Hình tượng ánh trăng trong thơ Hồ Chí Minh
Sau gần hai năm được học tập và nghiên cứu tại Trường đại học Bạc Liêu. Tôi
đã tích lũy được vốn kiến thức rất bổ ích cho bản thân. Từ đó giúp bản thân tôi có
nhiều tự tin hơn trong việc làm niên luận đúng theo yêu cầu của chương trình đào tạo
ngành Ngữ văn của Trường.
Niên luận 1 là bước đánh dấu đầu tiên sự tiếp cận và từng bước trưởng thành
của sinh viên ngành Ngữ văn trong giảng đường Đại học. Để phát huy khả năng
những gì mình đã học được và nghiên cứu kiến thức nhằm tạo đà cho việc thực hiện
niên luận 2 hay luận văn tốt nghiệp sau này.
Trong quá trình thực hiện niên luận, tôi đã gặp không ích những khó khăn có
nhiều lúc gần như sẽ bỏ cuộc nhưng nhờ có sự giúp đỡ, hướng dẫn, hỗ trợ và động
viên từ gia đình, từ quý thầy cô cùng các bạn đã tạo cho tôi thêm nhiều động lực thực
hiện niên luận này. Nhờ đó mà tôi đã hoàn thành được niên luận khá tốt đẹp. Đó là
niềm vui, niềm tự hào của tôi. Nay xin cho phép tôi được gửi lời cảm ơn sâu sắc và
chân thành đến:
Cha mẹ và những người trong gia đình đã dạy dỗ và nuôi dạy tôi khôn lớn cho
đến khi tôi bước chân vào giảng đường đại học, là những người luôn kề cận và chia sẻ
mỗi lúc tôi gặp khó khăn trong cuộc sống.
Cảm ơn trường Đại học Bạc Liêu. Lãnh đạo khoa sư phạm và tổ Ngữ văn, các
thầy cô bộ môn đã cung cấp những tri thức ở nhiều lĩnh vực. Xin cảm ơn các cô, chú,
anh, chị trong thư viện tỉnh Bạc liêu và các cô, chú, anh, chị trong thư viện trường Đại
học Bạc Liêu đã nhiệt tình cung cấp những tài liệu cho tôi trong suốt thời gian nghiên
cứu. Và không thể quên gửi muôn vàn lời cảm ơn thân thương nhất đến các bạn của
tôi những người luôn sẵn sàng chia sẻ, giúp đỡ tôi những lúc gặp khó khăn.
Cuối cùng xin gửi lời cảm ơn vô cùng sâu sắc và chân thành tới cô Hứa Bích
Thủy, là người đã tạo điều kiện và trực tiếp hướng dẫn đề tài. Trong thời gian làm
niên luận, cô đã tận tình hướng dẫn thực hiện đề tài, cô luôn quan tâm hết lòng, cung
cấp nhiều tri thức bổ ích, khoa học. Giúp tôi giải quyết các vấn đề nảy sinh trong quá
trình của mỗi người sẽ góp phần nhỏ vào việc tìm hiểu thơ Bác. Thơ của Hồ Chí Minh
nói chung cũng như “Hình tượng ánh trăng trong thơ Hồ Chí Minh” nói riêng thật sự
đã để lại nhiều sự chú ý của các độc giả, và các nhà nghiên cứu, phê bình cả trong và
ngoài nước. Từ trước đã có nhiều ý kiến đánh giá, nhận xét, tranh luận gây gắt nay
người viết tiếp tục phân tích, nghiên cứu thêm. Từ những lí do đó, người viết chọn đề
tài “Hình tượng ánh trăng trong thơ Hồ Chí Minh” với mong muốn tìm hiểu hình
tượng nghệ thuật nói chung cũng như hìng tượng ánh trăng trong thơ Bác.
