Thực trạng, Phương hướng phát triển Kinh tế Việt Nam - Pdf 11

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM TP. HCM

BÁO CÁO MÔN HỌC
KINH TẾ PHÁT TRIỂN
Đề tài: “THỰC TRẠNG, CON ĐƯỜNG TĂNG TRƯỞNG VÀ PHÁT TRIỂN
CỦA VIỆT NAM”
GVHD: Ths. Trần Minh Trí
Thực hiện: Nhóm 1
Lớp: DH11KT
Tp. Hồ Chí Minh, tháng 5 năm 2013
i
DANH SÁCH NHÓM 1
11120003 Huỳnh Thị Mỹ Duyên DH11KT
11120008 Đinh Việt Phương Linh DH11KT
11120015 Lê Công Thạch DH11KT
11120045 Huỳnh Thị Thoại DH11KT
11120086 Phan Thị Thanh Thảo DH11KT
11121025 Hoàng Xuân Phúc DH11KT
ii
MỤC LỤC
Trang
DANH SÁCH NHÓM i
MỤC LỤC ii
CHƯƠNG 1: MỞ ĐẦU 1
1.1 Đặt vấn đề 1
1.2 Mục tiêu nghiên cứu 1
1.3 Đối tượng nghiên cứu 1
1.4 Phạm vi nghiên cứu 1
1.5 Phương pháp nghiên cứu 1
CHƯƠNG 2: GIỚI THIỆU SƠ LƯỢC LỊCH SỬ VÀ ĐIỀU KIỆN TỰ NHIÊN

CHƯƠNG 9: CÔNG NGHIỆP 35
CHƯƠNG 10; THƯƠNG MẠI 37
10.1 Cán cân thương mại 37
10.2 Xuất khẩu sản phẩm thô 38
10.3 Đóng góp của xuất khẩu vào GDP ngày càng nhiều 41
CHƯƠNG 11: KẾT LUẬN 42
TÀI LIỆU THAM KHẢO 43
Đề tài: Thực trạng, con đường tăng trưởng và phát triển ở Việt Nam
CHƯƠNG I: MỞ ĐẦU
1.1 Đặt vấn đề
Kinh tế xã hội nước ta những năm gần đây diễn ra trong bối cảnh tình hình thế giới
và trong nước có nhiều biến động phức tạp, khó lường. giá nhiều loại nguyên liệu,
hàng hoá khác trên thị trường thế giới tăng mạnh kéo theo sự tăng giá ở mức cao của
hầu hết các mặt hàng trong nước, lạm phát xảy ra tại nhiều nước trên thế giới, khủng
hoảng tài chính toàn cầu dẫn đến một số nền kinh tế lớn suy thoái, kinh tế thế giới suy
giảm, thiên tai, dịch bệnh đối với cây trồng vật nuôi xảy ra liên tiếp trên địa bà cả
nước gây ảnh hưởng lớn đến sản xuất và đời sống dân cư.
Trước tình hình đó, nhờ sự chỉ đạo kịp thời, quyết liệt của Đảng, quốc hội, chính
phủ; sự cố gắng khắc phục khó khăn của các bộ, ngành, địa phương; các tập đoàn,
doanh nghiệp, các cơ sở sản xuất và của toàn dân nên kinh tế xã hội nước ta từng bước
vượt qua khó khăn, thách thức… vì vậy, việc nghiên cứu về tình hình kinh tế rất quan
trọng và cần thiết, để biết được thực trạng phát triển của nước ta những năm gần đây,
đề ra các hướng giải quyết, định hướng trong tương lai.
1.2. Mục tiêu nghiên cứu:
Tìm hiểu, phân tích, đánh giá thực trạng, con đường tăng trưởng và phát triển
của Việt Nam.
1.3. Đối tượng nghiên cứu:
Các yếu tố ảnh hưởng đến sự tăng trưởng của nền kinh tế Việt Nam.
1.4. Phạm vi nghiên cứu:
• Về không gian: Việt Nam.

