Đề tài “Nghiên cứu về hoạt động của nước dưới đất-tác động của bơm hút nước ngầm trên môi trường địa chất ở Nghệ An” - Pdf 11

TRƢỜNG ĐẠI HỌC VINH BÀI TẬP LỚN LỚP: 53K7QLTN&MT Trang: 1 SVTH NGUYỄN THANH PHONG

MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
Nhân loại đang đứng trước những triển vọng phát triển to lớn do tiến bộ khoa
học và công nghệ đem lại. Mặt khác lại đanh phải đối đầu với những vấn đề vô
cùng gay cấn về tài nguyên thiên nhiên thiên nhiên và môi trường. So sánh với
nhiều quốc gia trên thế giới, Việt Nam có nguồn tài nguyên nước lục địa khá đa
dạng và phong phú. Tuy nhiên với tiến trình gia tăng dân số, thâm canh công
nghiệp, đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa, đô thị hóa, tài nguyên và môi
trường nước lục địa của Việt Nam đang thay đổi hết sức nhanh chóng và đang đối
mặt với nguy cơ cạn kiệt về số lượng, ô nhiễm về chất lượng, tác động tiêu cực tới
cuộc sống của nhân dân và sự lành mạnh về sinh thái của cả nước.
Vấn đề đáng báo động là nguồn nước dưới đất của Việt Nam nói chung, Nghệ
An nói riêng đang đối mặt với vấn đề xâm nhập mặn trên diện rộng, ô nhiễm vi
sinh và ô nhiễm kim loại nặng nghiêm trọng, do khoan nước dưới đất thiếu quy
hoạch và không có kế hoạch bảo vệ nguồn nước. Nhiều nơi đã phát hiện dấu hiệu ô
nhiễm coliform vượt quy chuẩn cho phép từ hàng trăm đến hàng nghìn lần. Tình
trạng ô nhiễm phốt phát (P-PO4) cũng có xu hướng tăng theo thời gian.Công tác
điều tra đánh giá địa chất thủy văn nhằm thể hiện một cách tổng thể trữ lượng tiềm
năng nước dưới của tỉnh Nghệ An, đồng thời nêu lên hiện trạng khai thác và sử
dụng nước dưới đất trong địa bàn, trên cơ sở đó đề xuất phương án quy hoạch khai
thác và sử dụng hợp lý nguồn tài nguyên nước phục vụ các mục đích phát triển
kinh tế - xã hội.
Với những lý do trên tôi đã lựa chọn đề tài: “Nghiên cứu về hoạt động của
nước dưới đất-tác động của bơm hút nước ngầm trên môi trường địa chất ở Nghệ
An”.
2. Mục đích và mục tiêu nghiên cứu

trường địa chất ở tỉnh Nghệ An.
5. Quan điểm và phƣơng pháp nghiên cứu
5.1. Quan điểm nghiên cứu
 Quan điểm duy vật biện chứng : cho phép nhìn nhận sự vật hiện tượng
trong trạng thái vận động và phát triển,trong mối quan hệ biện chứng với sự
vật hiện tượng khác
 Quan điểm tổng hợp :giúp cho việc nhìn nhận đánh giá đối tượng nghiên
cứu một cách cụ thể,toàn diện.trong đề tài quan điểm tổng hợp được sử dụng
để trình bày ảnh hưởng của bơm hút nước ngầm lên môi trường địa chất để từ
đó đưa ra phương án xử lí và sử dụng hợp lý nguồn tài nguyên thiên nhiên
trong nước và địa phương.
TRƢỜNG ĐẠI HỌC VINH BÀI TẬP LỚN LỚP: 53K7QLTN&MT Trang: 3 SVTH NGUYỄN THANH PHONG

5.2. Phƣơng pháp nghiên cứu
Để thực hiện được mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu,tác giả đã sử dụng
nhiều phương pháp trong quá trình thực hiện đề tài như: Phương pháp điều tra, thu
thập số liệu , xử lý thông tin, thống kê, phân tích , so sánh qua đó,kế thừa nguồn
thông tin đầu để đưa ra những phân tích và đánh giá cho đề tài.
6. Bố cục đề tài
Đề tài gồm
 Phần mở đầu
 Phần nội dung (gồm 3 chƣơng)
 CHƢƠNG I: KHÁI QUÁT ĐẶC ĐIỂM TỰ NHIÊN-KINH TẾ,XÃ HỘI
Ở TỈNH NGHỆ AN
 CHƢƠNG II:HOẠT ĐỘNG CỦA NƢỚC DƢỚI ĐẤT VÀ TÁC ĐỘNG
BƠM HÚT NƢỚC NGẦM Ở TỈNH NGHỆ AN
A. Động lực ngoại sinh-hoạt động của nƣớc dƣới đất ở Nghệ An

