Dịch vụ ngân hàng quốc tế – giải pháp hoàn thiện và phát triển trong hệ thống các ngân hàng thương mại quốc doanh Việt Nam- chương 1 - Pdf 11

Chơng I
Những vấn đề cơ bản về dịch vụ ngân hàng quốc tế
I . tổng quan về dịch vụ ngân hàng quốc tế
1. Đôi nét về lịch sử ngân hàng và dịch vụ ngân hàng
Thuật ngữ "ngân hàng" đã có từ lâu. Tại thành Athène (Hylạp), các nhà
đổi tiền đợc gọi Trapezita - bắt nguồn từ tiếng Hy Lạp "Trapeza"có nghĩa là cái
bàn. Hoạt động mua bán, trao đổi, vay tiền đợc tiến hành trên các ghế dài gọi là
Banca. Đây cũng là nguồn gốc tạo các từ Banque (Pháp), Bank (Anh, Mỹ, Đức),
Banco (Italia) . có nghĩa là ngân hàng sau này.
Ngân hàng liên tục phát triển theo điều kiện kinh tế xã hội. Các nghiệp
vụ ngân hàng đơn giản đã xuất hiện từ thời thợng cổ. Dới thời Trung cổ, các
hoạt động ngân hàng đợc mở rộng tại khắp các nớc Châu Âu, Trung đông,
Trung Hoa. Tuy hoạt động ngân hàng xuất hiện từ lâu, nhng mãi đến đầu thế kỷ
XV (1401), mới có một cơ quan trên thế giới đợc xem là một ngân hàng thực
sự, đó là Banca di Barcelone ở Tây ban nha. Và sau đó ít năm, ngân hàng Banca
di Valencia cũng đựơc thành lập ở Tây ban nha. Hai ngân hàng này đợc coi là
hai ngân hàng đầu tiên trên thế giới đã thực hiện phần lớn các nghiệp vụ của
ngân hàng hiện nay tuy qui mô và mức độ có khác nhau. Trớc thế kỷ 17 hoạt
động ngân hàng chỉ là buôn tiền, cho vay nặng lãi là chủ yếu và khách hàng
chính là vua chúa và tầng lớp quí tộc giàu sang. Năm 1557 vua chúa các nớc
Pháp, Tây Ban Nha, Bồ Đào Nha nhất loạt tuyên bố không trả nợ làm cho hàng
loạt ngân hàng phá sản
Do không chịu mức lãi suất cao quá mức, các nhà t bản nông, công, th-
ơng nghiệp hùn vốn với nhau lập ra các ngân hàng, hội tín dụng để cho vay vốn
với mức lãi suất có thể chấp nhận đợc. Loại ngân hàng này xuất hiện ở Vienise
(Italia) năm 1589, Milan (Italia) năm 1593, Asmterdam (Hà lan) năm 1600.
Cuối thế kỷ 17 xuất hiện ngân hàng lớn nhất thế giới, ngân hàng Anh ở Luân
đôn. Ngân hàng Anh là một công ty cổ phần lớn kinh doanh tín dụng t bản với
1
mức lãi suất thấp 6% năm và điều này buộc các ngân hàng cho vay nặng lãi
phải hạ lãi suất theo và kinh doanh giống các ngân hàng t bản. Trong suốt thế

với việc mạnh dạn cho vay tiền, tạo ra các khoản tiền mới trong lu thông. Ngân
hàng từ lâu đã phát hành các chứng th (nh séc ngày nay) khi có ngời gửi vào
ngân hàng bằng tiền vàng hoặc tiền đúc - 100 tiền ngân hàng thay cho 100 tiền
vàng đúc. Tuy nhiên vào cuối thế kỷ XVII khi chứng th đợc chấp nhận rộng rãi
và nhu cầu tăng đột ngột, một số ngân hàng đã phát hành các chứng th tự do
(không có tiền vàng bảo đảm) và tiền ngân hàng ra đời. Tuy nhiên tiền ngân
hàng (Bank notes) chỉ đợc lu hành rộng rãi từ đầu thế kỷ XX sau khi nhà nớc
độc quyền phát hành giấy bạc pháp định. Ngày nay do sự phát triển về kinh tế,
đặc biệt là khoa học công nghệ, dịch vụ ngân hàng đã phát triển về mọi mặt và
ra đời những loại sử dụng công nghệ cao nh thanh toán bằng thẻ điện tử, ứng
dụng mạng SWIFT ..