đã dẫn đường cho Việt Nam trở thành thành viên của Tổ chức Thương mại Thế
giới vào năm 2007. Tuy nhiên, Việt Nam vẫn còn gặp phải nhiều vấn đề như lạm phát,
mức lương bình quân đầu người không cân bằng rất cao, dịch vụ chăm sóc sức khỏe
còn kém và sự không cân bằng giới tính.
2.2 Đặc điểm tự nhiên:
Việt Nam là một quốc gia nằm ở phía đông bán đảo Đông Dương, thuộc khu
vực Đông Nam Á. Phía bắc giáp Trung Quốc, phía tây giáp Lào và Campuchia, phía
đông và phía nam giáp biển Đông. Có diện tích 331.212 km², bao gồm khoảng
327.480 km² đất liền và hơn 4.200 km² biển nội thủy, với hơn 2.800 hòn đảo và 2 quần
đảo lớn là quần đảo Trường Sa và Hoàng Sa, bãi đá ngầm lớn nhỏ, gần và xa bờ, có
vùng nội thủy, lãnh hải, vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa được Chính phủ Việt
Nam xác định gần gấp ba lần diện tích đất liền (khoảng trên 1 triệu km).
GVHD: ThS. Trần Minh Trí Trang 7
Đề tài: Thực trạng, con đường tăng trưởng và phát triển ở Việt Nam
Địa hình Việt Nam rất đa dạng theo các vùng tự nhiên như vùng Tây Bắc, Đông
Bắc,Tây Nguyên có những đồi và những núi đầy rừng, trong khi đất phẳng che phủ
khoảng ít hơn 20%. Núi rừng chiếm độ 40%, đồi 40%, và độ che phủ khoảng 75%. Các
vùng đồng bằng như đồng bằng sông Hồng, đồng bằng sông Cửu Long và các
vùng duyên hải ven biển như Bắc Trung Bộ và Nam Trung Bộ. Nhìn tổng thể Việt Nam
gồm ba miền với miền Bắc có cao nguyên và vùng châu thổ sông Hồng, miền Trung là
phần đất thấp ven biển, những cao nguyên theo dãy Trường Sơn, và miền Nam là vùng
châu thổ Cửu Long. Điểm cao nhất Việt Nam là 3.143 mét, tại đỉnh Phan Xi Păng,
thuộc dãy núi Hoàng Liên Sơn.
Việt Nam có khí hậu nhiệt đới xavan ở miền Nam với hai mùa (mùa mưa, từ
giữatháng 5 đến giữa tháng 9, và mùa khô, từ giữa tháng 10 đến giữa tháng 4) và khí
hậu cận nhiệt đới ẩm ở miền Bắc với bốn mùa rõ rệt (mùa xuân, mùa hè, mùa
thu và mùa đông), còn miền trung có đặc điểm của khí hậu nhiệt đới gió mùa. Do nằm
dọc theo bờ biển, khí hậu Việt Nam được điều hòa một phần bởi các dòng biển và
mang nhiều yếu tố khí hậu biển. Độ ẩm tương đối trung bình là 84% suốt năm. Hằng
năm, lượng mưa từ 1.200 đến 3.000 mm,số giờ nắng khoảng 1.500 đến 3.000 giờ/năm

