Bắc Ninh
Đây là trung tâm kinh tế năng động và là một đầu tàu kinh tế quan trọng của miền
Bắc và của cả nước Việt Nam. Ưu thế lớn nhất của vùng kinh tế này là nhân lực có
đào tạo tốt, có điểm thi vào các trường đại học cao đẳng cao nhất nước và tỷ lệ sinh
viên trên đầu người cao nhất nước.
2.Vùng kinh tế trọng điểm miền Trung
Vùng kinh tế trọng điểm miền Trung (VKTTĐMT) bao gồm các tỉnh: Huế, Đà
Nẵng (hạt nhân), Quảng Ngãi,Quảng Nam,Bình Định,Phú Yên và Khánh Hòa.
19
Đây là vùng kinh tế lớn thứ 3 tại Việt Nam. Đặc trưng của vùng này là các khu kinh
tế cảng biển tổng hợp. Các khu kinh tế gồm có: khu kinh tế mở Chu Lai, khu kinh tế
Dung Quất, khu kinh tế Chân Mây, khu kinh tế Nhơn Hội và khu vực Cam Ranh -
Vân Phong. So với hai vùng kinh tế trọng điểm còn lại, vùng kinh tế này yếu kém
hơn về mặt hạ tầng và nhân lực nhưng lại có tiềm năng lớn về cảng biển trung
chuyển lớn và phát triển du lịch nghỉ dưỡng (chiếm phần lớn các dự án khu nghỉ
mát biển của cả nước) và di sản thế giới (khu vực Trung Bộ chiếm 6/7 di sản thế
giới tại Việt Nam). Khu vực này cũng có tiềm năng về phát triển công nghiệp đóng
tàu và dịch vụ hàng hải.
3. Vùng kinh tế trọng điểm phía Nam
VKTTĐPN nằm ở vị trí độc đáo.Bao gồm các tỉnh : Thành phố Hồ Chí Minh,

Đồng bằng sông Cửu Long 12,9 13,2 13,05
Phân theo lãnh thổ phát triển và kém phát triển:
Bảng 7: Cơ cấu đầu tư theo lãnh thổ phát triển và kém phát triển
Đơn vị %
Loại vùng 1996-2000 2001-2004 1996-2004
Vùng phát triển 62,7 61,6 62,1
Các vùng còn lại 37,3 38,4 37,9
Chung cả nước 100 100 100
Theo bảng 6,trong giai đoạn 1996-2000 đầu tư tập trung cho những vùng phát triển
như Đồng bằng Bắc Bộ, Bắc Trung Bộ, duyên hải miền Trung, và Đông Nam
Bộ.Các vùng miền núi chỉ được đầu tư với nguồn vốn hạn hẹp.Đặc biệt Tây
Nguyên chỉ chiếm 4% trên tổng lượng vốn đầu tư.Năm 2001-2004 vốn đầu tư có xu
hướng giảm ở những vùng phát triển và tăng lên cho những vùng kém phát triển
song lượng tăng giảm là không đáng kể.Tuy vậy một vài năm trở lại đây các vùng
miền núi đã được trú trọng phát triển hơn.
Bảng 7 cho ta thấy,đầu tư tập trung chủ yếu vào vùng lãnh thổ có tính chất động lực
đó là 3 vùng kinh tế trọng điểm với lượng vốn lên tới hơn 60%.Trong khi đó các
vùng kém phát triển trải rộng trên phạm vi khoảng hơn 2700 xã,chủ yếu thuộc các
vùng miền núi,dân số khoảng 15 triệu người với tỷ lệ vốn đầu tư lại chỉ chiếm hơn
1/3 lượng vốn đầu tư cả nước.
Đối với các vùng lãnh thổ, chúng ta đã thực hiện chính sách hỗ trợ đầu tư bằng
nguồn vốn ngân sách đối với các vùng khó khăn, vùng sâu, vùng xa, vùng cơ sở hạ
tầng giao thông thuỷ lợi, điện nước, còn yếu kém...nhằm tạo điều kiện tốt hơn cho
việc thu hút các nguồn vốn khác đến đầu tư.
Phần lớn dự án FDI tập trung ở các vùng phát triển kinh tế trọng điểm (84% tổng
vốn đầu tư), tuy nhiên, xu hướng thu hút FDI đang từng bước lan ra các vùng khác
21
ngoài vùng phát triển. Nếu trong những năm đầu khi có Luật Đầu tư nước ngoài, ở
các tỉnh phía Bắc chỉ chiếm 25% số dự án với 20% vốn đầu tư, thì đến hết năm
1998 các tỉnh phía Bắc đã thu hút được trên 30% số dự án trên 35% vốn đầu tư. Đến