Do sự đa dạng của dịch vụ ngân hàng nên không thể có định nghĩa cụ
thể, thống nhất về dịch vụ ngân hàng. Hiểu nôm na dịch vụ ngân hàng nói
chung là tất cả những việc mà ngân hàng thờng làm trong khuôn khổ nghề
nghiệp của họ.
2. Lịch sử phát triển của dịch vụ ngân hàng quốc tế
Trong lịch sử phát triển lâu dài của hoạt động ngân hàng nh nêu ở phần
trên, có xuất hiện mầm mống hoạt động ngân hàng quốc tế tại các nớc ở châu
Âu vào thế kỷ 13. Vào thế kỷ 19, các nớc thực dân đã mở rộng vùng thuộc địa
của mình, tìm kiếm thị trờng ngoài lãnh thổ của mình. Các ngân hàng thơng
mại của Anh và Pháp đã thiết lập nhiều chi nhánh ở nớc ngoài. Mạng lới chi
nhánh của họ bao trùm trên lãnh thổ châu Âu và các vùng lãnh thổ thuộc địa.
Ngân hàng Đông Phơng của Anh thành lập tại Trung Quốc, ngân hàng Đông D-
ơng của Pháp thành lập ở Việt Nam.
Sau chiến tranh thế giới lần thứ II, các nớc châu Âu rất cần tiền để tái
thiết nền kinh tế bị huỷ hoại nặng nề bởi chiến tranh và Mỹ là nhà tài trợ chính.
Ngoài ra sự tăng trởng cha từng có về đầu t và thơng mại quốc tế trên thế giới
sau chiến tranh thế giới thứ II đã dẫn đến sự phát triển không ngừng các nghiệp
3
vụ ngân hàng quốc tế của các ngân hàng thơng mại. Với các hiệp định Land

Căn cứ phân biệt nghiệp vụ ngân hàng quốc tế và nghiệp vụ ngân
hàng trong nớc là loại hoạt động kinh doanh mà ngân hàng cung cấp cho
khách hàng của họ có tính quốc tế hay không. Điều này đợc giải thích bởi ba lý
do sau
Thứ nhất, nghiệp vụ ngân hàng quốc tế là loại hoạt động trợ giúp cho
hoạt động xuất nhập khẩu của khách hàng thông qua hoạt động tài trợ thơng
mại quốc tế. Điều này có nghĩa là nghiệp vụ ngân hàng trong trờng hợp này gắn
bó chặt chẽ với thơng mại quốc tế.
Thứ hai, nghiệp vụ ngân hàng quốc tế là loại hoạt động đáp ứng nhu
cầu trao đổi ngoại tệ của khách hàng nhằm thực hiện các giao dịch thơng mại và
đầu t qua biên giới quốc gia.
Thứ ba, vì các ngân hàng hoạt động kinh doanh quốc tế có điều kiện
thuận lợi kinh doanh ngoại tệ, họ cũng thờng kinh doanh ngoại tệ cho chính số
tiền của họ.
Một căn cứ nữa để phân biệt nghiệp vụ ngân hàng quốc tế và nghiệp
vụ ngân hàng trong nớc của ngân hàng thơng mại là nghiệp vụ ngân hàng quốc
tế diễn ra giữa hai hay nhiều quốc gia; còn nghiệp vụ ngân hàng trong nớc
chỉ diễn ra trong nội bộ quốc gia và đối tợng khách hàng là pháp nhân, thể
nhân của quốc gia đó.
