phần Mở đầu
1. Sự cần thiết của đề tài nghiên cứu
Công nghiệp - thủ công là một ngành sản xuất quan trọng ở tất cả các quốc
gia. Hầu hết các nớc đang phát triển có tốc độ tăng trởng phát triển kinh tế cao đều
là các nớc có nền công nghiệp phát triển và hiện đại. Đối với nớc CHDCND Lào là
một nớc đang phát triển, muốn trở thành một nớc có tốc độ phát triển kinh tế cao
thì không thể bỏ qua vấn đề phát triển nền kinh tế đất nớc thành nền công nghiệp
tiên tiến, hiện đại với giá trị sản xuất công nghiệp chiếm phần lớn trong tổng giá
trị sản xuất của các ngành kinh tế.
Ngành công nghiệp - thủ công có phát triển thì mới tạo điều kiện cho các
ngành kinh tế khác phát triển, từ đó sẽ làm gia tăng tổng sản phẩm quốc nội
(GDP) của nền kinh tế, làm cho mức sống của con ngời ngày càng đợc cải thiện.
Sản xuất công nghiệp - thủ công cũnglà một trong những cơ sở yếu tố quan trọng
để chính phủ dựa vào đó điều tiết nền kinh tế đất nớc theo những đờng lối chính
sách của mình.
Đối với nớc Lào việc phát triển sản xuất công nghiệp - thủ công trong thời
kỳ đổi mới và mở cửa hiện nay có một ý nghĩa quan trọng trong chiến lợc phát
triển kinh tế - xã hội. Nó quyết định sự thắng lợi của đờng lối lãnh đạo của Đảng
Nhân dân Cách Mạng Lào đối với sự phát triển kinh tế đất nớc. Chính vì vậy vấn
đề phát triển sản xuất công nghiệp - thủ công cũng đợc nhấn mạnh trong các văn
kiện đại hội đại biểu lần thứ VI của Đảng Nhân dân Cách mạng Lào, cũng nh các
chủ trơng chính sách của Chính Phủ Lào
Việc phân tích tình hình phát triển sản xuất công nghiệp - thủ công của
CHDCND Lào trong quá khứ, nhất là trong những năm vừa qua trên cơ sở dự báo
tình hình phát triển ngành công nghiệp - thủ công trong những năm tới có một ý
nghĩa rất quan trọng đối với việc đề ra các chủ trơng, chính sách phát triển sản
xuất ngành công nghiệp - thủ công nói riêng và phát triển kinh tế quốc dân nói
1
chung. Chính vì vậy tôi đã chọn vấn đề tài: Vận dụng một số phơng pháp thống
kê để phân tích tình hình phát triển công nghiệp - thủ công ở CHDCND Lào giai
đoạn 1985 - 1989 và dự báo giai đoạn 1999 - 2005 làm đề tài luận án nghiên cứu
- Các giải pháp để cải thiện tình hình sản xuất, các kiến nghị về nghiệp vụ
thống kê trong phân tích tình hình phát triển CN - TC quốc doanh.
Vì khả năng có hạn chế, chắc chắn luận văn có nhiều phần thiếu sót, tiếng
nói cha giỏi, cho nên mong các bạn, các cô, các thầy góp ý để bản luận án của tôi
đợc tốt hơn.
6. Luận án đợc hoàn thành gồm 3 chơng (ngoài phần Mở đầu và phần
Kết luận).
Chơng I: Thực trạng phát triển công nghiệp - thủ công ở CHDCND Lào
giai đoạn 1985 - 1989.
Chơng II: Hệ thống chỉ tiêu và phơng pháp thống kê sử dụng trong phân
tích và dự báo tình hình phát triển công nghiệp - thủ công.
Chơng III: Vận dụng hệ thống chỉ tiêu và một số phơng pháp thống kê để
phân tích tình hình phát triển công nghiệp - thủ công ở
CHDCND Lào giai đoạn 1985 - 1989 và dự báo giai đoạn
1999 - 2005.
3
Chơng I
Thực trạng phát triển công nghiệp - thủ công
ở CHDCND Lào giai đoạn 1985 - 1989
1.1. Khái niệm về công nghiệp - thủ công.
Công nghiệp - thủ công là một lĩnh vực sản xuất vật chất cấu thành nền sản
xuất - xã hội. Nó bao gồm các hoạt động khai thác tài nguyên, chế biến chúng
thành các sản phẩm và sửa chữa các vật phẩm bị h hỏng trong quá trình sử dụng.
