BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƢỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM TP. HỒ CHÍ MINH
BỘ MÔN CÔNG NGHỆ SINH HỌC
***000*** ĐỖ HOÀNG KHIÊM
MỘT SỐ YẾU TỐ ẢNH HƢỞNG KẾT QUẢ NUÔI CẤY
TẾ BÀO BIỂU MÔ ỐNG DẨN TRỨNG VÀ PHẢN ỨNG
HOẠT HÓA TINH TRÙNG CHÓ Luận văn kỹ sƣ
Chuyên ngành: Công Nghệ Sinh Học
KS. NGUYỄN VĂN ÚT
Thành phố Hồ Chí Minh
Tháng 09/2006 MINISTRY OF EDUCATION AND TRAINING
NONG LAM UNIVERSITY
DEPARTMENT OF BIOTECHNOLOGY
***000***
FACTORS EFFECT ON THE RESULT OF
CULTURE OF OVIDUCTAL EPITHELIAL CELLS
AND DOG SPERM CAPACITATION
Graduation thesis
Major: Biotechnology
nghiệp, một tấm gƣơng lao động, một phong cách làm việc cần đƣợc noi theo.
Thầy Đinh Xuân Phát, cô Quách Tuyết Anh và thầy Nguyễn Văn Út đã
truyền đạt cho tôi những kinh nghiệm sống và làm việc, tận tình giúp đỡ và chỉ dẫn
cho tôi trong suốt quá trình thực tập.
Thầy Trần Ngọc Hùng đã truyền đạt cho tôi những kinh nghiệm về quá trình
thực tập tốt nghiệp.
Thầy Nguyễn Văn Thuận và thầy Nguyễn Thanh Bình đã truyền đạt những
kinh nghiệm nghiên cứu thực tế cho tôi.
Gia đình Bác Sáu, gia đình chị Hạnh và gia đình anh Phƣớc đã tạo điều kiện
thuận lợi để tôi hoàn thành đề tài này.
Tập thể lớp Công Nghệ Sinh Học 28 và những ngƣời bạn thân đã chia sẽ
những vui buồn cũng nhƣ hỗ trợ tôi trong quá trình thực tập tốt nghiệp.
Thủ Đức, ngày 15-08-06
Đỗ Hoàng Khiêm
v
TÓM TẮT KHÓA LUẬN
Đỗ Hoàng Khiêm, Đại học Nông Lâm TP. Hồ Chí Minh, tháng 8/2006. “MỘT
SỐ YẾU TỐ ẢNH HƢỞNG KẾT QUẢ NUÔI CẤY TẾ BÀO BIỂU MÔ ỐNG DẨN
TRỨNG VÀ PHẢN ỨNG HOẠT HÓA TINH TRÙNG CHÓ”
Hƣớng dẫn khoa học:
1. PGS.TS. TRẦN THỊ DÂN
2. BSTY. QUÁCH TUYẾT ANH
3. KSCNSH. NGUYỄN VĂN ÚT
Đề tài đƣợc tiến hành từ ngày 06/02/2006 đến 06/07/06 tại trƣờng Đại Học Nông
Lâm TP. Hồ Chí Minh.