Nh vậy ta có thể đa ra định nghĩa dịch vụ ngân ngân hàng quốc tế:
Dịch vụ ngân hàng quốc tế là các giao dịch ngân hàng liên quan tới
một hoặc nhiều bên đối tác ở ngoài biên giới nớc có trụ sở chính của ngân
hàng cung cấp dịch vụ
5
Trên phơng diện phân loại nghiệp vụ ngân hàng quốc tế là một dạng hoạt
động kinh doanh quốc tế thì nghiệp vụ ngân hàng quốc tế của ngân hàng th-
ơng mại có thể đợc coi là việc thực hiện một, một số hoặc tất cả các công
đoạn của quá trình hoạt động đầu t và cung ứng dịch vụ tiền tệ và tài chính
quốc tế trên thị trờng trong nớc và quốc tế nhằm mục đích sinh lời.
Việc thực hiện các nghiệp vụ ngân hàng quốc tế, các ngân hàng thơng

cầu Swift, mạng giao dịch kinh doanh toàn cầu Reuter, và ứng dụng công nghệ
thông tin vào quản lý và kinh doanh. Do vậy việc sử dụng thành thạo các tiện ích
ngân hàng, máy tính và công nghệ thông tin là bắt buộc
-Phải hiểu biết thông thạo ít nhất một ngoại ngữ, tiếng Anh là bắt buộc.
Do là kinh doanh quốc tế nếu không thông thạo ngoại ngữ thì không làm việc đ-
ợc
-Do bối cảnh hoạt động kinh doanh đòi hỏi rất nhiều về trình độ của
nguồn nhân lực, nên việc tập trung vào phát triển và bồi dỡng nguồn nhân lực là
điều tất yếu
Nghiệp vụ ngân hàng quốc tế có tính rủi ro cao: Do sự phức tạp của
kinh doanh quốc tế nên thờng xảy ra việc tăng, giảm đột ngột về ngoại tệ, lãi
suất, trục trặc trong thanh toán quốc tế, biến động chính trị .Vì vậy nghiệp
vụ ngân hàng quốc tế có mức độ rủi ro cao hơn nghiệp vụ ngân hàng ở trong
nớc. Tuy nhiên, rủi ro càng cao lợi nhuận càng lớn nên các ngân hàng vẫn phát
triển hoạt động kinh doanh quốc tế để có cơ hội và tiềm năng phát triển lâu
dài.
Nghiệp vụ ngân hàng quốc tế chịu ảnh hởng nhiều bởi luật pháp quốc
tế và thông lệ quốc tế: Đặc điểm này do tính quốc tế của dịch vụ ngân hàng
quốc tế quyết định. Do sự phức tạp trong môi trờng hoạt động kinh doanh
quốc tế, do sự không thống nhất về luật pháp giữa các quốc gia, do trình độ
phát triển không đồng đều mà đòi hỏi phải có luật pháp quốc tế, thông lệ quốc
tế tạo điều kiện thuận lợi và an toàn cho các ngân hàng thực hiện dịch vụ ngân
hàng quốc tế.
3.3 Động cơ tiến hành dịch vụ ngân hàng quốc tế
7
Động cơ dễ hiểu nhất là mong muốn theo đuổi các khách hàng khi các
khách hàng của họ thực hiện hoạt động ra nớc ngoài. Đây là một nguyên lý
Marketing truyền thống theo chân khách hàng. Các công ty của Mỹ những
năm 60, 70 của Nhật và châu Âu trong thập niên 70 hăng hái mở rộng hoạt
động ra nớc ngoài thì các ngân hàng của họ cũng theo sau. Động cơ này có

châu Âu hay thực hiện các khoản vay ngân hàng nớc ngoài. Chúng nằm chủ yếu
ở những nơi có nền tài chính chủ yếu, nh Bahamas, nơi chúng hoạt động mà
không phải chịu thuế; họ không quan tâm đến công việc kinh doanh ở địa ph-
ơng. Loại hình này xuất hiện nhiều ở Mỹ.