Ngành công nghiệp - thủ công là một lĩnh vực sản xuất quan trọng nhất
trong nền kinh tế thị trờng hiện nay. Với những đặc trng tiên tiến về mọi mặt nh:
quan hệ sản xuất, tổ chức sản xuất, tổ chức lao động, tạo điều kiện cho con ngời
có việc làm, tiến bộ khoa học kỹ thuật, quan hệ quản lý và là ngành chỉ đạo với
các ngành kinh tế quốc dân khác. Ngành công nghiệp - thủ công có tác dụng rất
lớn, nó thúc đẩy toàn bộ nền kinh tế phát triển. Chính vì vậy trong chiến lợc phát
triển kinh tế lâu dài ở CHDCND Lào đều chủ trơng đầu t phát triển ngành công
động sản xuất kinh doanh với mục tiêu sinh lợi nhuận và thực hiện những nhiệm
vụ nhà nớc giao cho trên cơ sở đạt hiệu quả kinh tế - xã hội cao.
1.1.2. Tầm quan trọng của công nghiệp - thủ công quốc doanh đối với
nền kinh tế.
Thể hiện trên các mặt sau :
Sản xuất ra hàng hoá dịch vụ công nghiệp - thủ công phục vụ cho toàn xã
hội. Đây là lĩnh vực sinh lời thấp nhất, nhng rất cần thiết đối với các thành phần
kinh tế khác.
- Hoạt động sản xuất những dụng cụ, phơng tiện phục vụ cho an ninh quốc
phòng của đất nớc. Đợc Nhà nớc đầu t vốn và những hoạt động này, phục vụ cho
mục tiêu của nhà nớc là chính.
- Hoạt động trong lĩnh vực công nghiệp - thủ công mũi nhọn nh ngành công
nghiệp - thủ công có công nghệ kỹ thuật hiện đaị, ngành khai thác thế mạnh về tài
nguyên của đất nớc. Có khả năng đóng góp lớn cho ngân sách Nhà nớc, và các
công nghiệp - thủ công chủ yếu nh: công nghiệp - thủ công chế biến lơng thực,
công nghiệp - thủ công năng lợng, những ngành này giúp Nhà nớc ổn định đợc
nền kinh tế, tránh đợc những biến động lớn.
5
- Các hoạt động còn lại cảu công nghiệp - thủ công quốc doanh kinh doanh
vì mục tiêu lợi nhuận là chính và có sự cạnh tranh mạnh mẽ giữa các thành phần
kinh tế. Vì vậy có thể nói rằng công nghiệp - thủ công quốc doanh ở nớc
CHDCND Lào hiện nay bao gồm tất cả các doanh nghiệp công nghiệp - thủ công
quốc doanh trong phạm vi cả nớc, gồm các loại hình: doanh nghiệp công nghiệp
Nhà nớc thuần tuý và doanh nghiệp mang tính chất Nhà nớc hoạt động trên tất cả
các lĩnh vực công nghiệp - thủ công khác nhau.
Công nghiệp quốc doanh của Lào thực sự đợc bắt đầu xây dựng từ những
năm 1975 - 1980 trên cơ sở một nền công nghiệp yếu kém và lạc hiệu do chế độ
cũ để lại. Trong những năm đầu xây dựng đất nớc, Nhà nớc đã đầu t một khối lợng
tiền rất lớn vào công nghiệp quốc doanh, khiến cho nó nhanh chóng phát triển
chiếm lĩnh toàn bộ ngành công nghiệp. Do vậy, trong giai đoạn này công nghiệp
Trình độ trang bị kỹ thuật, máy móc thiết bị cũ kỹ, công nghệ kinh doanh, sản
xuất lạc hiệu xa so với thế giới, ít có khả năng cạnh tranh trên thị trờng nhất là với
hàng hoá nhập ngoại.
- Phần lớn các doanh nghiệp công nghiệp quốc doanh thiếu vốn, làm ăn
không có lãi, khó khăn trong việc duy trì sản xuất kinh doanh.