2. Lịch sử vấn đề
Bàn về ánh trăng trong thơ Hồ Chí Minh thì có rất nhiều công trình nghiên cứu
có giá trị. Những tài liệu này giúp cho người viết niên luận có thêm cơ sở, có thêm
những định hướng ban đầu. Sau đây là những vấn đề mà người viết niên luận đã trích
lược được:
Năm 1979, trong quyển Chủ tịch Hồ Chí Minh nhà thơ lớn của dân tộc, Hà
Minh Đức đã tìm hiểu thơ Hồ Chí Minh “Cái đẹp nên thơ của thiên nhiên trong thơ
Người biểu hiện rõ rệt nhất trong vẻ đẹp của những đêm trăng. Thơ Hồ Chí Minh có
nhiều trăng. Trăng trong thơ Người tập trung vào hai thời kì sáng tác ở hai hoàn cảnh
đặc biệt. Trong cảnh tù đày, giữa căn phòng chật hẹp, tâm tối ngột ngạt, vầng trăng
là hiện tượng thiên nhiên duy nhất thường xuyên đến được với người tù. Trăng là biểu
tượng của vẻ đẹp thanh bình, của mơ ước tự do, của sự cảm thông thân thiết,… Trăng
trong thơ Hồ Chí Minh thường rất sáng, ánh sáng của trăng đêm rằm, của vầng trăng
thu. Vầng trăng thường trong và đẹp, Người không nói đến ánh trăng nhạt, mờ ảo của
vầng trăng khuyết, của ánh trăng non. Đó không phải là chuyện ngẫu nhiên, mà xuất
phát từ tấm lòng của người yêu thích những vẻ đẹp sáng trong, rực rỡ và không có
cảm hứng với cái mờ tối, lẫn lộn. Trăng trong thơ Hồ Chí Minh sáng đẹp, và không hề
gợn buồn”. [3; trang 162, 163,164] Trong thơ Bác trăng luôn luôn được trìu mến:
trăng là ánh sáng, là trong trắng, là mát mẻ, là thái bình, là hạnh phúc mơ ước của
con người, là niềm an ủi và cũng là tượng trưng cho tình chunh thủy, lòng trung thành
với hứa hẹn”.[4 trang 178] Ông đã nghiên cứu một cách khá đầy đủ về hình ảnh thiên
nhiên, tìm hiểu từng vẻ đẹp của ánh trăng trong thơ Hồ Chí Minh và ông cũng có so
sánh ánh trăng trong thơ Hồ Chí Minh với ánh trăng của một số nhà thơ khác. Nhưng
- Phạm vi nghiên cứu của đề tài tập trung chủ yếu vào tập thơ “Nhật kí trong
tù” và “Chùm thơ kháng chiến”
Ngoài ra trong quá trình nghiên cứu đề tài người viết còn tham khảo những
công trình nghiên cứu khác có liên quan góp phần hỗ trợ cho đề tài nghiên cứu được
rõ ràng, cụ thể, sinh động,…
4. Mục đích nghiên cứu
Đây là đề tài nghiên cứu khá hấp dẫn, để giải quyết các vấn đề đặt ra cần phải
tập trung vào những yêu cầu sau:
Thứ nhất người viết niên luận củng cố cơ sở lí luận của đề tài là hình tượng
nghệ thuật trong tác phẩm Văn học.
Thứ hai thông qua việc phân tích một số bài thơ trong tập thơ “Nhật kí trong
tù” và “Chùm thơ kháng chiến” người viết làm sáng tỏ đặc trưng của hình tượng ánh
trăng trong thơ Bác.
5. Phương pháp nghiên cứu
Để thực hiện đề tài người viết áp dụng các phương pháp ở các cấp độ nghiên
cứu chuyên ngành như:
- Phương pháp so sánh giúp người viết đối chiếu “Hình tượng ánh trăng trong
thơ Hồ Chí Minh” với hình tượng ánh trăng trong thơ cổ, trong thơ Đường cũng như
các nhà thơ khác của Việt Nam thuộc các thế hệ trước hoặc cùng thời.