 Phía tây giáp với nước Lào
 Phía đông giáp với Biển Đông.
 Nghệ An nằm ở Đông Bắc dãy Trường Sơn

Hình 1: Bản đồ Hành chính tỉnh Nghệ An
 Diện tích: 16.487 km
2

 Dân số: 2.915.055 người
 Dân tộc: Việt (Kinh), Khơ Mú, Sán Dìu, Thái, H'Mông, Ơ Đu, tộc người
Đan Lai
TRƢỜNG ĐẠI HỌC VINH BÀI TẬP LỚN LỚP: 53K7QLTN&MT Trang: 5 SVTH NGUYỄN THANH PHONG

 Tỉnh lỵ: Thành phố Vinh
 Huyện thị: Thị xã Cửa Lò, Thị xã Thái Hòa và 17 huyện, Diễn Châu,
Quỳnh Lưu, Yên Thành, Đô Lương, Nghi Lộc, Hưng Nguyên, Nam Đàn,
Thanh Chương, Tân Kỳ, Anh Sơn, Con Cuông, Nghĩa Đàn, Quỳ Hợp, Quỳ
Châu, Quế Phong, Tương Dương, Kỳ Sơn
2. Địa hình
Địa hình Nghệ An đa dạng, phức tạp, có đầy đủ các dạng địa hình: Đồi núi,
đồng bằng và biển
Địa hình đồi núi chiếm 86% diện tích tự nhiên của tỉnh, bị chia cắt mãnh liệt,
nghiêng dốc mạnh từ Tây sang Đông, nhiều dãy núi dài, nhiều khối núi cao, khe
sâu, sông suối chằng chịt, thì thoảng có vài dải đât hẹp ở thượng lưu sông Con, sông
Cả. Trong đó, địa hình núi thấp và trung bình chiếm ưu thế,tập trung ở Thanh
Chương, Con Cuông, Tương Dương…
Địa hình đồng bằng tích tụ có diện tích nhỏ, chiếm 14% diện tích tự nhiên của

Giăng,sông Đào, sông Hiếu và một số khe suối nhỏ khác, có nước chảy quanh
năm. Ngoài ra còn có 210 hồ, đập và 35 trạm bơm. Nguồn nước khai thác chủ
yếu để tưới cho lúa.
 Nguồn nước ngầm: Nguồn nước dồi dào,mực nước ngầm trung bình từ 3-
7m, riêng các xã ở huyện Kỳ Sơn 10-12m, về mùa khô có thể đến 20m. Chát
lượng nước khá tốt, đây là nguồn nước dự trữ quan trọng phục vụ cho nhu cầu
sinh hoạt đời sống của nhân dân.
Nước dưới đất trên toàn tỉnh Nghệ An có tổng trữ lượng khai thác tiềm năng
đạt 21.223.000 m
3
, phân bố trong nhiều tầng chứa nước và có nhiều cấp độ trữ
lượng khác nhau có thể khai thác phục vụ cho các mục đích dân sinh và phát triển
nông nghiệp. Sử dụng nguồn nước dưới đất có thể đáp ứng được 60% nhu cầu dùng
nước.
Dải ven biển từ Quỳnh Lưu đến Cửa Hội có trữ lượng nước dưới đất kém
phong phú, chỉ phục vụ một phần cho tưới và sinh hoạt. Vùng Vinh, Cửa Lò, Hưng
Nguyên có trữ lượng nước lợ khá dồi dào, đạt 58.140 m
3
/ng có thể khai thác phục
vụ nuôi trồng thuỷ hải sản.
TRƢỜNG ĐẠI HỌC VINH BÀI TẬP LỚN LỚP: 53K7QLTN&MT Trang: 7 SVTH NGUYỄN THANH PHONG