- D thừa lao động, thiếu việc làm nghiêm trọng, ngoài một số doanh nghiệp
thích nghi đợc với cơ chế mới có tới 2/3 doanh nghiệp hoạt động cầm chừng, một
bộ phận khác cha tìm đợc hớng đi thích hợp.
- Xét về chất lợng hoạt động đợc đo bằng các tiêu chuẩn hiệu quả kinh tế,
nhất là hiệu quả của đồng vốn sử dụng hoặc năng suất lao động thì nhìn chung
công nghiệp quốc doanh còn thấp so với các thành phần kinh tế khác không phải
là sở hữu nhà nớc. Đây là nhợc điểm lớn nhất có ý nghĩa quyết định đối với sự tồn
tại và phát triển của các doanh nghiệp công nghiệp quốc doanh trong nền kinh tế
nớc ta.
- Bộ máy quản lý còn cồng kềnh, chồng chéo, kém hiệu lực. Trình độ của
cán bộ quản lý đại bộ phận còn thấp, cha có kiến thức đầy đủ về kinh tế thị trờng,
lúng túng trong xử lý, thiếu năng động trong hoạt động và quản lý một nền kinh tế
thị trờng.
1.3. Vai trò của công nghiệp - thủ công và tình hình
phát triển của nó ở CHDCND Lào.
7
Nền kinh tế của bất kỳ nớc nào cũng bao gồm nhiều ngành kinh tế: công
nghiệp - thủ công, nông nghiệp, giao thông vận tải, thơng mại, xây dựng.... Mỗi
ngành đều có một vị trí và vai trò nhất định trong đó ở nớc CHDCND Lào những
năm trớc kinh tế còn kém phát triển, sản xuất nhỏ và vừa là chủ yếu, lao động thủ
công là chủ yếu và phổ biến nhất.
Nhiều thành phần kinh tế tham gia vào sản xuất ở nhiều ngành kinh tế khác
nhau với những vai trò và các chức năng nhất định. Vì vậy công nghiệp - thủ công
ngoài quốc doanh và công nghiệp - thủ công quốc doanh đều có vai trò rất quan
trọng đợc thể hiện ở các mặt sau đây:
phụ thuộc mình.
Công nghiệp - thủ công là nhân tố chủ yếu thúc đẩy sự phát triển kinh tế
hàng hoá. Mở rộng thị trờng, thay đổi cơ cấu kinh tế trong nội bộ công nghiệp -
thủ công cũng nh trong cả nớc. Công nghiệp - thủ công quốc doanh phát triển sẽ
thúc đẩy công nghiệp - thủ công phát triển đồng thời mở ra một thị trờng, một bộ
phận chủ lực của nền sản xuất hàng hoá, nó cũng tạo ra sự thay đổi cơ cấu trong
công nghiệp và cả nền kinh tế.
Công nghiệp - thủ công quốc doanh với vai trò tiên phong của mình kéo
theo sự phát triển của công nghiệp đã tác động vào quá trình thị trờng hoá các
ngành và các vùng sản xuất - xã hội của đất nớc.
Công nghiệp - thủ công quốc doanh cùng với công nghiệp thủ công ngoài
quốc doanh góp phần đảm bảo kỹ thuật và nâng cao hiệu quả của việc xuất khẩu
các loại hàng hoá của tất cả các ngành ra ngoài phạm vi quốc gia nhằm mở rộng
thị trờng.
+ Công nghiệp - thủ công quốc doanh đóng vai trò quan trọng trong việc
thúc đẩy sự phát triển của công nghiệp cũng nh toàn bộ nền kinh tế quốc dân.
Công nghiệp - thủ công quốc doanh còn là nhân tố chủ yếu góp phần giải quyết
nhiều nhiệm vụ cơ bản có tính chất mục tiêu của sự phát triển kinh tế - xã hội đó
là:
- Góp phần quan trọng vào việc giải quyết việc làm cho ngời lao động.
- Đẩy nhanh tốc độ phát triển kinh tế xã hội.
- Góp phần xoá bỏ sự đối lập, khác biệt giữa thành thị và nông thôn bằng
việc tạo ra các đô thị mới hay thâm nhập vào các vùng nông, lâm, ng nghiệp để
làm thay đổi dần bộ mặt nông thôn.
- Cung cấp các sản phẩm hàng hoá đa dạng với chất lợng cao phục vụ đời
sống nhân dân và xuất khẩu.