- Phương pháp phân tích, chứng minh, bình giảng, tổng hợp đây là những
phương pháp cơ bản và phổ biến trong nghiên cứu văn học. Người viết đã vận dụng
các phương pháp này để phân tích, bình giảng, tổng hợp các đoạn các câu thơ, đồng
thời trích dẫn các đoạn, các câu thơ có tính chất tiêu biểu, điển hình để chứng minh cụ
thể nhằm làm sáng tỏ các luận điểm, luận cứ của mình trong niên luận.
6. Đóng góp của đề tài
Niên luận là công trình nghiên cứu thơ của Hồ Chí Minh từ góc nhìn hình
tượng nghệ thuật. Hoàn thành niên luận với khả năng còn hạn hẹp của một sinh viên,
người viết cũng cố gắng và hi vọng mang đến những đóng góp như sau:
Thứ nhất tìm hiểu đề tài là cơ hội tiếp cận, đi sâu hơn vào hình tượng nghệ
thuật trong tác phẩm văn học cũng như “Hình tượng ánh trăng trong thơ Hồ Chí
nghía, thưởng ngoạn, tưởng tượng. Đó có thể là một đồ vật, một phong cảnh thiên
nhiên hay một sự kiện xã hội được cảm nhận” .[1; trang 99] Hình tượng nghệ thuật có
thể tồn tại qua chất liệu vật chất, nhưng giá trị của nó bao giờ cũng ở phương diện tinh
thần. Người đọc không chỉ thưởng thức “cuộc đời thực” trong tác phẩm mà còn cảm
nhận được sự suy tư, lòng trắc ẩn và cả nụ cười ẩn trong cuộc đời thực ấy. Hình tượng
nghệ thuật thể hiện tập trung ở các giá trị nhân học và thẩm mĩ của nghệ thuật.
1.1.2. Hình tượng nghệ thuật trong tác phẩm văn học
Khác với các loại hình nghệ thuật khác, văn học lấy ngôn từ làm chất liệu để
xây dựng hình tượng. Vì vậy hình tượng nghệ thuật là hình tượng ngôn từ. Thông qua
hình tượng ngôn từ, tác phẩm đem đến cho người đọc “không phải là bức tranh đời
sống đứng yên mà luôn luôn sống động, lung linh, huyền ảo, vừa vô hình vừa hữu
hình, cụ thể đấy mà mơ hồ đấy như mặt trăng đáy nước, bóng người trong gương, như
không gian vốn ba chiều nay thu lại trong không gian hai chiều của hội họa, như một
mái chèo trên hai thước chiếu sân khấu mà tác giả đã vẫy vùng trước đại dương”.[2;
trang 144] Đến với nghệ thuật, ta như được chứng kiến, được sống cuộc sống trong
tác phẩm. Hình tượng nghệ thuật tái hiện đời sống, nhưng không phải là sao chép
nguyên bản những hiện tượng có thật, mà là tái hiện có chọn lọc, sáng tạo thông qua
trí tưởng tượng và tài năng của người nghệ sĩ, sao cho các hình tượng truyền lại được
ấn tượng sâu sắc, làm day dứt, trăn trở người khác. Do sử dụng chất liệu là ngôn từ
nên hình tượng nghệ thuật vừa có giá trị thể hiện những nét cụ thể, cá biệt không lặp
lại, vừa có khả năng khái quát, làm bộc lộ được bản chất của một loại người hay một
quá trình theo quan niệm của nghệ sĩ. Trong văn học những lời miêu tả, giới thiệu, gọi
tên đã tự nó có tính khái quát như nhà thơ Nguyễn Du đã giới thiệu nhân vật Thúy
Kiều:
“Kiều càng sắc sảo mặn mà
So bề tài sắc lại là phần hơn
Làn thu thủy nét xuân sơn
Hoa ghen thua thắm liễu hờn kém xanh”
(Nguyễn Du – Truyện kiều)
Như vậy, bản thân hình tượng cũng thể hiện tầm khái quát điển hình, xã hội,
trăng buồn. Một nhà thơ viết về trăng bậc thầy trong thời Đường không ai không nhắc
đến đó là nhà thơ Lý Bạch xây dựng ánh trăng khắc khoải thương tâm: “Tôi gửi lòng
buồn cho vầng trăng sáng, theo bạn đến thẳng vùng tây Dạ lang”. Với nhà thơ Lý
Bạch thì trăng luôn xuất hiện ở mọi nơi, trong mọi hoàn cảnh, khi mờ khi tỏ, khi
khuyết khi tròn, có khi hùng tráng, hiện ngang trên bầu trời nơi quan ải, như người
chiến sĩ canh gác quê hương. Cũng có lúc ánh trăng lại đa cảm như một thi sĩ cô đơn.