Nước dưới đất ở Nghệ An chủ yếu được khai thác phục vụ cho mục đích nông
nghiệp và dân sinh. Trong nông nghiệp, nước được dùng theo nhiều quy mô khác
nhau, trong đó tưới mang tính tập trung chỉ có một số vùng như Bãi Ngang (Quỳnh
Lưu), Diễn Thịnh, Diễn Hùng (Diễn Châu), Nghi Thạch, Nghi Ân (Nghi Lộc) và
một vài nông trường. Diện tích tưới cho vùng ven biển: 654,3 ha, Diễn Châu: 303

6.400
pq2
21.000
3.738
Sinh hoạt, tưới,
công nghiệp
Cửa Lò
2.800
qh2
11.083
2.102
Tưới rau màu
Bãi Ngang -
Quỳnh Lưu
3.683
qh2
8.805
2.318
Sinh hoạt, tưới
rau màu
Đô Lương -
Diễn Châu
65.800
qC-P bs
10.250
11.800
Sinh hoạt, nông
nghiệp
Đông Nghi
Lộc

2.648
C-P bs
5.796
5.605
Nông nghiệp và
sinh hoạt
Trữ lƣợng nƣớc dƣới đất
 Phần nƣớc nhạt
 Vùng 1 - Nam Đàn: Trong vùng này, đối tượng chứa nước triển vọng nhất
là tầng Pleistocen hạ - trung (qp1-2). Kết quả thăm dò cho thấy tại lỗ khoan Nam
Trung nước dưới đất có lưu lượng 1.078,27 m3/ngày, tỷ lưu lượng đạt 3,86 l/s.m, độ
tổng khoáng hóa 0,154 g/l. Trữ lượng đánh giá trên diện tích 70 km2 đạt cấp C1:
6706,37 m3/ngày và cấp C2: 252.000 m3/ngày(*Gần đây, Bộ Tài nguyên và Môi
trường đã đưa ra “Quy định mới về phân cấp trữ lượng và tài nguyên khoáng sản
rắn” (xem TCĐC số A/294). Đối với tài nguyên nước chưa có quy định gì, nên
chúng tôi tạm giữ nguyên cách dùng của tác giả (BBT).
Để khai thác sử dụng nước dưới đất có thể bố trí các công trình khai thác dọc
theo dải cát, sỏi qp1-2 ở các xã Nam Lạc, Nam Long, Nam Hùng, Nam Tiến và dọc
theo Sông Cả để tăng cường trữ lượng lôi cuốn khi khai thác. Chiều sâu các lỗ
khoan từ 40 đến 60 m. Công suất dự kiến mỗi công trình là 1.000 - 3.000 m3/ngày
hoặc có thể tới 5.000 m3/ngày (trong 7 lỗ khoan trữ lượng cấp C1, có 5 lỗ khoan có
lưu lượng khi bơm hút thí nghiệm đạt 1.000 - 1.500 m3/ngày, nhưng độ hạ thấp chỉ
từ 1,2 đến 3,86 m). Đây là đối tượng có khả năng nhất cung cấp nước cho Tp. Vinh,
vì khoảng cách từ Vinh đến vùng điều tra chỉ trên 20 km. Vì vậy, cần đầu tư thăm
dò để đánh giá chính xác và nâng cấp trữ lượng khai thác.
Đối với tầng chứa nước Orđovic thượng - Silur hạ, hệ tầng Sông Cả (O3-S1
sc), trong phạm vi đánh giá 26 km2 kết quả cấp C1 + C2 là 24.376 m3/ngày.
 Vùng 2 - Vinh, Cửa Lò: Đối tượng có triển vọng nhất là tầng chứa nước
Holocen trung (qh2) và O3-S1 sc.
Tầng qh2 (diện tích bao phủ khoảng 200 km2) đã được thăm dò trên 45 km2

 Vùng 5 - Quỳ Hợp, Nghĩa Đàn: Đối tượng có khả năng cấp nước là tầng
chứa nước Đệ tứ (q), phân bố ven các sông, tầng qh2, T2a đt2 và tầng Carbon -
Permi, hệ tầng Bắc Sơn (C-P bs). Trữ lượng trong các tầng chứa nước được xếp vào
cấp C2 cụ thể là tầng q (phạm vi 18 km2): 40.770 m3/ngày, qh2 (phạm vi 50 km2):
40.907 m3/ngày, T2a đt2 (phạm vi 150 km2): 33.318 m3/ngày, C-P bs (phạm vi
TRƢỜNG ĐẠI HỌC VINH BÀI TẬP LỚN LỚP: 53K7QLTN&MT Trang: 10 SVTH NGUYỄN THANH PHONG