Ngày nay, kỹ thuật thụ tinh in vitro ngày càng đƣợc hoàn thiện và có tiềm năng
1.3. Yêu cầu 2
PHẦN II. TỔNG QUAN TÀI LIỆU 3
2.1. Cấu tạo và chức năng ống dẫn trứng 3
2.1.1. Cấu tạo 3
2.1.2. Chức năng 4
2.1.2.1. Chức năng vận chuyển noãn và tinh trùng 4
2.1.2.2. Vai trò của sản phẩm chế tiết từ tế bào biểu mô ống dẫn trứng 4
2.2. Một số đặc điểm sinh học khi nuôi cấy tế bào ngoài cơ thể 4
2.3. Các yếu tố ảnh hƣởng đến nuôi cấy tế bào 6
2.3.1. Bề mặt chai cấy 6
2.3.2. Các đặt tính vật lý 6
2.3.2.1. pH 6
2.3.2.2. Dung dịch đệm 7
2.3.2.3. Áp suất thẩm thấu 7
2.3.2.4. Nhiệt độ 7
2.3.2.5. Áp lực bề mặt và bọt khí 7
2.3.2.6. Độ nhớt 8
2.3.3. Tủ cấy 8
2.3.4. Kháng sinh 8
2.4. Vấn đề nhiễm trong nuôi cấy tế bào 8
2.4.1. Nguồn nhiễm 8
2.4.2. Hình ảnh đặc trƣng của nhiễm vi sinh vật 8
2.4.3. Yêu cầu đối với ngƣời thao tác 9
2.5. Thành phần chính của môi trƣờng nuôi cấy tế bào 9
2.6. Các quy trình nuôi cấy tế bào thông dụng 10
2.6.1. Nuôi cấy sơ cấp 10
2.6.2. Nuôi cấy thứ cấp 11
2.7. Xác định tế bào sống và chết bằng phƣơng pháp nhuộm trypan blue 11
2.8. Một số công trình ứng dụng nuôi cấy tế bào biểu mô ống dẫn trứng 11
2.8.1. Nuôi cấy tế bào biểu mô ống dẫn trứng bò và đồng nuôi cấy với phôi 11
PHẦN 4. KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN 35
4.1. Thí nghiệm 1: thu thập tế bào biểu mô ống dẫn trứng 35
4.2. Thí nghiệm 2: so sánh 2 phƣơng pháp nuôi cấy tế bào ống dẫn trứng 35
4.3. Thí nghiệm 3: ảnh hƣởng của thời gian bảo quản và phản ứng hoạt hóa 37
4.3.1. Hoạt lực của tinh trùng 37
4.3.2. Nồng độ của tinh trùng 38
4.3.3. Tỉ lệ tinh trùng kỳ hình 39
4.3.4. Tỉ lệ tinh trùng sống, còn nguyên vẹn acrosome 40
4.3.5. Cƣờng độ hoạt động của tinh trùng 41
PHẦN V. KẾT LUẬN VÀ ĐỀ NGHỊ 44
5.1. Kết luận 44
5.2. Đề nghị 44
TÀI LIỆU THAM KHẢO 45
PHỤ LỤC 47
viii
DANH SÁCH CÁC CHỮ VIẾT TẮT
AR: acrosome reaction
BOEC: bovine oviductal epithelial cells
BSA: bovine serum albumin
DNA: deoxyribonucleic acid
DNP: deoxyribonucleoprotein
ECS: estrous cow serum
EGF: epidermal growth factor
ELISA: enzyme linked immunosorbent assay
ET: embryo stransfer
FBS: phosphate buffered saline
FCS: fetal calf serum
FGF: fibroblast growth factor
Bảng 4.3 Thay đổi nồng độ tinh trùng 38
Bảng 4.4 Sự biến thiên của tỉ lệ tinh trùng kỳ hình 39
Bảng 4.5 Sự biến thiên của tỉ lệ tinh trùng sống, còn nguyên vẹn acrosome 40
Bảng 4.6 Sự thay đổi cƣờng độ hoạt động của tinh trùng 42
x
DANH SÁCH CÁC HÌNH VÀ BIỂU ĐỒ
HÌNH TRANG
Hình 4.1 Cấu trúc “bóng nƣớc” (mũi tên) sau 3 ngày nuôi cấy 36
Hình 4.2 Tế bào sống (mũi tên) và tế bào chết (trong vòng tròn) 36
Hình 4.3 Tinh trùng đƣợc nhuộm trƣớc phản ứng hoạt hóa 41
Hình 4.4 Tinh trùng đƣợc nhuộm sau phản ứng hoạt hóa 41
Hình 4.5 Hiện tƣợng tụ dính tinh trùng 43
BIỂU ĐỒ
Biểu đồ 4.1 So sánh hoạt lực của tinh trùng 37
Biểu đồ 4.2 So sánh nồng độ của tinh trùng 38
Biểu đồ 4.3 So sánh tỉ lệ tinh trùng kỳ hình 39
Biểu đồ 4.4 So sánh tỉ lệ tinh trùng sống và còn nguyên acrosome 40
Biểu đồ 4.5 So sánh cƣờng độ hoạt động của tinh trùng 42
1
PHẦN I. MỞ ĐẦU
1.1. Đặt vấn đề
Xã hội ngày càng phát triển, mức sống nhân dân tăng dần thì đời sống tinh thần
đƣợc chú trọng hơn. Mỗi ngƣời đều cần đƣợc giải trí, bầu bạn, tâm sự và hơn hết là
cần đƣợc bảo vệ tính mạng cũng nhƣ tài sản. Để đáp ứng nhu cầu này, chó là loài vật
- Bố trí thí nghiệm để đánh giá ảnh hƣởng của thời gian bảo quản tinh pha chế lên
khả năng hoạt hóa tinh trùng.