Hình ảnh ánh trăng trong thơ Đường luôn mang vẻ đẹp bình dị như người bạn
thân thiết, kẻ đồng hành trên từng bước đường phiêu bạt ngày đây mai đó. Vầng trăng
hiểu mọi tâm trạng, tâm tình thi sĩ, gần gũi, cảm thông và chia sẽ cùng những nỗi ưu
uất, tâm sự thầm kín. Nó phản ánh tâm hồn phong phú, lãng mạn, sâu đậm tình người.
Nỗi tri kĩ của thi sĩ với vầng trăng ngày càng được gắn bó trong những đêm làm thơ
và uống rượu. Men rượu, nỗi cô đơn và ánh trăng huyền ảo, tất cả hòa quyện vào nhau
thành những nỗi nhớ, những quên, những thực, những hư, những say, những tỉnh, lắng
động mãi vào sâu thẳm của tâm hồn thi sĩ. Dường như tạo hóa cho vầng trăng, ánh
sáng trong lành và hiện diện trong đêm để xoa diệu nỗi đau khổ, nỗi cô đơn thầm lặng
của con người, trăng làm bạn với một thân phận cô quạnh, sống ly biệt vợ con:
“Kim dạ Phu Châu nguyệt
Khuê trung chỉ độc khan.”
(Nguyệt dạ - Đỗ Phủ)
Khác với Lý Bạch và Đỗ Phủ, Bạch Cư Dị không dành vầng trăng cho mình.
Ông gửi vầng trăng soi ẩn tình của người trong cung cấm. Ánh trăng ấy là chứng nhân
cho cuộc đời bể dâu, trăng muôn đời vẫn lặng im tỏa sáng. Đối với Vương Duy là ánh
trăng bình thản, cô đơn. Còn trăng Đỗ Mục là trăng bàn bạc, nhạt nhòa.
Nhìn chung, cái đẹp của ánh trăng trong thi ca thời Đường cũng là cái đẹp của
giọt chia li, của lời than tuyệt vọng, của nỗi buồn cô đơn, của tiếng hờn lưu lạc. Trăng
được mời gọi làm chứng nhân của nội tâm sâu muộn, đắng cay.
1.2.2. Hình tượng ánh trăng trong thơ Việt Nam
Có thể nói, thơ Việt Nam là bước tổng hợp quan trọng giữa thơ Đường, thơ
lãng mạn phương tây với truyền thống thơ ca dân tộc, để xây dựng một nền thơ mới
có nhiều khả năng diễn đạt. Góp phần giải phóng bản ngã, mở rộng thế giới tâm hồn
Trăng mối lái phủ màng tơ ảo mộng.”