350 km2): 129.465 m3/ngày. Có thể khai thác bằng các lỗ khoan có độ sâu 25 - 50
m đến trên 100 m. Năng suất của mỗi công trình dự kiến là 100 - 1.000 m3/ngày.
 Vùng 6 - Đô Lƣơng - Diễn Châu: Trong vùng này đối tượng chứa nước
chính là tầng q và C-P bs. Trữ lượng nước xác định được ở cấp C2 cho tầng C-P bs
(phạm vi 290 km2) đạt 247.576 m3/ngày và tầng q trên diện tích 150 km2 đạt
224.911 m3/ngày.
Như vậy, trên địa bàn tỉnh Nghệ An, nước nhạt dưới đất đã được thăm dò đánh
giá theo các cấp trữ lượng trên tổng diện tích 1.147 km2 cho thấy cấp B: 3.096
m3/ngày, cấp C1: 17.619 m3/ngày và cấp C2: 1.010.000 m3/ngày.
 Phần nƣớc mặn và lợ
Nước mặn và lợ phân bố chủ yếu ở dải ven biển từ Quỳnh Lưu, Yên Thành,
Diễn Châu, Nghi Lộc đến Hưng Nguyên. Do bị ảnh hưởng của thủy triều, nước biển
cũng như quá trình thành tạo, nước ngầm mặn và lợ thường phân bố ở tầng sâu và
vùng cửa sông ven biển.
Theo Hoàng Văn Khổn, trữ lượng tiềm năng khai thác đã tính cho tầng qp2
vùng Vinh, Cửa Lò, Cửa Hội là 58.140 m3/ngày. Có thể khai thác bằng các lỗ
khoan sâu khoảng 40 - 80 m bố trí theo dãy dọc bờ biển với lưu lượng lỗ khoan đặt
150 - 700 m3/ngày.
II. ĐẶC ĐIỂM KINH TẾ XÃ HỘI
1. Dân cƣ

tế Nậm Cắn (Kỳ Sơn) và Cửa khẩu Quốc gia Thanh Thủy (Thanh Chương
2.2. Hệ thống điện
Điện lưới Quốc gia đã phủ hết 19 huyện, thành, thị trong tỉnh. Hàng năm cung
cấp khoảng 780 – 790 triệu KW và từ 1,5 đến 1,8 tỷ KW đến năm 2010. Nhiều công
trình thủy điện đang và sắp tới sẽ khởi công xây dựng như NM thủy điện Bản Vẽ,
Khe Bố, Nậm Cắn 1 , Nậm Cắn 2, Bản Cốc, Nhạn Hạc và còn khoảng 7 – 8 Nhà
máy thủy điện vừa và nhỏ khác trên lưu vực sông Cả, sông Hiếu, sông Giăng đang
kêu gọi đầu tư. Hiện tại nguồn điện đảm bảo cung cấp điện ổn định cho sản xuất và
sinh hoạt.
2.3. Hệ thống cấp nƣớc
TRƢỜNG ĐẠI HỌC VINH BÀI TẬP LỚN LỚP: 53K7QLTN&MT Trang: 12 SVTH NGUYỄN THANH PHONG

Hiện tại nước cung cấp đủ cho các cơ sở sản xuất công nghiệp và nông nghiệp
nhờ hệ thống sông ngòi, hồ, đập có ở Nghệ An nhiều và lượng mưa hàng năm tương
đối cao so với cả nước. Riêng nước sinh hoạt đô thị và các khu công nghiệp đều có
hệ thống Nhà máy nước đảm bảo đủ cung cấp. Nhà máy nước Vinh công suất
60.000 m3/ ngày, hàng năm cung cấp gần 18,5 triệu m3 nước sạch cho vùng Vinh
và phụ cận, đang chuẩn bị nâng công suất lên 80.000 m3/ ngày . Ngoài 13 Nhà máy
nước ở các thị xã và thị trấn đang hoạt động, đến năm 2007 sẽ nâng công suất Nhà
máy nước Quỳnh Lưu và xây dựng thêm 5 Nhà máy nước ở các thị trấn Yên Thành,
Nam Đàn, Quế Phong, Tương Dương, Kỳ Sơn cùng với hệ thống nước sạch ở nông
thôn đảm bảo đủ cung cấp cho 85 – 90% số dân và 100% cơ sở sản xuất công
nghiệp.
2.4. Hệ thống thông tin liên lạc
Cơ sở vật chất và mạng lưới Bưu chính viễn thông hiện đại, với đầy đủ các
loại hình dịch vụ có thể đáp ứng nhanh chóng nhu cầu trao đổi thông tin, liên lạc
trong nước và quốc tế