nhiều mạch máu và mạch bạch huyết. Trong lớp đệm có những tế bào hình thoi nhƣ
những nguyên bào sợi, một số tế bào lympho và bạch cầu đơn nhân nằm trong một
lƣới sợi. Những tế bào hình thoi có tiềm năng phát triển giống nhƣ những tế bào ở lớp
đệm của nội mạc tử cung.
4
- Tầng cơ gồm hai lớp cơ trơn: lớp trong có các bó sợi cơ xếp theo hƣớng vòng; ở
lớp ngoài, các bó sợi xếp theo hƣớng dọc.
- Tầng vỏ ngoài: là một mô liên kết chứa mạch máu, dây thần kinh.
2.1.2. Chức năng
2.1.2.1. Chức năng vận chuyển noãn và tinh trùng
- Ống dẫn trứng là cơ quan tiếp nhận noãn đã đƣợc phóng thích từ buồng trứng
rồi vận chuyển về phía tử cung. Sự vận chuyển noãn trong lòng ống dẫn trứng đƣợc
tiến hành nhờ ba yếu tố:
+ Sự co bóp tầng cơ ống dẫn trứng là chủ yếu (Trịnh Hữu Hằng và Đỗ Công
Huỳnh, 2001; Trịnh Bình và ctv, 2004).
+ Nhu động của các lông nhung theo hƣớng về phía tử. Estrogen có tác dụng
gây ra sự biệt hóa của tế bào có lông, còn progesterone có tác dụng tăng cƣờng sự
chuyển động của các lông.
+ Sự lôi cuốn noãn theo dòng nƣớc màng bụng. Nhờ hệ thống mạch bạch
huyết phong phú trong lớp đệm nên ống dẫn trứng là cơ quan hấp thụ nƣớc màng bụng
(Trịnh Bình và ctv, 2004).
- Sự vận chuyển tinh trùng trong ống dẫn trứng theo hƣớng ngƣợc lại sự vận
chuyển noãn, chủ yếu là nhờ sự co bóp của tầng cơ ống dẫn trứng.
2.1.2.2. Vai trò của sản phẩm chế tiết từ tế bào biểu mô ống dẫn trứng
Những sản phẩm của các tế bào chế tiết nằm trong biểu mô ống dẫn trứng đóng
vai trò quan trọng. Chúng tạo ra một môi trƣờng thuận lợi cho sự sống và sự chuyển
động của tinh trùng, làm cho tinh trùng đạt đƣợc khả năng gây thụ tinh cho noãn.
Chúng còn chứa những chất dinh dƣỡng rất cần thiết cho sự sống và phát triển của
noãn đã thụ tinh tới giai đoạn phôi nang, khiến cho phôi nang có thể làm tổ trong nội
thúc vòng đời tái sản.
Điều kiện nuôi cấy thay đổi hoặc nuôi cấy tế bào đã đạt mật độ cao.
Tế bào tiếp xúc với tác nhân gây độc tế bào.
+ Hoại tử tế bào: tế bào phồng to, nhiễm sắc thể “lên bông”, gây ly giải tế bào
trực tiếp, hoại tử tế bào nhanh chóng. Tế bào nuôi cấy ngoài cơ thể chết do quá trình
hoại tử, khi nhuộm trypan tế bào bắt màu xanh.