(Xuân Diệu – Xúc cảm)
Sự cách tân thi pháp đã làm thay cảm quan nhà nghệ sĩ. Bằng trực giác các nhà
thơ hiện đại không chỉ dựng lại ở sự rung động mà đã mã hóa theo cái nhìn chủ quan
của cảm giác. Vầng trăng trở thành hình tượng lung linh, kì ảo, rất đặc sắc “Trăng
mộng đã muôn đời thi sĩ. Giơ tay mơn trớn vẻ tràn đầy. Trăng hoa vàng lay lắt cạnh
bờ mây. Trăng đĩa ngọc giữa mâm trời huyền bí. Trăng của mắt, trăng của hồn rạng
tỏ. Trăng rất trăng là trăng của tình duyên. Trăng xa xôi trăng của hão
huyền…”(Xuân Diệu – Ca tụng). Các nhà thơ nhờ tưởng tượng phong phú, cảm xúc
mạnh đã làm thức nhọn giác quan. Chính vì vậy, nên trăng còn được mã hóa thành
biểu tượng của cảm giác hay vầng trăng được khắc họa bằng sự so sánh, sự nhân cách
hóa dựa trên liên tưởng, đã tạo nên sự chuyển nghĩa tích cực “Mới lớn lên Trăng đã
thẹn thò. Thơm như tình ái của ni cô” (Hàn Mặc Tử). Trăng không còn là trăng nữa
mà là một cô gái. Mùi hương trăng được mã hóa thành hương tình ái của ni cô. Một
nét gì đó không “thật” mà rất “ảo”. Phải chăng đó là tâm trạng của thi sĩ trước vẻ đẹp
của người yêu mà tác giả khao khát, tưởng tượng ra. Ở một gốc độ khác, vầng trăng
trong thi phẩm một số thi sĩ lại mang dáng dấp của chủ nghĩa tượng trưng và chủ
nghĩa siêu thực. Đó là cái tình “Bẽn lẽn”, “Đà Lạt trăng mờ”, “Đây thôn vĩ dạ” của
Hàn Mặc Tử, “Tranh lõa thể”, “Nghê thường” của Bích Khuê,…. Ánh trăng trong thơ
như một “linh vật” rất huyền nhiệm lạ kì, như thực thể linh hồn. Chừng như hơi thở,
bước đi, sự chuyển dịch của bóng trăng. Do đó, với mức nhạy cảm đặc biệt, người thi
sĩ đã hòa nhập cùng: say trăng, giỡn trăng, ôm ấp trăng, lúc nhìn trăng nằm sóng
soãi,…Ánh trăng sao như trùm lên cơ thể, như đồng hành, là hình là bóng:
“Áo ta rách rưới trời không vá
Suốt bốn mùa trăng mặc vải trăng”
Ngôn ngữ trong thơ mới còn phần nào ước lệ, khuôn sáo, giọng điệu thật táo
bạo, sáng tạo, có cách nhìn độc đáo về thiên nhiên. Ánh trăng đi từ sự ngạc nhiên này
đến sự ngạc nhiên khác, tạo sự hứng khởi diễm tuyệt. Sự cảm nhận thời khắc thiên
liêng, cả trời say nhuộm một màu trăng, sự tĩnh lặng của không gian gần như tuyệt đối
để xem “trời giải nghĩa yêu”. Sự huyền diệu của tạo hóa đã gặp tâm hồn nhạy cảm
(Chế Lan Viên – Mộng)
Tóm lại ánh trăng mang những nét đẹp diệu kỳ qua từng ngòi bút của các nhà
thơ. Nỗi trãi nghiệm trữ tình đã mang lại không gian mới, cả không gian nội tâm và
không gian ngoại cảnh. Không gian trăng đầy cảm xúc ấy được khắc họa từ thấp đến
cao, từ xa đến gần, tạo nên cảm xúc cứ dao động đột ngột đến hoảng sợ, làm cái tôi
càng cô đơn. Từ tơ trăng, sợi trăng, đến cung trăng rồi đường trăng…Và cuối cùng là
một tối trăng, một trời trăng. Sự “tràn trề”, “lênh láng”, “chan chứa” đến ngây ngất vì
trăng như một cách biểu đạt cho dòng chảy cảm xúc dâng trào. Các nhà thơ trong giai
đoạn này đã đem lại một thủ pháp nghệ thuật mới. Một không gian, thời gian của tâm
trạng cảm xúc luôn biến đổi, nhưng nó rất cô đọng, hàm súc của một cái tôi cá nhân.