9
- Thông qua sự phát triển của mình về quy mô và phân bố hợp lý lực lợng
sản xuất. công nghiệp - thủ công quốc doanh sẽ góp phần làm cho dân c đợc phân
bố đồng đều và hợp lý giữa các miền của toàn quốc.
Đảng và Nhà nớc đề ra. Tuy nhiên Đảng và Nhà nớc cũng xác định rằng công
nghiệp - thủ công quốc doanh là một bộ phận quan trọng chủ đạo trong chiến lợc
phát triển nền kinh tế quốc dân. Tuy nhiên Lào chuyển sang cơ chế thị trờng nhiều
thành phần kinh tế trong bối cảnh các đơn vị sản xuất ở Lào phải chịu ảnh hởng rất
nặng nề của thời kỳ bao cấp, nền kinh tế của Lào đang ở tình trạng bị suy thoái.
Các khoản bao cấp nh ngày xa bị cắt hẳn. Tuy nhiên Đảng và Nhà nớc phải bao
cấp cho công nghiệp - thủ công quốc doanh , cấp vật t, vật liệu, cung cấp vốn cho
công nghiệp. Công nghiệp - thủ công ngày càng giảm về số lợng các cơ sở và về
chất lợng hoạt động.
Tuy nhiên Đảng cách mạng Lào vẫn xác định công nghiệp quốc doanh là bộ
phận kinh tế giữ vai trò chủ đạo trong chiến lợc phát triển kinh tế lâu dài của đất
nớc.
Nhng trong những năm đầu đổi mới, một số cơ sở công nghiệp quốc doanh
đã không thích nghi đợc với cơ chế thị trờng, hoạt động kinh doanh thua lỗ, dẫn
tới giải thể, chỉ có một số ít hoạt động có hiệu quả, làm cho nhiều ngời nghi ngờ
về vai trò chủ đạo của công nghiệp quốc doanh. Để khắc phục tình trạng này đồng
thời giúp công nghiệp quốc doanh hoàn thành tốt vai trò của nó trong quá trình
công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nớc. Hội nghị đại biểu toàn quốc đã thống nhất
quan điểm của Đảng đối với công nghiệp quốc doanh trong những năm tới nh sau:
- Tiếp tục chấn chỉnh và xây dựng khu vực công nghiệp quốc doanh hoạt
động có hiệu quả, đảm bảo đợc vai trò chủ đạo trong nền kinh tế là một việc hết
sức quan trọng và cấp bách. Vai trò đó thể hiện ở chỗ mở đờng và hỗ trợ các thành
phần khác phát triển, thúc đẩy sự tăng trởng nhanh và lâu bền của nền kinh tế, là
11
một công cụ có sức mạnh vật chất để nhà nớc điều tiết và hớng dẫn nền kinh tế thị
trờng theo định hớng của Đảng đã đề ra.
- Tập trung xây dựng doanh nghiệp Nhà nớc ở những ngành, những lĩnh
vực, những khâu cơ sở hạ tầng kinh tế xã hội, các ngành công nghiệp mũi nhọn
nh điện, xi măng... để phát huy vai trò chủ đạo trong nền kinh tế. Giảm bớt những
doanh nghiệp không cần giữ hình thức quốc doanh, củng cố, mở rộng và xây dựng
2.1 Nguyên tắc chủ yếu xác định hệ thống chỉ tiêu trong
phân tích.
Việc phân tích tình hình phát triển ngành công nghiệp hết sức quan trọng
cho nên chúng ta không chỉ có phân tích chung những số liệu tổng hợp vì việc
phân tích nh vậy chỉ cho ta thấy một bức tranh toàn cảnh về sự tăng trởng của
công nghiệp, nó không cho ta thấy rằng tại sao ngành công nghiệp - thủ công lại
có sự tăng trởng hay giảm sút, đâu là nguyên nhân chính tiến dần tới tình hình đó.
Nếu chúng ta muốn biết đợc những điều này, chúng ta có thể tiến hành phân tích
chi tiết theo nhiều góc độ khác nhau. Ngoài ra việc phân tích chi tiết cho ta thấy rõ
đợc tình hình phát triển, tỷ trọng của từng bộ phận trong ngành công nghiệp, điều
đó sẽ tạo điều kiện giúp Nhà nớc có đợc chính sách vĩ mô hợp lý, đầy đủ để điều
tiết cơ cấu trong nội bộ ngành công nghiệp.