Sự sinh trƣởng của tế bào in vitro thƣờng trải qua 3 pha (Nguyễn Nhƣ Hiền,
2005):
+ Pha chậm (lag phase): là giai đoạn từ khi tế bào đƣợc cho vào môi trƣờng
đến khi tế bào bắt đầu phát triển. Đây là khoảng thời gian tế bào thích nghi với môi
6
trƣờng mới (trích dẫn từ Nhan Ngọc Hiền, 2005). Thời gian này dài hay ngắn tùy
thuộc vào trạng thái biệt hóa của mô đƣợc trích tế bào.
+ Pha tiến triển (exponential growth): là giai đoạn tế bào phân chia liên tục,
tăng nhanh số lƣợng tế bào trong khoảng thời gian 15-25 giờ với số lƣợng tế bào đạt 1-
2.10
6
/cm
3
, là nồng độ chuẩn cho nuôi cấy theo mẻ. Độ dài của pha này phụ thuộc dinh
dƣỡng, tốc độ phát triển, mật độ mà sự tái sản tế bào bị ức chế. Ở pha này, tốc độ phát
triển tế bào cao nhất (90% – 100%), tế bào đồng nhất và khả năng tái sản cao (trích
dẫn từ Nhan Ngọc Hiền, 2005).
+ Pha dừng (stationary phase): là giai đoạn sau pha tiến triển, trong đó số
lƣợng tế bào không thay đổi, tức là giai đoạn mà môi trƣờng dinh dƣỡng nghèo dần và
bắt đầu tích lũy các sản phẩm trao đổi chất độc hại. Bắt đầu xuất hiện sự tự hoại tế
bào: nhân bị đứt chẻ, trên bề mặt tế bào tạo thành các mảnh khối (blebs).
2.3. Các yếu tố ảnh hƣởng đến nuôi cấy tế bào
2.3.1. Bề mặt chai cấy
2.3.2.3. Áp suất thẩm thấu
Áp suất thẩm thấu của môi trƣờng ảnh hƣởng đến tế bào nuôi cấy. Ở những loài
khác nhau thì áp suất thẩm thấu của huyết tƣơng khác nhau. Ví dụ: ở ngƣời khoảng
290 mOsm/kg, ở chuột khoảng 310 mOsm/kg. Trong thực nghiệm, thƣờng điều chỉnh
trong khoảng từ 260 – 320 mOsm/kg (Freshney, 1987).
2.3.2.4. Nhiệt độ (trích dẫn từ Nhan Ngọc Hiền, 2005)
- Nhiệt độ giảm sẽ làm giảm sự phát triển nhƣng không làm giảm khả năng sống
của tế bào, trừ khi thời gian hạ nhiệt độ kéo dài hơn 3 ngày.
- Nhiệt độ gia tăng sẽ làm tăng sự phát triển nhƣng sẽ làm giảm khả năng sống
của tế bào.
- Nhiệt độ cũng ảnh hƣởng đến pH. Ở nhiệt độ thấp, CO
2
hòa tan tăng nên làm
thay đổi sự ion hóa.
2.3.2.5. Áp lực bề mặt và bọt khí
Áp lực bề mặt của môi trƣờng hỗ trợ sự bám dính của tế bào vào đáy bình nuôi
cấy nhƣng ít đƣợc ứng dụng. Nuôi cấy ở điều kiện 5% CO
2
sẽ tạo bọt khí mà bọt khí
có liên quan đến lƣợng protein thoái hóa và nguy cơ nhiễm khuẩn (Freshney, 1987).
pH
Màu*
6,5
7,0
7,4
7,6
7,8
Không khí ẩm của tủ nuôi cấy là nguồn nhiễm chính và nhiễm có thể xảy ra ở bất
cứ giai đoạn nào, thao tác nào.
Tác nhân gây nhiễm: vi trùng, nấm men, nấm mốc, Mycoplasma, protozoa…
Theo dõi nhiễm: bằng mắt dƣới kính hiển vi.