( 2006.)
- Tỷ lệ nghèo 12% (2011).
- Lực lượng lao động 51,39 triệu (2011).
GVHD: ThS. Trần Minh Trí Trang 9
Đề tài: Thực trạng, con đường tăng trưởng và phát triển ở Việt Nam
- Cơ cấu lao động theo nghề Nông nghiệp (56.8%), Công nghiệp (37%), Dịch vụ
(6.2%) (2006.)
- Lạm phát (CPI) 10% (2012).
- Kinh tế vĩ mô ổn định, lạm phát kiềm chế dự báo CPI năm 2012 ở mức 7,5%.
- Tỷ giá ổn định, dự trữ ngoại hối tăng đạt trên 11 tuần nhập khẩu(2012).
- Cán cân thanh toán ước thặng dư trên 8 tỷ USD (2012).
- Bội chi ngân sách nhà nước đạt 4,8% GDP (2012).
- Tổng vốn đầu tư phát triển toàn xã hội ước đạt 29,2% GDP (2012).
- Tổng thu ngân sách bằng 29,5% GDP (2012).
- Kim ngạch xuất khẩu tăng cao hơn kế hoạch, ước tăng 16,6% (2012).
- Kim ngạch nhập khẩu ước tăng 6,8% (2012).
- Ước nhập siêu khoảng 1 tỷ USD, chiếm 0,9% tổng kim ngạch xuất khẩu (việc giảm
mạnh nhập khẩu, tăng xuất khẩu góp phần ổn định tỷ giá, tăng dự trữ ngoại tệ của nhà
nước) (2012).
- An sinh xã hội và phúc lợi xã hội cơ bản được bảo đảm, ước năm 2012 giải quyết việc
làm cho 1,5 triệu lao động, tỷ lệ thất nghiệp của lao động trong độ tuổi ở thành thị là
3,63%.
3.1.2 Tốc độ tăng trưởng kinh tế
Tốc độ tăng trưởng của nền kinh tế là một chỉ tiêu kinh tế quan trọng phản ánh
rất nhiều mặt của nền kinh tế - xã hội của đất nước. Nếu tốc độ tăng trưởng suy giảm sẽ
làm giảm thu nhập của người lao động, giảm chi tiêu và đầu tư cho y tế và giáo dục, và
do đó làm giảm chất lượng nguồn nhân lực trong trung và dài hạn. Tốc độ tăng trưởng
giảm cũng làm giảm nguồn thu cho ngân sách và để duy trì thâm hụt ngân sách ở một
mức độ nhất định, chi ngân sách cũng phải giảm theo. Trong khi đó, đối với một đất
nước đang phát triển như Việt Nam, chi ngân sách cho kết cấu hạ tầng, công nghệ, y tế,

năm này phải liên tục đạt tốc độ tăng trưởng GDP 7,5-8%/năm).So với các nước khác
trong khu vực, khoảng cách tụt hậu của Việt Nam còn xa hơn: Thái Lan khoảng 15
năm; Malaysia 20 năm; Hàn Quốc 25 năm; Singapore 35 năm vàNhật Bản 40 năm.
3.2 Tổng sản phẩm quốc nội (GDP- Gross Domestic Product)
GDP thực tế của Việt Nam tăng nhanh hơn các quốc gia khác, với mức tăng
trưởng trung bình là 7.32% từ năm 1990 đến hết năm 2009. Việt Nam được xếp vào
một trong 20 quốc gia có nền kinh tế tăng trưởng nhanh nhất khắp toàn cầu trong năm
2009 với mức tăng trưởng GDP 5.3% và Ngân hàng Thế giới báo cáo mức tăng trưởng
GDP đạt 6.9% trong quý 4 năm 2009. Trong năm 2010, các kết quả ở quý 3 cho thấy
mức tăng trưởng GDP trong năm 2010 cho đến nay là 6.52% với tổng GDP là 104,6 tỷ
USD, tương đương với GDP danh nghĩa trên bình quân đầu người là 1.218 USD.
GVHD: ThS. Trần Minh Trí Trang 12
Đề tài: Thực trạng, con đường tăng trưởng và phát triển ở Việt Nam
GDP bình quân đầu người của Việt Nam và các nước phát triển châu Á, tính theo PPP (
đồng đola quốc tế hiện tại)
Dù đã có mức phát triển nhanh trong 20 năm qua, nhưng về khoảng cách tuyệt
đối Việt Nam vẫn thua rất xa với các nước Đông Nam Á khác.
Tính từ cải cách Đổi Mới năm 1986, Việt Nam từng là một trong những tâm
điểm đầu tư của thế giới trong 20 năm qua.
Tính về tốc độ tăng trưởng tương đối, Việt Nam có tăng trưởng cao nhất khu
vực. Nhưng khi tính về số tuyệt đối, Việt Nam vẫn có một khoảng cách khá xa với các
trong khu vực, nhất là khi tốc độ tăng trưởng đang có dấu hiệu chậm lại.
GVHD: ThS. Trần Minh Trí Trang 13
Đề tài: Thực trạng, con đường tăng trưởng và phát triển ở Việt Nam
Tương quan GDP giữa Việt Nam với các nước khu vực giai đoạn 1960-2010.
Nếu lấy mốc 1989, sau khi Việt Nam thực hiện Đổi mới cải cách nền kinh tế, và
vượt qua được cơn bão lạm phát , lúc đó GDP ở mức 6,3 tỷ USD, trong khi đó
Indonesia 101 tỷ USD, Thái Lan 72 tỷ USD, Philippines 42 tỷ USD, Malaysia 38,8 tỷ
USD, Singapore 30 tỷ USD.
Sau hơn 20 năm phát triển kinh tế, thứ hạng giữa các nước có sự thay đổi không