Để đáp ứng đợc những yêu cấu trên, khi xác định hệ thống chỉ tiêu thống kê
đánh giá kết quả hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp cần quản triệt
các nguyên tắc chủ yếu sau :
- Các chỉ tiêu đánh giá kết quả sản xuất kinh doanh phải đợc quy định
thống nhất; có hớng dẫn cho các doanh nghiệp của tất cả các ngành kinh tế quốc
dân về phơng pháp tính toán đảm bảo yêu cầu:
+ Khái niệm nội dung tính toán phải thông nhất từ chi tiết đến tổng hợp.
+ Phạm vi tính toán phải đợc quy định rõ ràng bao gồm cả phạm vi
không gian và thời gian.
+ Đơn vị tính toán phải thống nhất
Việc thống nhất phơng pháp tính toán nhằm đảm bảo việc so sánh
hoạt động sản xuất kinh doanh của các doanh nghiệp theo không gian và thời
gian. Việc tính toán các chỉ tiêu trong hệ thống phải phù hợp với trình độ của cán
13
bộ, điều kiện hạch toán và thu thập số liệu của các doanh nghiệp và phải phù hợp
với SNA.
- Phải đảm bảo tính hệ thống, điều đó có nghĩa la:
+ Các chỉ tiêu trong hệ thống phải có mối liên hệ hữu cơ với nhau, đợc
bị, than, vật liệu xây dựng ...
Một số sản phẩm của các doanh nghiệp thuộc ngành công nghiệp nhẹ và
công nghiệp thực phẩm đợc dùng vào sản xuất dới dạng nguyên vật liệu nh đờng
dùng để làm bánh kẹo ... Ngoài ra còn có sản phẩm mà nhóm sản xuất t liệu tiêu
dùng do các doanh nghiệp thuộc ngành công nghiệp nhẹ nh là công nghiệp thủ
công và công nghiệp thực phẩm sản xuất ra.
Một số sản phẩm của doanh nghiệp thuộc ngành công nghiệp nặng đợc sử
dụng vào mục đích tiêu dùng nh than, quạt máy, điện...
Nói chung ở CHDCND Lào sản phẩm của các doanh nghiệp công nghiệp
đợc sắp xếp theo nhóm và theo khối lợng cuả sản phẩm, tuỳ thuộc vào công dụng
thực tế của chúng.
Sự phân loại công nghiệp theo nhóm sản xuất t liệu sản xuất hay là nhóm
công nghiệp sản xuất t liệu tiêu dùng có tác dụng trực tiếp đối với việc thực hiện
tái sản xuất mở rộng trong công nghiệp. mục đích là để giải quyết những vấn đề
quan hệ giữa sản xuất và tiêu dùng. Tuỳ thuộc vào mục tiêu, nhiệm vụ của sự phát
triển kinh tế xã hội và các đặc điểm, điều kiện kinh tế xã hội của mỗi nớc và tuỳ
theo từng thời kỳ mà ta xác định quy mô, các quan hệ tỷ lệ và tốc độ thích hợp
giữa phát triển công nghiệp thuộc nhóm sản xuất t liệu sản xuất và công nghiệp
thuộc nhóm sản xuất t liệu tiêu dùng. Trong điều kiện tiến bộ khoa học kỹ thuật và
giao lu liên kết kinh tế giữa các ớc nh hiện nay, thông qua sự phát triển kinh tế đối
ngoại nớc CHDCND Lào đang chủ trơng phát triển ngành công nghiệp nhẹ nhằm
mục đích vào xuất khẩu quan trọng. Đó là mục đích chính để đẩy mạnh có hiệu
quả quá trình tái sản xuất, phát triển kinh tế và có thể giải quyết đợc tốt mối quan
hệ giữa công nghiệp sản xuất t liệu sản xuất và công nghiệp sản xuất t liệu tiêu
dùng. Việc phân tích công nghiệp quốc doanh phân theo nhóm sản xuất t liệu sản
xuất và sản xuất t liệu tiêu dùng sẽ có một phần nào đó giúp cho nhà nớc xác định
đợc cơ cấu sản xuất t liệu sản xuất và sản xuất t liệu tiêu dùng cho hợp lý trong nội
bộ công nghiệp và cho phù hợp với chủ trơng, đờng lối của Đảng và Nhà nớc đã đề
ra.