2.4.2. Hình ảnh đặc trƣng của nhiễm vi sinh vật (trích dẫn từ Nhan Ngọc Hiền,
2005)
- Thay đổi pH đột ngột dẫn đến thay đổi màu sắc của chỉ thị màu trong môi
trƣờng. pH giảm rõ trong trƣờng hợp nhiễm trùng. Khi nhiễm nấm men, pH thay đổi ít,
trừ khi nhiễm nấm men nhiều. Tăng pH khi nhiễm nấm sợi.
9
- Đục môi trƣờng hoặc cặn ở đáy.
- Dƣới kính hiển vi với độ phóng đại 100 lần, giữa những tế bào có những hạt
lấp lánh là môi trƣờng đã bị nhiễm khuẩn, hình tròn có những nụ nhỏ là nấm men.
- Nấm sợi: nhiều sợi mảnh, có thể thấy đám đậm độ của bào tử.
- Nhiễm Mycoplasma: có những dấu hiệu hủy hoại tế bào. Xác định Mycoplasma
bằng kỹ thuật nhuộm huỳnh quang, PCR, ELISA…
2.4.3. Yêu cầu đối với ngƣời thao tác (trích dẫn từ Phan Kim Ngọc, 2002)
- Mang găng tay khi thao tác.
- Sử dụng áo blouse, khẩu trang và nón che kín tóc.
- Hạn chế việc mang vật dụng cá nhân khi thao tác vô trùng.
- Trƣớc khi vào phòng thí nghiệm: vệ sinh cá nhân tốt, rửa sạch tay bằng xà
phòng, sát trùng bằng javel và cồn, chuẩn bị đầy đủ các dụng cụ, môi trƣờng cần sử
dụng trong suốt thời gian làm việc, khử trùng phòng và tủ cấy bằng tia UV.
- Sau khi làm việc trong phòng thí nghiệm: dọn vệ sinh tủ cấy và phòng, sắp xếp
các dụng cụ và thiết bị gọn gàng đúng qui định, các dụng cụ đã sử dụng cần đƣợc rửa
sạch và sấy khô tại khu vực rửa dụng cụ, tắt các thiết bị không cần sử dụng, rửa sạch
tay bằng xà phòng và sát trùng bằng javel và cồn.
- Tất cả các mẫu vật, hóa chất dƣ thừa phải đƣợc mang ra khỏi khu vực thao tác
và đƣợc xử lý cẩn thận.
10 mM
20 mM
50 mM
- Acid amin: nồng độ acid amin quyết định khả năng duy trì nồng độ tế bào tối
đa, ảnh hƣởng đến sự sống còn và tỉ lệ phát triển của tế bào.
10
- Vitamin: thông thƣờng chỉ bổ sung vitamin nhóm B vào môi trƣờng nuôi cấy vì
những vitamin khác đã có đủ trong huyết thanh. Việc thêm vitamin vào môi trƣờng
nuôi cấy chứa nồng độ huyết thanh thấp là cần thiết.
- Muối: K
+
, Na
+
, Mg
2+
, Ca
2+
, SO
4
2-
, Cl
-
, PO
4
3-
, HCO
3
-
đƣợc cắt nhỏ (1 mm
3
), trên môi trƣờng thể tích nhỏ với nồng độ huyết thanh cao. Áp
lực bề mặt giúp mảnh mô tƣơng đối cố định, tạo điều kiện thuận lợi cho tế bào bám
dính vào bề mặt đáy đĩa và phát triển. Phƣơng pháp này không sử dụng enzyme
11
trypsin nên hạn chế đƣợc nguy cơ tổn thƣơng tế bào, nhƣng tế bào phát triển chậm. Vì
vậy, phƣơng pháp này thích hợp cho nuôi cấy các loại tế bào dễ bị tổn thƣơng và tránh
đƣợc nguy cơ mất tế bào.