Chương hai: HÌNH TƯỢNG ÁNH TRĂNG TRONG THƠ HỒ CHÍ
MINH
2.1. Hình tượng ánh trăng trong thơ Hồ Chí Minh
2.1.1. Khái quát về hình tượng ánh trăng trong thơ Hồ Chí Minh
Trăng là nguồn cảm hứng vô tận của biết bao nhiêu thi nhân từ xưa cho đến
nay, ánh trăng không chỉ mang lại vẻ đẹp cho thiên nhiên đất nước mà hơn thế, có
những lúc ánh trăng còn trở thành người bạn tri kỉ. Để các thi nhân chia sẻ buồn vui,
có lúc trăng như dòng suối mát làm tan đi những ưu phiền, mệt mỏi sau những giờ
phút căng thẳng. Bác của chúng ta cũng thế, cũng tìm đến trăng nhưng sự xuất hiện
trăng trong thơ Bác rất khác lạ so với bao thi nhân khác. Các thi nhân xưa thưởng thức
trăng ở những nơi thanh tịnh có rượu có hoa còn Bác thì ánh trăng xuất hiện trong
hoàn cảnh nghiệt ngã: trong nhà tù và trong hoàn cảnh chiến đấu rất bộn bề. Trong
những giờ phút vất vả với biết bao nhiêu công việc của đất nước hay những lúc trong
nhà tù tăm tối Bác cũng không hờ hững với trăng. Trăng như người bạn chia sẻ những
nhọc nhằn, giải tỏa bao nhiêu áp lực trong cuộc sống. Đối với Bác, ánh trăng như thể
hiện tất cả tâm hồn lạc quan, phong thái ung dung, lòng yêu thiên nhiên tha thiết. Ánh
trăng trong thơ Bác luôn thanh khiết, sáng trong nhưng hết sức giản dị. Trăng trong
thơ Bác như một ánh sáng, biểu hiện khát vọng tự do, dù hoàn cảnh ngắm trăng vô
cùng khắc nghiệt (trong tù) nhưng vầng trăng vẫn luôn đẹp lung linh, rực rỡ. Đó là
phẩm chất cao đẹp của người tù Hồ Chí Minh – một chiến sĩ cộng sản. Hơn thế nữa
2.1.2.1. Ánh trăng biểu tượng cho bức tranh thiên nhiên
Từ cổ chí kim, thiên nhiên luôn là niềm cảm hứng vô tận cho các thi nhân say
sưa thưởng thức, vẫy bút đề thơ. Dường như ở bất cứ nhà thơ nào cũng có viết về
thiên nhiên trong những tác phẩm của mình. Thơ thường hay “yêu cảnh thiên nhiên
đẹp” với “mây, gió, trăng, hoa, tuyết, núi sông,…”. Và trong thơ Bác cũng vậy, ngoài
tình yêu nước sâu nặng, tình thương người tha thiết, người chiến sĩ yêu nước Hồ Chí
Minh đã hướng tâm hồn mình vào thiên nhiên tạo hóa với bao tình yêu thương nồng
hậu. Hình ảnh thiên nhiên trong thơ Bác cao rộng, đẹp một cách hùng vĩ và rất thơ
mộng. Thiên nhiên mang kích thước của tâm hồn lớn “Chòm sao nâng nguyệt vượt lên
ngàn” sự bao la thăm thẳm của vũ trụ. Thiên nhiên trong thơ Bác chủ yếu được nói
đến ở hai hoàn cảnh đặc biệt. Một là khi người bị giam hãm trong tù ngục , cuộc sống
có lúc như hoàn toàn tách rời thiên nhiên. Lúc này, một vầng trăng bầu bạn, tiếng
oanh hót nhà bên, những tia nắng ban mai, đều xiết bao ấm cúng và thân thiết với
sinh hoạt và tình cảm của người tù. Hai là những bài thơ thiên nhiên được viết ra trong
cảnh rừng Việt Bắc. Tình yêu thiên nhiên trong thơ Người thật phong phú, trong sáng
và nhiều màu sắc. Tuy phải dồn sức tập trung vào đấu tranh chính trị nhưng Người
không hờ hững với cảnh thiên nhiên đẹp, hết sức hữu tình.