cơ sở để thúc đẩy tăng trưởng và chuyển đổi mô hình tăng trưởng vào năm 2013 và các
năm tiếp theo. Trong giai đoạn sắp tới, giữ lạm phát ở mức thấp sẽ là yêu cầu bức thiết,
để làm được điều này đòi hỏi phải có sự cam kết mục tiêu lạm phát từ phía Chính phủ
và hành động chính sách tiền tệ, tài khóa và các chính sách đi kèm khác phải tương
thích với mục tiêu lạm phát đề ra ban đầu.
GVHD: ThS. Trần Minh Trí Trang 16
Đề tài: Thực trạng, con đường tăng trưởng và phát triển ở Việt Nam
CHƯƠNG IV: NGHÈO ĐÓI.
Tỷ lệ hộ nghèo của Việt Nam ước tính khoảng 12% vào cuối năm 2011.
Tỷ lệ hộ nghèo ở Việt Nam năm 2002, theo chuẩn quốc gia của Việt Nam là
12,9%, còn theo chuẩn của Liên Hiệp Quốc là 29% trong đó tỷ lệ hộ đói là 10,87%.
Dựa theo chỉ số nghèo tổng hợp (tiếng Anh: Human Poverty Index-HPI), Việt Nam xếp
hạng 113 trên 169 nước năm 2011. Theo báo cáo của Oversea Development Institute,
Việt Nam là nước đạt được nhiều thành tựu trong lĩnh vực xóa đói giảm nghèo.
Tỷ lệ hộ đói nghèo của Việt Nam còn khá cao. Theo kết quả Điều tra mức sống dân cư (theo
chuẩn nghèo chung của quốc tế), tỷ lệ đói nghèo năm1998 là trên 37% và ước tính năm 2000 tỷ lệ này
vào khoảng 32% (giảm khoảng 1/2 tỷ lệ hộ nghèo so với năm 1990). Nếu tính theo chuẩn đói nghèo về
lương thực, thực phẩm năm 1998 là 15% và ước tính năm 2000 là 13%.Theo chuẩn nghèo của Chương
trình xóa đói giảm nghèo quốc gia mới, đầu năm 2000 có khoảng 2,8 triệu hộ nghèo, chiếm 17,2% tổng
số hộ trong cả nước.
4.1 Nghèo đói tập trung ở các vùng có điều kiện sống khó khăn
Đa số người nghèo sinh sống trong các vùng tài nguyên thiên nhiên rất nghèo nàn, điều kiện tự
nhiên khắc nghiệt như ở vùng núi, vùng sâu, vùng xa hoặc ở các vùng Đồng bằng sông Cửu Long,
GVHD: ThS. Trần Minh Trí Trang 17
Đề tài: Thực trạng, con đường tăng trưởng và phát triển ở Việt Nam
miền Trung, do sự biến động của thời tiết (bão, lụt, hạn hán ) khiến cho các điều kiện sinh sống và
sản xuất của người dân càng thêm khó khăn. Đặc biệt, sự kém phát triển về hạ tầng cơ sở của các vùng
nghèo đã làm cho các vùng này càng bị tách biệt với các vùng khác. Năm 2000, khoảng 20-30% trong
tổng số 1.870 xã đặc biệt khó khăn chưa có đường dân sinh đến trung tâm xã; 40% số xã chưa đủ
phòng học; 5% số xã chưa có trạm y tế; 55% số xã chưa có nước sạch; 40% số xã chưa có đường điện