- Nuôi cấy tế bào sau tách mô bằng enzyme là phƣơng pháp nuôi cấy những tế
bào đã đƣợc tách riêng lẻ nhờ phản ứng của enzyme (trypsin, collagenase,…). Phƣơng
pháp này tách đƣợc số lƣợng lớn tế bào trong thời gian ngắn trƣớc khi nuôi cấy nhƣng
tế bào dễ bị tổn thƣơng và đòi hỏi khối lƣợng mô nhiều hơn phƣơng pháp nuôi cấy tế
bào từ mảnh mô. Nồng độ tế bào trƣớc và sau nuôi cấy đƣợc xác định và số lƣợng đặc
trƣng cho từng loại tế bào nuôi cấy. Enzyme trypsin thƣờng đƣợc sử dụng trong
phƣơng pháp nuôi cấy này với 2 dạng là trypsin ấm và trypsin lạnh. Trypsin ấm mặc
dù làm tổn thƣơng tế bào nhiều hơn nhƣng tách tế bào nhanh hơn nên đƣợc ƣa chuộng
hơn phƣơng pháp trypsin lạnh. Có thể hạn chế tác động của trypsin làm tổn thƣơng tế
bào bằng cách nhũ tƣơng hóa cặn sau khi tách tế bào trong môi trƣờng có bổ sung
huyết thanh, lƣu trữ tạm trong điều kiện lạnh hoặc làm tăng độ nhớt của môi trƣờng.
2.6.2. Nuôi cấy thứ cấp
Theo Phan Kim Ngọc (2002), sau khi tế bào nuôi cấy sơ cấp đã phân chia đầy
đủ (tế bào một lớp đạt 80% bề mặt giá thể), ngƣời ta xử lý chúng với trypsin hoặc
trypsin - EDTA để tách rời các tế bào. Một phần trong số tế bào đó đƣợc dùng để nhân
số lƣợng tế bào lên trong lần nuôi cấy tiếp theo đƣợc gọi là nuôi cấy chuyền hay nuôi
cấy thứ cấp.
2.7. Xác định tế bào sống và chết bằng phƣơng pháp nhuộm trypan blue
Theo Nigel Jenkins 1999, trypan blue thƣờng đƣợc thêm vào huyễn dịch tế bào
trƣớc khi đếm. Chất nhuộm này thâm nhập vào màng của những tế bào không còn khả
4
tế bào/ml. Sau 48 giờ đồng nuôi cấy, tỉ lệ
phần trăm trứng chín đến giai đoạn MII mà không đồng nuôi cấy với tế bào biểu mô là
4%. Khi đồng nuôi cấy với tế bào biểu mô của đoạn loa và đoạn bóng của ống dẫn
trứng, tỉ lệ phần trăm trứng chín đến giai đoạn MII tƣơng ứng là 15,6% và 16,7%.
2.9. Tinh trùng
2.9.1. Sơ lƣợc quá trình sản sinh tinh trùng
Theo Nguyễn Tấn Anh và Nguyễn Quốc Đạt (1997), sự sản sinh tinh trùng xảy
ra khi bắt đầu thành thục tính dục. Đó là quá trình biệt hóa tế bào, bắt đầu từ tế bào
mầm đến khi sản sinh ra các tinh trùng. Theo Phan Trƣờng Duyệt và Phan Khanh Vy
(2001), quá trình này có thể chia làm 3 giai đoạn: giai đoạn tạo tế bào mầm (giao tử),
biệt hóa chức năng để thụ tinh (phân bào giảm nhiễm) và biệt hóa về cấu trúc để có
khả năng di chuyển chủ động.
- Sự tạo giao tử: trong giai đoạn đầu của bào thai, các tế bào mầm di chuyển
đến tuyến sinh dục đang phát triển. Trong trƣờng hợp sinh tinh, các tế bào này vào
13
trong ống tinh của tinh hoàn. Những tế bào mầm này chƣa trƣởng thành gọi là tinh
nguyên bào, sẽ phát triển bằng cách phân bào nguyên nhiễm. Tinh nguyên bào nằm
dọc bờ ngoài của ống tinh, gần với các tế bào đệm (tế bào Sertoli). Các tế bào Sertoli
tồn tại trong suốt cuộc đời tính dục và số lƣợng của chúng là nhân tố hạn chế việc sản
sinh tinh trùng. Trƣớc tuổi thành thục tính dục, các tinh nguyên bào không hoạt động.