Bảng 8: Mức độ đóng góp vào GDP của từng vùng
Đơn vị: %
22
Cơ cấu vùng
lãnh thổ GDP
(%) 1990 1995 1999
Chuyển dịch cơ
cấu vùng 10
năm 1991-2000
Chuyển dịch cơ
cấu vùng 5 năm
1991-1995
Chuyển dịch
cơ cấu vùng 5
năm
1996-2000
Tây Bắc Bộ 2,0% 1,5% 1,2% -0,8 -0,5 -0,3
Đông Bắc Bộ 10,2% 7,4% 6,3% -3,9 -2,8 -1,1
ĐB Sông
Hồng 18,6% 20,5% 20,3% +1,7 +1,9 -0,2
Bắc Trung Bộ 9,1% 9,1% 7,8% -1,3 0,0 -1,3
DH miền
trung 8,4% 8,0% 8,2% -0,2 -0,4 +0,2
Tây nguyên 3,2% 2,8% 3,6% +0,4 -0,4 +0,8
Đông nam bộ 24,6% 31,5% 32,3% +7,7 +6,9 +0,8
ĐBS Cửu
Long 23,8% 19,2% 20,2% -3,6 -4,6 +1,0
Vùng còn khó khăn cũng có những tiến bộ đáng khích lệ, mức sống của bộ phận
đáng kể nhân dân được nâng lên. Các chương trình hỗ trợ đầu tư của Chính phủ đã
có tác động tích cực, theo con số tổng hợp sơ bộ, từ năm 1992 đến 1998 tổng vốn

xuất hàng hóa:
Trong những năm qua Nhà nước ta đã có chính sách phân bổ cơ cấu đầu tư tương
đối hợp lý. Hàng loạt các công trình trọng điểm quốc gia được xây dựng lên với
nguồn vốn đầu tư rất lớn. Các công trình này đều được xây dựng phù hợp với điều
kiện tự nhiên xã hội của vùng và còn phát huy đươc lợi thế so sánh. Các công trình
như Thủy điện Sơn La, Khu kinh tế mở Chu Lai, khu kinh tế Dung Quất tập trung
phát triển công nghiệp lọc dầu,hóa dầu,hóa chất…phát huy được lợi thế của vùng và
đóng góp lớn cho kinh tế đất nước. Ngoài ra các vùng có tiềm lực khác nhau lại
được đầu tư để phát triển những ngành nghề sản phẩm khác nhau. Như trung du và
miền núi phía Bắc dễ dàng chuyên môn hóa về cây trồng và chế biến cây công
nghiệp,Tây Nguyên ,Đông Nam Bộ phát triển các vùng Công nghiệp sản xuất hàng
hóa bởi thế mạnh là vùng thích hợp với nhiều loại cây công nghiệp.Đồng bằng sông
Hồng và sông Cửu Long thì chuyên môn hóa về lương thực, thực phẩm,là 2 vựa lúa
lớn nhất cả nước nên chú trọng đầu tư vào đã đem lại giá trị xuất khẩu cao.
Trong nông nghiệp đã đã hình thành nhiều vùng sản xuất nông, lâm, thuỷ sản hàng
hoá quy mô lớn cả ở khu vực đồng bằng và trung du, miền núi như các vùng sản
xuất lương thực tập trung ở đồng bằng sông Cửu Long và đồng bằng sông Hồng,
các vùng nuôi trồng thuỷ sản ở ven biển, các trung tâm dịch vụ nghề cá ở vùng đồng
bằng ven biển; các vùng cây công nghiệp hàng hoá xuất khẩu cà phê, cao su, điều,
dâu tằm ở Tây Nguyên, Đông Nam Bộ và chè, quế, hồi... ở Trung Du miền núi Bắc
Bộ. Vùng cây ăn quả trước đây mới hình thành ở đồng bằng Bắc Bộ và đồng bằng
sông Cửu Long nay đã phát triển cả ở Trung Du miền núi; đóng góp tích cực trong
việc phát triển và ổn định đời sống các tầng lớp dân cư..
24
Gắn với công nghiệp chế biến và tiêu thụ sản phẩm trên thị trường trong nước và
ngoài nước. Các làng nghề ở nông thôn được khôi phục và phát triển mạnh.
Trong công nghiệp, các khu công nghiệp, khu chế xuất đang được triển khai xây
dựng và đi vào vận hành theo quy hoạch. Điều này có tác động tích cực đến sự
nghiệp phát triển công nghiệp nói chung và của vùng nói riêng. Hiện tại số khu
công nghiệp, khu chế xuất được cấp giấy phép và đang triển khai ngày càng cao.

25

Trích đoạn Phối hợp giữa chính phủ và địa phương trong công tác lập kế hoạch phát triển kinh tế vùng Phân định rõ lĩnh vực đầu tư của khu vực nhà nước và khu vực ngoài nhà nước
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status