15
việc nghiên cứu.
16
+ Theo nghị định số 103/ CN ngày 21/2/1994 của hội đồng bộ trửơng bộ
công nghiệp phân ngành công nghiệp thủ công bao gồm 3 ngành cấp một và
chia thành 15 nhóm cấp 2.
nhóm ngành công nghiệp khái thác mỏ gồm :
- công nghiệp khái thác than
- công nghiệp khái thác khí tự nhiên và các hoạt động dịch vụ
- công nghiệp khái thác quặng uranium
- công nghiệp khái thác quặng kim loại
- công nghiệp khái thác than đá và khái thác mỏ khác
nhóm ngành công nghiệp chế biến gồm :
- công nghiệp sản xuất thực phẩm và đồ uống
- công nghiệp sản xuất các sản phẩm thuốc lá
- công nghiệp dệt
- công nghiệp sản xuất trang phục thuộc da
- công nghiệp sở chế da,sản xuất giầy giép
- công nghiệp chế biến gỗ và sản xuấtcác sản phẩm từ gỗ(trừ gơng,tủ, bàn
và ghế).
- công nghiệp sản xuất giấy và sản phẩm từ giấy
- công nghiệp suất bản , in và soạn thảo các loại
- công nghiệp sản xuất hoá chất và sản phẩm hoá chất
- công nghiệp sản xuất máy móc thiết bị cha đợc phân vào đâu
- công nghiệp sản xuất gừơng tù , bản ghế sản xuất các sản phẩm khác cha
đợc phân vào đâu
nhóm ngành công nghiệp sản xuất và phân phối điện, khí đốt, hơi nớc
- công nghiệp khái thác và phân phối nớc
17
2.3. Hệ thống chỉ tiêu phản ánh tình hình phát triển
công nghiệp thủ công ở CHDCND Lào hiện nay.
qua các năm.
- Tính theo giá trị hiện hành để đánh giá thành quả sản xuất trong năm báo
cáo và so sánh với các chỉ tiêu khác trong kỳ.
- Việc dùng chỉ tiêu giá trị tổng sản lợng để phân tích tình hình phát triển
của ngành công nghiệp - thủ công quốc doanh là vô cùng quan trọng. Nó cho ta
thấy rằng sự cống hiến của công nghiệp - thủ công quốc doanh đối với xã hội qua
các thời kỳ khác nhau.
Từ năm 1994 ngành thống kê ở Lào mới bắt đầu tính theo phơng pháp SNA.
Trong hệ thống các chỉ tiêu mới chỉ tiêu tổng giá trị sản xuất với nội dung tổng
hợp của nó đợc dùng để thay thế chỉ tiêu giá trị tổng sản lợng. Chỉ tiêu giá trị sản
xuất công nghiệp thể hiện toàn bộ giá trị của sản phẩm do hoạt động sản xuất công
nghiệp - thủ công đã tạo ra trong một thời gian nhất định ( thờng tính là một năm).
Nội dung kinh tế của giá trị của sản xuất công nghiệp - thủ công tính theo
giá cố định nó bao gồm các yếu tố sau đây:
- Thành phẩm đạt tiêu chuẩn quy cách phẩm chất đã đợc nhập kho không đ-
ợc phân biệt thành phẩm đó sản xuất là nguyên vật liệu của doanh nghiệp hay là
từ nguyên vật liệu của khách hàng đợc đa đến để mà gia công
- Công việc có tính chất công nghiệp - thủ công làm cho bên ngoài.
- Bán thành phẩm, thứ phẩm, phế phẩm và phế liệu đã đợc tiêu thụ.
- Sản phẩm song song (hay phụ phẩm) của hoạt động sản xuất công nghiệp -
thủ công đã đợc tiêu thụ.
- Chênh lệch giữa cuối kỳ và đầu kỳ bán thành phẩm và sản phẩm đợc chế
tạo dở dang.
- Giá trị của hoạt động cho thuê máy móc, thiết bị nói chung là nằm ở trong
dây truyền sản xuất công nghiệp - thủ công của doanh nghiệp không dùng đến.