Từ tuổi thành thục sinh dục trở đi, tinh nguyên bào phân chia liên tục bằng quá trình
phân bào nguyên nhiễm tạo nên nhiều tế bào và cung cấp liên tục các tế bào mới (tinh
trùng).
- Sự biệt hóa về chức năng: một vài tế bào dừng phân chia và biệt hóa thành tế
bào tinh trùng nguyên thủy. Mỗi tế bào tinh trùng nguyên thủy trải qua quá trình phân
bào giảm nhiễm. Phân chia giảm nhiễm đầu tiên tạo ra 2 tế bào tinh trùng thứ cấp, khi
quá trình phân chia giảm nhiễm thứ 2 hoàn thành tạo nên 4 tiền tinh trùng đơn bội. Sự
sinh tinh nhạy cảm với điều kiện môi trƣờng, đặc biệt là sự thay đổi về nhiệt độ. Nhiệt
- Cổ tinh trùng: là phần rất ngắn, dài 1 µm, hơi co lại và cắm vào hõm ở đáy
phía sau của nhân. Tế bào chất ở cổ có chứa 2 trung tử: trung tử gần nằm sát nhân,
trung tử xa nằm xa nhân hơn và từ đó bắt nguồn của 9 cặp sợi trục kéo dài đến tận đuôi
tinh trùng.
- Đuôi tinh trùng: dài khoảng 49,26 - 50,26 µm, đƣợc bao bọc bằng 1 màng
chung và đƣợc chia thành 3 phần: đoạn giữa, đoạn chính và chót đuôi. Đoạn giữa nằm
từ cổ đến vòng nhẫn Jensen, có tiết diện lớn hơn đoạn chính và chót đuôi. Lõi của
đoạn giữa và toàn bộ chiều dài của đuôi là một tập hợp bó trục. Tập hợp này gồm 9
cặp vi ống ngoài xếp đồng tâm xung quanh 2 vi ống đơn ở trung tâm và chúng đƣợc
bao quanh bằng 9 sợi chắc, dày. Bó trục và những sợi ƣa áp suất của đoạn giữa đƣợc
phủ bên ngoài bằng những ty thể. Bọc ty thể chứa các enzyme oxy hóa và
oxyphosphoryl hóa. Trong đoạn giữa cũng có nhiều chất dự trữ năng lƣợng:
phospholipid, lecithin, plasmalogen… Vì vậy, ty thể đƣợc xem nhƣ nguồn phát sinh
năng lƣợng cần thiết cho hoạt động của tinh trùng. Đoạn chính là đoạn dài nhất của
đuôi tinh trùng, bắt đầu từ vòng nhẫn Jensen kéo dài đến chỗ tiếp giáp với chót đuôi.
Khác với đoạn giữa, đoạn này không có bọc ty thể. Một vỏ bọc gồm những sợi chắc
phủ bên ngoài đoạn chính và đoạn giữa có vai trò duy trì khả năng ổn định cho các yếu
tố co rút của đuôi. Chót đuôi là phần tận cùng, ngắn nhất của đuôi. Nó chỉ gồm những
sợi của bó trục trung tâm và đƣợc bao bọc bằng màng tế bào.
2.9.3. Đặc tính của tinh trùng
Theo Trịnh Bỉnh Duy (2001), trong ống sinh tinh, tinh trùng có thể sống vài
tuần nhƣng khi đƣợc phóng ra ngoài, đời sống tối đa chỉ từ 24 - 48 giờ. Khi trữ ở nhiệt
độ thấp, chuyển hóa giảm nên thời gian sống của tinh trùng kéo dài hơn.
15
Theo Trần Tiến Dũng (2002), tinh trùng có 5 đặc tính: tính chuyển động về phía
trƣớc, tính lội ngƣợc dòng nƣớc, tính tiếp xúc với vật lạ, tính tiếp xúc với hoá chất và
tính tiếp xúc với điện. Tinh trùng sống thì luôn luôn chuyển động. Đuôi ngoằn ngoèo
uốn khúc chuyển động gây một xung động để tự tiến tới trƣớc. Ngoài ra, tinh trùng có
đầu giống hình quả lê nên tự nó chuyển động xung quanh trục của thân nó. Sự rung