90,5
28,0
62,5
Thành thị 265 7,8 9,5
4.3 Tỷ lệ nghèo đói khá cao trong các vùng sâu, vùng xa, vùng núi cao
Số hộ nghèo
(nghìn hộ)
So với tổng số hộ
trong vùng (%)
So với tổng số hộ nghèo cả
nước (%)
GVHD: ThS. Trần Minh Trí Trang 19
Đề tài: Thực trạng, con đường tăng trưởng và phát triển ở Việt Nam
Tổng số 2.800 17 2100
Vùng Tây Bắc 146 33,9 5,2
Vùng Đông Bắc 511 22,3 18,2
Vùng Đồng bằng sông Hồng 337 9,8 12,0
Vùng Bắc Trung Bộ 554 25,6 19,8
Vùng duyên hải miền Trung 389 22,4 13,9
Vùng Tây Nguyên 190 24 96,8
Vùng Đông Nam Bộ 183 8,9 6,6
Vùng Đồng bằng sông Cửu Long 490 14,4 17,5
Đói nghèo mang tính chất vùng rất rõ rệt. Các vùng núi cao, vùng sâu, vùng xa, vùng đồng bào
dân tộc ít người sinh sống, có tỷ lệ đói nghèo khá cao. Có tới 64% số người nghèo tập trung tại các
vùng miền núi phía Bắc,Bắc Trung bộ, Tây Nguyên và duyên hải miền Trung. Đây là những vùng có
điều kiện sống khó khăn, địa lý cách biệt, khả năng tiếp cận với các điều kiện sản xuất và dịch vụ còn
nhiều hạn chế, hạ tầng cơ sở rất kém phát triển, điều kiện thiên nhiên khắc nghiệt và thiên tai xảy ra
thường xuyên.
Ước tính quy mô và tỷ lệ nghèo đói theo chuẩn nghèo mới (2001-2005) của Chương trình xóa
đói giảm nghèo theo vùng đầu năm 2001.

quốc, đến giữa thế kỷ XXI, dân số Việt Nam có thể đạt ngưỡng 100 triệu người. Ngân
hàng thế giới (WB) đánh giá chất lượng nguồn nhân lực của Việt Nam nếu lấy thang
điểm là 10 thì chất lượng nhân lực của Việt Nam chỉ đạt 3,79 điểm (xếp thứ 11/12 nước
Châu Á tham gia xếp hạng của WB) trong khi Hàn Quốc là 6,91; Ấn Độ là 5,76;
Malaysia là 5,59; Thái Lan là 4,94 Chỉ số cạnh tranh nguồn nhân lực Việt Nam đạt
3,39/10 điểm và năng lực cạnh tranh của nền kinh tế Việt Nam xếp thứ 73/133 nước
được xếp hạng.
5.2 Các thành phần nguồn nhân lực:
5.2.1 Nguồn nhân lực từ nông dân:
Nông dân Việt Nam chiếm khoảng hơn 61 triệu 433 nghìn người, bằng khoảng
73% dân số của cả nước.
Hiện có từ 80 đến 90% lao động nông, lâm, ngư nghiệp và những cán bộ quản
lý nông thôn chưa được đào tạo. Điều này phản ánh chất lượng nguồn nhân lực trong
nông dân còn rất yếu kém. Sự yếu kém này đẫ dẫn đến tình trạng sản xuất nông nghiệp
nước ta vẫn còn đang trong tình trạng sản xuất nhỏ, manh mún, sản xuất theo kiểu
truyền thống, hiệu quả sản xuất thấp. Việc liên kết "bốn nhà" (nhà nước, nhà nông, nhà
khoa học, nhà doanh nghiệp) hiện đang còn là hình thức.
GVHD: ThS. Trần Minh Trí Trang 22
Đề tài: Thực trạng, con đường tăng trưởng và phát triển ở Việt Nam
Tình trạng đất nông nghiệp ngày càng thu hẹp, làm cho một bộ phận lao động ở
nông thôn dôi ra, không có việc làm. Từ năm 2000 đến năm 2007, mỗi năm nhà nước
thu hồi khoảng 72 nghìn ha đất nông nghiệp để phát triển công nghiệp, xây dựng đô
thị.
Chính vì nguồn nhân lực trong nông thôn chưa được khai thác, đào tạo, cho nên
một bộ phận nhân dân ở nông thôn không có việc làm ở các khu công nghiệp, công
trường. Tình trạng hiện nay là các doanh nghiệp đang thiếu nghiêm trọng thợ có tay
nghề cao, trong khi đó, lực lượng lao động ở nông thôn lại dư thừa rất nhiều; chất
lượng lao động rất thấp.
5.2.2 Nguồn nhân lực từ công nhân:
Về số lượng giai cấp công nhân Việt Nam hiện nay có khoảng 10 triệu người (kể