Nội dung kinh tế của giá trị sản xuất công nghiệp tính theo giá thực tế (hiện
hành).
Do giá thực tế của sản phẩm rất khác nhau, lại thờng xuyên biến động phức
tạp. Do đó chỉ tiêu giá trị sản xuất công nghiệp theo giá thực tế đợc tính bằng các
yếu tố sau :
20
- Thuế sản xuất: Là các loại thuế phát sinh do kết quả tiêu thụ sản phẩm của
các hoạt động công nghiệp - thủ công trong doanh nghiệp nh: thuế tiêu thụ đặc
biệt và thuế xuất khẩu.
- Thu nhập của ngời lao động: là tổng các khoản mà các doanh nghiệp phải
thanh toán cho ngời lao động trong quá trình họ tham gia vào quá trình sản xuất.
- Khấu hao tài sản cố định: là toàn bộ giá trị khấu hao tài sản cố định đã đợc
trính trong kỳ.
- Lợi nhuận và các khoản khác trong đó bao gồm lợi nhuận trớc thuế lợi tức,
trả lãi tiền vay và nộp cho cơ quan quản lý cấp trên, những khoản thuế và lệ phí
phải nộp khác nh là : thuế tài nguyên, thuế vốn, thuế môn bài và các loại lệ phí.
Giá trị tăng thêm của công nghiệp - thủ công quốc doanh đợc tổng hợp từ
những giá trị tăng thêm từ tất cả các xí nghiệp công nghiệp - thủ công quốc doanh
nó phản ánh bộ phận giá trị của cải mới đợc sáng tạo ra cho xã hội trong nội bộ
công nghiệp - thủ công quốc doanh.
Chỉ tiêu giá trị tăng thêm tính thu giá cố định dùng để phân tích tình hình
phát triển của công nghiệp thủ công quốc doanh, cho thấy phần đóng góp của
công nghiệp - thủ công đối với xã hội. Nó khác với chỉ tiêu tổng giá trị sản xuất ở
chỗ là nó chỉ phản ánh phần giá trị của cải vật chất đợc tạo ra sau khi đã trừ đi các
chi phí trung gian. Do vậy việc phân tích chỉ tiêu giá trị tăng thêm kết hợp với tổng
giá trị sản xuất sẽ nói lên hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp quốc doanh qua
việc so sánh tỷ trọng giá trị tăng thêm trong tổng giá trị sản xuất.
* Chỉ tiêu doanh thu:
Đây là cũng là chỉ tiêu cơ bản phản ánh kết quả kinh tế của doanh
nghiệp và doanh thu từ tất cả các cơ sở xí nghiệp công nghiệp - thủ công
quốc doanh tạo doanh thu chung của công nghiệp - thu công quốc doanh. Trong
phạm vi doanh nghiệp thu công, doanh thu chính là tổng số thu nhập thực tế
bằng tiền của doanh nghiệp từ những hoạt động tiêu thụ sản phẩm hang hoá, dịch
vụ, thu từ liên doanh và các hoạt động nghiệp vụ tài chính, bao gồm hai chỉ tiêu
sau:
Cùng nh doanh thu, lợi nhuận có thể thu đợc từ thành quả kinh doanh sản
phẩm hàng hoá và dịch vụ có tính chất công nghiệp và lợi nhuận từ các dịch vụ
khác nh cho vay vốn, cho thuê các thiết bị, nhà xởng, máy móc và đất đai... Song
lợi nhuận mang lại cho các hoạt động kinh doanh sản phẩm hàng hoá dịch vụ là
22
nguồn lớn nhất, quan trọng nhất và thờng xuyên nhất của doanh nghiệp. Nó khác
với chỉ tiêu tổng giá trị sản xuất và doanh thu, chỉ tiêu lợi nhuận của các ngành
công nghiệp - thủ công quốc doanh phản ánh mục tiêu quan trọng là đảm bảo lợi
ích cho chính bản thân doanh nghiệp. Do vậy các doanh nghiệp luôn luôn cố gắng
tìm mọi cách để làm tăng lợi nhuận của mình. Khi phân tích chỉ tiêu lợi nhuận
qua các năm cho chúng ta sẽ thấy rằng chất lợng hoạt động hay là mức độ sinh lợi
của công nghiệp thủ công quốc doanh có đảm bảo đợc lợi ích cho chính nó thì mới
tạo ra động lực để thực hiện các mục tiêu xã hội.