Có lẽ không có thi sĩ nào trên đời này ngắm trăng như Bác, mặc dù thiếu thốn
đủ mọi điều kiện, thân thể lại bị gông cùm vậy mà người vẫn đến được với trăng. Làm
sao có thể lãnh đạm, hờ hững được với vẻ đẹp của đêm trăng khi trong tù đầy bóng
tối, con người bị mất tự do:
“Trong tù không rượu cũng không hoa
Cảnh đẹp đêm nay khó hững hờ
Người ngắm trăng soi ngoài cửa sổ
Trăng nhòm khe cửa ngắm nhà thơ”
Một khung cảnh thiên nhiên giản dị mà chân thực. Trong cái bát ngát lung linh
của vầng trăng – khoảng trời, phải chăng con người lắng nghe và phát hiện ra được cái
chất vĩnh cửu trong chính bản thân mình, trong sự im lặng mênh mang và dịu hiền của
vầng trăng? Bác hồ của chúng ta rất yêu thiên nhiên, tâm hồn và thơ của người tràn
đầy ánh trăng, ánh trăng rất sáng, rất trong, rất đẹp. Yêu trăng là thế, Bác luôn hướng
thiên nhiên trong thơ Bác thì lại không gợn một án mây đen. Nó luôn là một ánh sáng
tuyệt vời, luôn hướng vào ánh sáng tương lai, luôn là một vầng trăng tuyệt đẹp.
2.1.2.2. Ánh trăng là người bạn, là chỗ dựa tinh thần
Bác làm thơ không phải để trở thành thi sĩ:
“Ngâm thơ ta vốn không ham
Nhưng vì trong ngục biết làm gì đây…”
Bác không thừa nhận mình là thi sĩ nhưng trước ánh trăng, Bác lại nhận là thi
nhân:
“Người ngắm trăng soi ngoài cửa sổ
Trăng nhòm khe cửa ngắm nhà thơ”
Thật sự Bác và trăng đã đến với nhau, hòa quyện vào nhau thành đôi bạn tri
âm, tri kỉ. Người hướng ra ngoài song sắt để đến với trăng, và trăng theo người tỏa
sáng vào trong tù. Con người và ánh trăng này rõ ràng là hết sức mới mẻ, hiện đại.
Trăng và Người như hai người bạn cùng nhau vượt qua cái song sắt tàn bạo, hoàn
cảnh khổ đau, ngăn trở của nhà tù. Người ngắm trăng và trăng cũng ngắm người,
ngắm là bởi hiểu nhau, tìm thấy ở nhau nhiều đồng cảm, những chuyện đồng điệu.