Chi nhánh ngân hàng nớc ngoài thực hiện dịch vụ trọn gói: Chi
nhánh ngân hàng nớc ngoài thực hiện trọn gói là sự mở rộng của ngân hàng
chính, hoạt động nh các ngân hàng tại nớc đó nhng về mặt pháp lý chi nhánh
ngân hàng tại nớc ngoài lại là một bộ phận của ngân hàng mẹ. Các chi nhánh
thực hiện kinh donh nghiệp vụ ngân hàng bán sỉ dựa chủ yếu vào các khoản tiền
gửi mua từ hệ thống ngân hàng quốc tế đợc biết đến nh là thị trờng liên ngân
hàng. Họ không thể phát triển một cơ sở tiền gửi địa phơng. Chi nhánh ngân
hàng ở nớc ngoài vừa chịu sự điều chỉnh của luật ngân hàng trong nớc vừa chịu
sự điều chỉnh của luật ngân hàng nớc ngoài mà nó mở chi nhánh. ở một số quốc
gia, chi nhánh ngân hàng nớc ngoài bị cấm, ở một số quốc gia khác ngời ta
không muốn lập chi nhánh vì có rủi ro sung công. Chi nhánh ngân hàng ở nớc
ngoài thờng đợc mở tại các trung tâm tài chính và thơng mại của thế giới.
Ngân hàng con ở nớc ngoài: Ngân hàng con ở nớc ngoài là một định
chế độc lập do ngân hàng mẹ sở hữu hoàn toàn hoặc gần nh sở hữu hoàn toàn để
phù hợp với luật pháp của nớc ngoài. Ngân hàng con ở nớc ngoài hạch toán độc
lập, tự chủ về tài chính, tự chịu trách nhiệm về kết quả hoạt động kinh doanh
của mình.
Ngoài ra còn hình thức Ngân hàng con ở nớc ngoài nhng ngân hàng mẹ
không kiểm soát chúng (ngân hàng mẹ chỉ đóng góp một phần vốn tối thiểu,
không đủ giành quyền kiểm soát). Nói chung, ngân hàng con ở nớc ngoài chịu
sự điều chỉnh của luật pháp nớc sở tại và hầu nh không chịu ảnh hởng của luật
pháp tại nớc mà ngân hàng mẹ đặt trụ sở chính.
9
Trong thời gian gân đây, các ngân hàng kinh doanh quốc tế có xu hớng
mua các ngân hàng con thay vì lập chi nhánh ở nớc ngoài. Việc sở hữu một
ngân hàng con, trách nhiệm của ngân hàng mẹ chỉ giới hạn trong số vốn đầu t

cho các khoản tiền gửi và tránh đợc những đánh giá liên quan đến bảo hiểm.
Phần lớn các tài sản của IBF bao gồm các khoản cho vay đối với các doanh
nghiệp, chính phủ và ngân hàng trung ơng nớc ngoài với mục đích sử dụng
ngoài nớc Mỹ. Nguồn vốn của họ là từ các khoản vay liên ngân hàng của các tổ
chức quốc tế , các chính phủ và các cơ quan nớc ngoài
4.2. Vai trò của các trung tâm tài chính quốc tế
4.2.1. Đặc điểm và các loại hình trung tâm tài chính quốc tế
Trung tâm tài chính quốc tế là địa điểm có mật độ cao các trụ sở của các
ngân hàng hoạt động kinh doanh quốc tế, bất kể ngân hàng đó thuộc sở hữu của
quốc gia nào. Các trung tâm tài chính có 3 đặc điểm quan trọng sau :
Tại các trung tâm tài chính quốc tế, các ngân hàng quốc tế giao dịch với
nhau bằng đồng tiền nớc ngoài chứ không phải bằng đồng tiền của nớc chủ
nhà. Bởi vậy các giao dịch tài chính ở trung tâm tài chính không liên quan trực
tiếp tới hệ thống ngân hàng nội địa.
Các ngân hàng quốc tế hoạt động tại các trung tâm tài chính quốc tế nói
chung đợc miễn thuế và không chịu sự quản lý ngoại hối nh đối với các thị tr-
ờng tài chính nội địa.