* Nhóm chỉ tiêu nộp ngân sách nhà nớc:
Nhóm chỉ tiêu này phản ánh nghĩa vụ của các doanh nghiệp công nghiệp -
thủ công quốc doanh đối với Nhà nớc. Đó là các khoản nộp ngân sách trung ơng
và quỹ của cơ quan quản lý trực tiếp cấp trên, bao gồm các chỉ tiêu sau:
-Thuế tiêu thụ đặc biệt.
-Thuế xuất khẩu.
-Thuế thu nhập doanh nghiệp.
-Thuế tài nguyên.
-Thuế vốn.
-Thuế môn bài, nộp khấu hao cơ bản và các khoản lệ phí.
Vì vậy thực chất các khoản nộp ngân sách là một phần của chỉ tiêu của giá
trị tăng thêm. Nếu tách nó ra thì ta sẽ có một chỉ tiêu riêng phản ánh quy mô và
mức độ thực hiện nghĩa vụ với ngân sách Nhà nớc và cơ quan quản lý. Nhóm chỉ
tiêu này là nhóm chỉ tiêu đặc biệt quan trọng với các doanh nghiệp công nghiệp -
thủ công quốc doanh bởi vì đó là doanh nghiệp thuộc sở hữu của Nhà nớc do Nhà
nớc bỏ vốn ra để mà đầu t, phần lớn giá trị của chỉ tiêu nộp ngân sách Nhà nớc là
khoản tiền mà Nhà nớc có thể thu hồi đợc từ các hoạt động đầu t của mình.
mặt.
+Vốn sản xuất trong các doanh nghiệp công nghiệp - thủ công quốc doanh
đợc hình thành từ các nguồn sau:
-Nguồn vốn liên doanh là vốn do liên doanh với các doanh nghiệp sản xuất
khác nó thể hiện là: giá trị tài sản và tiền mặt mà bên liên doanh góp vào.
-Nguồn vốn ngân sách Nhà nớc cấp đây là nguồn vốn chiếm tỷ trọng lớn
nhất.
24
-Nguồn vốn đi vay bao gồm vay ngân hàng, vay các tổ chức kinh tế khác.
-Nguồn vốn tự bổ xung đó là vốn do doanh nghiệp trích từ lợi nhuận.
Vốn sản xuất là chỉ tiêu quan trọng nhất. Nó phản ánh tình hình đầu t vào
công nghiệp - thủ công quốc doanh và cơ cấu vốn phân bố ở các vùng, lãnh thổ,
các ngành nghề kinh tế khác nhau. Việc sử dụng chỉ tiêu vốn sản xuất dùng để
phân tích cho thấy sự biến động của vốn theo thời gian và từ đó chúng ta có thể
xác định đợc khả năng tiềm tàng để phát triển công nghiệp - thủ công quốc doanh.
Nó giúp cho việc nghiên cứu cơ cấu, tỷ trọng vốn sản xuất của các ngành khu vực
công nghiệp - thủ công quốc doanh nhằm phát hiện ra những bất hợp lý trong cơ
cấu đó. Trên cơ sở đó Đảng và Nhà nớc đề ra những chính sách hạn chế hoặc
khuyến khích đầu t làm sao cho hợp lý. Ngoài ra cũng có thể phân tích vốn sản
xuất của công nghiệp - thủ công chi tiết theo vốn cố định và vốn lu động, để biết
đợc tình hình đầu t đổi mới thiết bị của công nghiệp - thủ công quốc doanh để sản
xuất ra đợc nhiều hàng hoá có chất lợng hơn.
* Chỉ tiêu số lợng lao động
Số lợng lao động trong công nghiệp - thủ công quốc doanh là toàn bộ những
ngời lao động trực tiếp và gián tiếp tham gia vào trong quá trình sản xuất kinh
doanh của các doanh nghiệp do doanh nghiệp trực tiếp quản lý và trả lơng.
Lao động trong các doanh nghiệp quốc doanh chủ yếu là lao động đợc Nhà
nớc tuyển dụng theo các hợp đồng dài hạn hoặc ngắn hạn, bao gồm :
- Lao động trực tiếp tham gia sản xuất.
- Cán bộ kỹ thuật và cán bộ quản lý.