CHƢƠNG II: HOẠT ĐỘNG CỦA NƢỚC DƢỚI ĐẤT VÀ TÁC ĐỘNG
BƠM HÚT NƢỚC NGẦM Ở TỈNH NGHỆ AN
A. ĐỘNG LỰC NGOẠI SINH - HOẠT ĐỘNG CỦA NƢỚC DƢỚI ĐẤT
1. Hoạt động của nƣớc dƣới đất
Khái niệm: Luật Tài nguyên nước Việt Nam (1998, điều 3) định nghĩa: Nước
dưới đất là nước tồn tại trong các tầng chứa nước dưới mặt đất. Nước dưới đất chứa
trong các lỗ hổng, khe nứt, hang động ngầm kích thước khác nhau, tồn tại ở ba trạng
thái rắn, lỏng, khí và có thể chuyển đổi từ trạng thái này sang trạng thái kia.
Nước dưới đât là một loại động lực ngoại sinh đáng chú ý về các mặt:rửa
rũa,hòa tan,xói ngầm,vận chuyển và tích tụ vật liệu.Nước dưới đất cũng tham gia
tích cực vào hoạt động phong hóa như oxi hóa,hydrat hóa,thủy phân.
1.1. Hoạt động rửa lũa
Khái niệm: Nước dưới đất thường có hoạt tính hóa học cao vì thường chứa
các ion SO42-, HCO3-,Cl- .Khi nhảy len lỏi trongkhe nứt hay lỗ hổng của đá,nước
dưới đất có thể rửa rũa đất đá và khoáng vật.Rửa rũa là hòa tan có chọn lọc các
ion,các hợp chất linh động và hoà tan một số hợp phần dễ hoà tan của đất đá như
natri clorua (NaCl), kali clorua (KCl) sau đó là canxi sunfat (CaSO4) và canxi
cacbonat (CaCO3), khiến các hợp phần đó bị cuốn theo nước chảy hoặc nước ngầm
và có thể để lại bộ khung kém linh động
Kết quả: nước dưới đất có độ khoáng cao,nhất là giàu nguyên tố hiếm và
nguyên tố vết
1.2. Hoạt động hòa tan
Khái niệm: Nước dưới đất có khả năng hòa tan 1 số kim loại khoáng vật và đá
như thạch anh,muối mỏ…
-Ví dụ:
Nước hòa tan đá vôi bằng cách chuyển Cacbonat Canxi thành Ca(HCO
3
)
2


độ của nước cũng ảnh hưởng tới quá trình kasrt hóa,nhiệt độ càng cao
thì phản ứng hòa tan đá càng nhanh.
- Nước phải vận động để đảm bảo cho phản ứng hoa tan đất đá xảy ra
liên tục,không bị bão hòa,lớn đất đá liên tục bị hòa tan và cuốn đi.
Biện pháp phòng chống: trước khi dựng cần khảo sát kĩ,tránh xây dựng nơi có
địa hình kasrt
Kết quả: tạo thành các hang động.hồ ngầm…
1.3. Hoạt động xói ngầm
Khái niệm: là hoạt động của nước ngầm lôi cuốn các hạt rất nhỏ(sét,bụi,cát)
chảy qua cá lỗ hổng giữa các hạt lớn hay các khe nứt trong tầng trầm tích bỏ rời
hoặc nước ngầm hòa tan muối khoáng trong tầng trầm tích nên tạo ra các lỗ hổng,
các khe rãnh ngầm
Điều kiện phát sinh xói ngầm
- Đất không đồng nhất về kích thước hạt
- Tồn tại một miền xả vật liệu xói ngầm
- Áp lực thủy động dòng thấm lớn hơn giá trị giới hạn
TRƢỜNG ĐẠI HỌC VINH BÀI TẬP LỚN LỚP: 53K7QLTN&MT Trang: 16 SVTH NGUYỄN THANH PHONG