Hoạt động tài chính tại các trung tâm tài chính quốc tế chủ yếu diễn ra
giữa các khách hàng là ngời không c trú (mặc dù không phải là độc quyền).
Các trung tâm tài chính quốc tế chủ yếu khác nhau về chức năng và cơ
cấu. Sự khác nhau bắt nguồn từ các nguyên nhân chủ yếu là đặc trng của nền
kinh tế cũng nh môi trờng pháp lý của nớc sở tại. Nói chung, chúng ta có thể
nhận dạng bốn loại trung tâm tài chính quốc tế nhờ vào phân loại nguồn vốn và
sử dụng vốn trên thị trờng.
Các trung tâm tài chính chủ chốt (các trung tâm tài chính quốc tế)
Các trung tâm tài chính chủ chốt nh London, New york... phục vụ các
khách hàng toàn cầu. Nhờ chiếm u thế về nguồn vốn cũng nh sử dụng vốn trong
các nớc công nghiệp hoá phát triển mà các trung tâm tài chính chủ chốt huy
11
động và cho vay lại trong các nớc công nghiệp phát triển. Nhờ chiếm u thế vai

đợc xây dựng tại các nớc công nghiệp hóa mới nổi nh Malaysia và Thái Lan.
4.2.2. Vai trò của các trung tâm tài chính quốc tế
Trung tâm tài chính quốc tế đóng vai trò quan trọng trong hoạt động
ngân hàng và tài chính quốc tế. Sau đây là một số vai trò của trung tâm tài chính
quốc tế:
1. Đa dạng hoá mạng lới ngân hàng quốc tế: Hiện nay các trung tâm tài
chính quốc tế là tụ điểm các giao dịch kinh doanh của các ngân hàng quốc tế.
Trong các trung tâm này, các ngân hàng quốc tế chủ chốt hiện diện dới các
hình thức khác nhau. Với các ngân hàng không có mạng lới ở nớc ngoài thì
việc chúng có mặt tại trung tâm tài chính quốc tế sẽ làm đa dạng hoá mạng lới
ngân hàng quốc tế.
2. Tạo ra cơ sở hạ tầng tốt: Các tổ chức ngân hàng quốc tế đã phát triển
các trung tâm tài chính quốc tế để có cơ hội thu lợi nhuận do việc chiếm lợi
thế kinh doanh trong các giao dịch quốc tế. Các trung tâm tài chính quốc tế
đòi hỏi các cơ sở hạ tầng đắt tiền và tinh vi để trợ giúp chúng nh viễn thông,
hàng không, kế toán, môi trờng pháp lý và những dịch vụ khác. Những chi phí
này sẽ không có hiệu quả nếu đợc đầu t vào các thị trờng của các nớc. Nhờ
đóng ở vị trí trung tâm, các Trung tâm tài chính quốc tế sẽ trang trải các chi
phí thông qua các dịch vụ phục vụ khách hàng của các nớc.
3.Đóng góp cho nền kinh tế địa phơng: Số lợng các tổ chức ngân hàng
và tài chính quốc tế có mặt tại trung tâm tài chính quốc tế phải ở mức phù hợp
để cung cấp hiệu quả dịch vụ cho khách hàng quốc tế. Các nghiệp vụ ngân
hàng quốc tế đòi hỏi kỹ năng tài chính phức tạp và cập nhật thông tin thị tr-
ờng. Các nghiệp vụ ngân hàng quốc tế cần phải đổi mới thờng xuyên và trao
đổi thông tin giữa các ngân hàng và các chuyên gia tài chính khác nhau.
Ngoài ra, những yêu cầu của ngân hàng quốc tế hiện đại đòi hỏi các
nhóm ngân hàng thực hiện các khoản cho vay hợp vốn và các giao dịch tín
dụng. Với khối lợng tiền giao dịch lớn thì không một ngân hàng nào tự mình
thực hiện giao dịch có hiệu quả. Các giao dịch ngân hàng quốc tế đòi hỏi mối
13


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status