trên thế giới.
Đội ngũ trí thức Việt Nam trong những năm gần đây tăng nhanh. Riêng sinh
viên đại học và cao đẳng phát triển nhanh
Năm 2000 2002 2003 2004 2005 2006
cả nước (nghìn
người)
899,5 1.020,7 1.131 1.319,8 1,387,1 1,666, 2
Số học sinh, sinh viên học tại các cơ sở giáo dục ngoài công lập ngày càng tăng.
Năm học 2007-2008, tỷ lệ học sinh, sinh viên ngoài công lập là 15,6% (năm 2000 là
11,8%), trong đó, tỷ lệ học sinh phổ thông là 9%, học sinh trung cấp chuyên nghiệp là
18,2%, học nghề là 31,2%, sinh viên cao đẳng, đại học là 11,8%.
Bên cạnh nguồn nhân lực là trí thức trên đây, nguồn nhân lực là công chức, viên
chức (cũng xuất thân từ trí thức) công tác tại các ngành của đất nước cũng tăng nhanh:
Tổng số công chức, viên chức trong toàn ngành xuất bản là gần 5 nghìn người làm việc
tại 54 nhà xuất bản trong cả nước (trung ương 42, địa phương 12).
Tổng số nhà báo của cả nước là 14 nghìn phóng viên chuyên nghiệp và hàng nghìn cán
bộ, kỹ sư, nghệ sĩ, nhân viên làm việc trong các cơ quan báo chí và hàng chục nghìn
người khác là cộng tác viên, nhân viên, lao động tham gia các công đoạn in ấn, tiếp thị
GVHD: ThS. Trần Minh Trí Trang 24
Đề tài: Thực trạng, con đường tăng trưởng và phát triển ở Việt Nam
quảng cáo, phát hành, làm việc tại 687 cơ quan báo chí, hơn 800 báo, tạp chí, báo điện
tử, đài phát thanh, truyền hình.
Đội ngũ công chức, viên chức của ngành thuế Việt Nam hiện có gần 39 nghìn
người; ngành hải quan của Việt Nam là 7.800 người, ngành kho bạc là 13.536 người.
Tính đến tháng 6-2005, đội ngũ cán bộ nghiên cứu, hoạch định chính sách pháp
luật của các cơ quan trung ương là 824 người, trong đó có 43 tiến sĩ luật (chiếm
5,22%), 35 tiến sĩ khác (chiếm 4,25%), 89 thạc sĩ luật (chiếm 10,08%), 43 thạc sĩ khác
(chiếm 5,22%), 459 đại học luật (chiếm 55,70%), 223 đại học khác (chiếm 27,06%), 64
người có 2 bằng vừa chuyên môn luật, vừa chuyên môn khác (chiếm 7,77%),… Cả
nước có 4.000 luật sư (tính ra cứ 1 luật sư trên 24 nghìn người dân).


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status