Khu vực hoạt động: trong các tầng cát sét hay bột sét nguồn gốc vũng vịnh
hay biển(giàu muối khoáng)
Kết quả: gọi là hiện tượng karst sét ( gần giống hiện tượng Karst)
Biện pháp phòng chống: hạn chế hay chấm dứt quá trình thấm nước dưới đất
như điều tiết dòng nước mặt và dòng nước dưới đất,gia cố đất đá giảm áp lực dòng
thấm,tăng lực liên kết,giảm tính thấm của đất đá,triệt tiêu miền xả vật liệu gói ngầm
1.4. Tích tụ vật liệu
Khái niệm: các chất hòa tan bị kết tủa lại làm nước dưới đất lộ lên trên mặt đất
( sẽ giảm áp suất ,giảm lượng CO

nước dưới đất từ lòng đất. Đó là chưa kể việc khoan sâu không theo qui hoạch đã
làm suy yếu địa tầng cấu trúc đô thị, gây ảnh hưởng khôn lường đến các công trình
xây dựng. Và khi nguồn nước đã cạn kiệt, chi phí và năng lượng để sản xuất nước
sạch cho đô thị sẽ ngày một cao, những giọt nước sẽ trở nên vô cùng quí hiếm.
Vậy là các đô thị đang phải đối mặt với một tình trạng thật trớ trêu. Sự khan
hiếm nước nặng nề và tình trạng ngập lụt đường phố mỗi khi có những cơn mưa rào
xối xả. Thống kê sơ bộ cho thấy, lượng nước khai thác sử dụng cho các đô thị từ vài
trăm đến hàng triệu m3/năm, trong đó khoảng 50% nguồn nước cung cấp cho các
đô thị được khai thác từ nguồn nước ngầm . Nguồn nước ngầm được khai thác nằm
ngay trong đô thị hoặc ven đô thị. Chỉ tính riêng Hà Nội, hiện mỗi ngày khai thác
khoảng 800.000 m
3
(khoảng 300 triệu m
3
/năm); TP.HCM khai thác khoảng 500.000
m
3
(khoảng 200 triệu m
3
/năm). Các đô thị khu vực đồng bằng Nam bộ cũng đang
khai thác khoảng 300.000 m
3
/ngày (110 triệu m
3
/năm).
Các kết quả nghiên cứu quan trắc mới nhất cho thấy, tại một số đô thị lớn như
Hà Nội, TP.HCM, Hải Phòng, Hòn Gai, Vinh, Cà Mau, Sóc Trăng, Bạc Liêu…
nguồn nước ngầm đang có những dấu hiệu cạn kiệt, ô nhiễm, nhiễm mặn. Mực
nước của các tầng chứa nước khai thác bị hạ thấp liên tục theo thời gian. Điển hình
như Hà Nội, mực nước tầng chứa Pleistoxen hạ thấp với tốc độ 0,4 m/năm;

trong khu vực.
Nguồn nước ngày càng ô nhiễm: ngoài lún sụt bề mặt, do bị khoan và khai
thác bừa bãi, nguồn nước ngầm ngày càng ô nhiễm. Đặc biệt là các giếng đã khai
thác xong hoặc không sử dụng, lại không được trám lấp càng gây ô nhiễm nghiêm
trọng cho nguồn nước, bởi các chất độc hại như amoni, thạch tín, nước rác, nước
thải sẽ theo các giếng này xâm nhập vào lòng đất. Ở nhiều nơi, chất lượng nước
ngầm không ổn định. Có lúc hàm lượng các chất độc hại trong nước khi xét nghiệm
bảo đảm mức cho phép, nhưng ngay sau đó cũng loại nước đó khi xét nghiệm lại
cho các chỉ số cao hơn mức cho phép nhiều lần, khiến cho công tác quản lý chất
lượng nước rất khó khăn. Ghi nhận thực tế tại các khu vực phía Nam thành phố cho
thấy, tầng chứa nước Haloxen bắt đầu nhiễm Amoni, vi sinh vật và các vi nguyên tố
khác. Nhiều khu vực trong thành phố, ở cả 2 tầng chứa nước đang khai thác, hàm
lượng sắt, măng-gan, các hợp chất nitơ đều vượt quá giới hạn cho phép. Đặc biệt, ở
tầng thứ nhất, các chất bẩn đã bắt đầu xuất hiện do nước thải, chất thải và phân bón
xâm nhập. Hiện nay, nhiều hộ dân sử dụng nước ngầm ở khu vực phía Nam thành
TRƢỜNG ĐẠI HỌC VINH BÀI TẬP LỚN LỚP: 53K7QLTN&MT Trang: 19 SVTH NGUYỄN THANH PHONG

phố như Thanh Trì, Hoàng Mai, Hai Bà Trưng đều phải trang bị hệ thống lọc mới
có thể sử dụng trong sinh hoạt.
Bảng 2. Các biện pháp khai thác sử dụng nƣớc ngầm ở Nghệ An
Stt
Vùng khai
thác
Tầng
khai thác
Hình thức bố trí
công trình khai