Giường như hai luồn ánh sáng, hai luồn mắt của Bác và Trăng chiếu vào nhau, lan tỏa
vào nhau, quyện lẫn vào nhau. Tưởng như có hai con người, hai vầng trăng tìm đến
nhau, hiểu nhau nói với nhau, an ủi, động viên nhau, nhắc nhở nhau. Trăng là người
bạn tri âm, tri kỉ của Bác, vì thế, trăng trở đi trở lại trong thơ Bác. Ngay trong lúc công
việc chiến đấu bề bộn, hình ảnh “ánh trăng” vẫn được Bác sử dụng:
“Rằm xuân lồng lộng trăng soi
Song xuân nước lẫn màu trời thêm xuân”
Quả thật ánh trăng là chổ dựa tinh thần của Bác, dù ở trong ngục tối bị xiềng
xích hay cuộc chiến bận rộn, vất vả, lo lắng cho đất nước, Bác vẫn dành thời gian để
đến với trăng, để tâm tình, để chia sẻ, để giải tỏa bao tâm sự nhọc nhằn mà có thêm
niềm tin, ung dung, sự lạc quan trong cuộc chiến:
“Giữa dòng bàn bạc việc quân
Khuya về bát ngát trăng ngân đầy thuyền”
2.1.2.3. Ánh trăng biểu tượng cho vẻ đẹp tâm hồn của người chiến sĩ cộng
người tù Hồ Chí Minh sáng tạo ra những vần thơ thể hiện mạnh mẽ nhất ý chí tự do
của con người “Những bài thơ Người viết trong tù chứa đầy ánh sáng dịu hiền và khát
vọng tự do”(Blaga Đimitrôva). Bác luôn hướng về tự do cho tổ quốc, “mơ tưởng sao
vàng năm cánh mộng hồn quanh”, phản ảnh tấm gương tiêu biểu của một chiến sĩ
cộng sản luôn hướng vè quê hương, hướng về ánh sáng của tương lai dân tộc “chòm
sao nâng nguyệt vượt lên ngàn”. Mặc dù mất tự do nhưng vẫn tin tưởng vào tương lai
tươi sáng của dân tộc, không chỉ khát vọng tự do cho bản thân mà Bác còn khát vọng
muốn giải phóng cho nhân dân mình thoát khỏi cảnh địa ngục trần gian.
b. Ánh trăng biểu tượng tinh thần lạc quan cách mạng
Hồ Chí Minh là một chiến sĩ cộng sản vĩ đại, một nhà thơ lớn. Những bài thơ
Bác kết tinh từ chủ nghĩa yêu nước truyền thống và chủ nghĩa nhân đạo của dân tộc ta,
những câu thơ được kết tinh từ tinh thần lạc quan vô bờ bến của chủ nghĩa anh hùng
cách mạng. Dù rằng ở đâu, hoàn cảnh khắc nghiệt như thế nào, vất vả như thế nào, Hồ
Chí Minh vẫn mang trạng thái ung dung, tự tại như khách tiên, vì chỉ cần thấp thoáng
một chút ánh trăng soi đến Bác cũng đủ để tâm hồn Hồ Chí Minh dạt dào thi hứng.
Sống trong nhà tù tăm tối, chật hẹp, tâm hồn người tù không quẩn quanh trong bốn
bức tường giam mà hướng ra bên ngoài để tìm ánh sáng, tìm niềm tin, tìm nghị lực.
Ánh trăng trong tù như một biểu tượng ánh sáng trong đêm tăm tối, ánh sáng của niềm
tin vào tương lai.
“Gà gáy một lần đêm chửa tan
Chòm sao nâng nguyệt vượt lên ngàn”
Thái độ của người chiến sĩ luôn trực tiếp đón nhận những nỗi gian khổ trên con
đường cách mạng. Với Hồ Chí Minh, sống trong cảnh khắc nghiệt, Người lại hướng
về tương lại. Sống trong cảnh con người với con người không còn tính đồng loại, Hồ
Chí Minh lại nghĩ đến thế giới người với người là bạn. Sống trong cảnh phải chứng
kiến những hành động dã man, bỉ ổi, Người lại luôn nghĩ đến mặt tốt của con
người…và có thể nói, chính nhờ thấy mặt thiện, mặt tốt, mặt tích cực, mặt lạc
quan…của cuộc sống và con người, Hồ Chí Minh mới đủ can đảm để sống và chiến