O
3
-S
1
sc
- Khoan dọc sông
Cả
- Khoan giếng
40 ÷ 60
80 ÷ 100
1000 ÷ 5000
100 ÷ 3.500
3
Hoàng Mai
T
2
a

đt
2

Giếng khoan
(trong đới đập nát
hoặc karst)
80 ÷ 100
500 ÷ 2.000
4
Bãi Ngang
qh
2

Đô lương -
Diễn Châu
q
C-P bs
Giếng đào, giếng
khoan dọc bờ
biển
20 ÷ 60
50 ÷ 70
120 ÷ 1000
150 ÷ 1.000
Theo thống kê năm 2004, toàn tỉnh Nghệ An có hơn 59.000 giếng khoan và
460.000 giếng đào cấp nước cho 2,6 triệu người. Phần lớn các công trình khai thác
không đảm bảo yêu cầu kỹ thuật quy định, nhất là giếng đào ( chỉ đạt yêu cầu 47%),
nước khai thác sử dụng không qua xử lý, chất lượng nước không đạt tiêu chuẩn vệ
sinh. Trong khi đó, các cơ quan chức năng chưa có các biện pháp quản lý và quy
hoạch cụ thể.
Nghệ An đang thực hiện nhiều giải pháp nhằm bảo vệ tốt tài nguyên nước
tại 4 huyện ven biển là Quỳnh Lưu, Diễn Châu, Nghi Lộc và Cửa Lò. Đây là những
địa phương có nguy cơ cao về nhiễm mặn và ô nhiễm môi trường nước.
TRƢỜNG ĐẠI HỌC VINH BÀI TẬP LỚN LỚP: 53K7QLTN&MT Trang: 20 SVTH NGUYỄN THANH PHONG

UBND tỉnh giao các Sở Tài nguyên và Môi trường, Nông nghiệp và Phát triển
nông thôn, Du lịch, các công ty cấp nước quy hoạch cụ thể vùng khai thác nước ở
các huyện ven biển; yêu cầu các doanh nghiệp và hộ dân sử dụng nguồn nước ngầm
một cách hợp lý; hạn chế tối đa việc khai thác, sử dụng nước dưới đất. Tất cả tổ
chức, cá nhân đang kinh doanh dịch vụ du lịch, khách sạn, nhà hàng, cơ sở sản xuất,

nhiễm; chất lượng nước không đảm bảo. Cửa Lò là trung tâm du lịch của Nghệ An,
hàng năm lượng khách đến du lịch đông. Một trong những điều lo ngại nhất của du
khách là chất lượng nguồn nước không đảm bảo vì nước sử dụng để sinh hoạt được
lấy từ các giếng khoan khai thác một cách tự do dưới lòng đất; trong khi hệ thống
nước thải hàng ngày của các gia đình, các khách sạn, nhà hàng được xả thẳng và
thẩm thấu dưới đất, gây ô nhiễm môi trường nước.
Ông Nguyễn Hữu Luận, Giám đốc Công ty cấp nước Cửa Lò cho biết, hiện
nay thị xã Cửa Lò đã có nhà máy cấp nước sạch công suất 3.200 m3/ngày đêm, với
công nghệ hiện đại, đáp ứng được nhu cầu nước sạch cho người dân và các đơn vị
trên địa bàn. Trong năm 2007, cùng với đầu tư xây dựng đường ống dẫn nước đến
những khu vực chưa được lắp đặt, Công ty cũng sẽ đổi mới phương thức phục vụ,
nâng cao chất lượng nguồn nước, hạ giá bán nhằm phục vụ tốt nhất nguồn nước
sạch cho nhu cầu của thị xã.
1.2. Giải thích cơ chế nén chặt các lớp trầm tích trong bồn nƣớc ngầm

TRƢỜNG ĐẠI HỌC VINH BÀI TẬP LỚN LỚP: 53K7QLTN&MT Trang: 22 SVTH NGUYỄN THANH PHONG

Hình 2: Giải thích cơ chế nén chặt các lớp trầm tích trong bồn nƣớc ngầm
Cơ chế sụt lún đất do khai thác nƣớc ngầm
- Xét một điểm B trong bồn nước ngầm. Ở điều kiện ban đầu B chịu áp lực
địa tĩnh P gây ra do tải trọng đất đá nén từ trên xuống vầ áp lực Pw hướng từ
dưới lên trên . Pw chính là chiều cao của cột nước đè lên B . B ở trạng thái
ban đầu sẽ chịu một ứng suất hữu hiệu Pe1 hướg từ trên xuống .
Pe
1
= P – Pw
- Pe

thì dù nước ngầm có dang cao cũng không làm lớp trầm tích bị nén chặt trở nên
TRƢỜNG ĐẠI HỌC VINH BÀI TẬP LỚN LỚP: 53K7QLTN&MT Trang: 23 SVTH NGUYỄN THANH PHONG

trương lại. Vì vậy, sự hạ lún mặt đất có thể chấm dứt nhưng mặt đất không thể nâng
cao trở lại. Hình 3: Vƣờn nhà bà Phạm
Thị Lan (xóm Tân Sơn - xã
Quang Thành, huyện Yên
Thành) chiều 20/1 bỗng nhiên
bị sụt sâu xuống 6 m
Hiện nay do tốc độ phát triển kinh tế xã hội, CN hóa nhanh chóng, dân số tăng
nhanh trong khi điều kiện nhận thức của con người đang còn hạn chế, tình trạng
khai thác nước ngầm phục vụ cho nhiều nhu cầu ngày càng gia tăng, ở nhiều nơi đã
diễn ra tình trạng khai thác nguồn nước ngầm trái phép, khai thác không tuân thủ
đúng quy trình quy phạm dẫn đến nguồn nước ngầm đang đưng trước nguy cơ bị
ảnh hưởng nghiêm trọng, tác dụng ngược lại đến môi trường sống của chúng
ta.Việc khai thác nước ngầm một cách bừa bãi không theo quy hoạch cẩn thận trên
cơ sở đó xét một cách toàn diện các ảnh hưởng và tác động qua lại giữa việc khai
thác nước ngầm và môt trường địa chất là:
Môi trƣờng nƣớc ngầm
- Nước mặt là nguồn cung cấp nước cơ bản cho nước ngầm, vì thế sự ô
nhiễm nước mặt sẽ dẫn đến ô nhiễm các tầng nước ngầm
- Quá trình thi công đóng cọc, khoan, đào móng và trụ cầu… gây thủng
tầng đất mặt làm cho có sự thay đổi trực tiếp giữa nước mặt bị ô nhiễm và
nước ngầm, gây ô nhiễm tầng nước ngầm
LỚP: 53K7QLTN&MT Trang: 25 SVTH NGUYỄN THANH PHONG

Máy móc thi công hoạt động ở khu vực sát mép nước sẽ gây nhiễu loạn dòng
nước ở bờ sông.
Việc phá dỡ lớp cây cỏ và lớp đất màu sẽ làm mất thảm thực vật, trôi các trầm
tích và các chất hữu cơ xuống nước, gây nhiễu loạn, tắc nghẽn dòng chảy… ảnh
hưởng tới các thủy sinh vật , gây thiệt hại tài nguyên thủy sản.
Việc nổ mìn dưới nước sẽ gây mất ổn định trong mặt cắt của dòng nước tạo ra
các mảnh vụn và các hạt trầm tích, gây hại thủy sinh vật
Việc làm đê quai có thể làm xói lở, lắng đọng.
Chất thải trong quá trình thi công rơi xuống gây tắc nghẽn, ô nhiễm dòng
nước.

Hình 5:Xây dựng cầu
 Xe dã ngoại
Xe dã ngoại là loại xe cơ giới không cần đường(mô tô, ô tô, xe xích). Các
loại xe này khi vận hành thường cày xới mặt đất, phá nát thảm thực vật, tạo ra khe

Trích đoạn Giải pháp bảo vệ tài nguyên nƣớc dƣới đất cho phát triển đô thị
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status