1
LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP
ĐỀ TÀI: “Xây dựng mô hình quản lý khai thác
khu du lịch Chùa Hương.”
2
LỜI NÓI ĐẦU
Chùa Hương! hai tiếng ấy dường như đã quá đỗi gần gũi mà thiêng liêng với
tất thảy mỗi người Việt Nam, để rồi:
"Chẳng đi thì nhớ thì thương
du lịch Chùa Hương” là một đề tài mới mẻ và có nhiều ý nghĩa thực tiễn.
Qua đó người viết muốn góp một cái nhìn nhỏ bé cho sự phát triển của khu
danh thắng này trong quá trình chuẩn bị cho việc đề nghị trở thành di sản văn hoá
thế giới. Cũng nhân đây, người viết xin gửi lời cảm ơn chân thành đến Tiến sĩ Trần
Nhạn, các thầy cô giáo thuộc trường đại học Văn hoá Hà Nội, Sở du lịch Hà Tây,
Ban tổ chức lễ hội chùa Hương, Ban quản lý thư viện quốc gia – TT Thông tin Khoa
học Xã Hội và Nhân văn, các cơ quan tập thể và cá nhân đã giúp đỡ tôi hoàn thành
khoá luận này
4
A. PHẦN MỞ ĐẦU.
1. LÝDOCHỌNĐỀTÀI.
Ngày nay, cùng với sự phát triển của khoa học kỹ thuật hiện đại cũng như nền
kinh tế trên thế giới nói chung và Việt Nam nói riêng, du lịch đã trở thành một nhu
cầu không thể thiếu được trong cuộc sống con người. Trong xu thế mới, với mong
muốn hiểu biết về văn hoá, nâng cao dân trí, tiếp nối truyền thống thì niềm khát khao
được đi du lịch để tìm hiểu và tận mắt chứng kiến các di tích lịch sử, các phong cảnh
hữu tình ngày càng mạnh mẽ hơn. Đây cũng chính là một động lực chủ yếu thúc đẩy
du lịch phát triển.
Du lịch Việt Nam với khẩu hiệu “ Việt Nam - điểm đến của thiên niên kỷ mới”
sẽ cố gắng để tạo được các sản phẩm du lịch có chất lượng cao vừa mang tính dân
tộc, vừa mang tính hiện đại, có sức hấp dẫn lớn đối với du khách trong và ngoài nước.
Du lịch Hà Tây cũng không nằm ngoài guồng máy đó.
Đặc biệt, Chùa Hương là một trong những tài sản du lịch vô giá của Hà Tây nói
riêng và của Việt Nam nói chung. Đây là một quần thể di tích và danh lam thắng cảnh
nổi tiếng, bao gồm một hệ thống hang động, đền chùa xen lẫn trong rừng núi, hoa lá
cỏ cây ở một vùng văn hoáđặc sắc với các lễ hội và phong tục nếp sống sinh hoạt đặc
trưng của làng quê Việt Nam. Đây còn là miền đất của đạo Phật với nhiều truyền
thuyết mang ý nghĩa tôn giáo đặc biệt là lễ hội chùa Hương có sức hấp dẫn đặc biệt
với người dân Việt ở mọi miền đất nước. Có thể nói, khu Du lịch thắng cảnh chùa
viên tại Sở du lịch Hà Tây em đã mạnh dạn chọn vấn đề:
“ Xây dựng mô hình quản lý khai thác khu du lịch Chùa Hương”
làm đề tài nghiên cứu cho khoá luận tốt nghiệp của mình.
2. ĐỐITƯỢNG, PHẠMVINGHIÊNCỨU.
- Đối tượng: Mô hình quản lý khai thác tài nguyên khu Du lịch - thắng cảnh –
lễ hội chùa Hương.
- Phạm vi nghiên cứu:
+ Về không gian lãnh thổ: Đề tài có giới hạn phạm vi nghiên cứu trong khu
6
vực địa bàn xã Hương Sơn và các xã liền kề, và một sốđặc điểm chung khu vực
huyện MỹĐức. Nhưng chủ yếu tập trung vào khu di tích thắng cảnh, lễ hội chùa
Hương đặc biệt là một số khu quan trọng nhưĐền Trình, động Hương Tích
+ Về thời gian : Phân tích dựa trên cơ sở số liệu theo báo cáo tổng kết các năm
1997 đến năm 2003 và dự báo phát triển toàn khu đến năm 2010
+ Nội dung: Mô hình quản lý hiện tại và giải pháp cho tương lai.
3. MỤCTIÊUNGHIÊNCỨU.
- Mục tiêu chung: Xây dựng một mô hình quản lý tối ưu cho khu Du lịch chùa
Hương phù hợp với vị trí tiềm năng phát triển, trở thành khu Du lịch Văn hoá có sức
hấp dẫn đặc biệt của Hà Tây nói riêng và của trung tâm Du lịch Hà Nội và phụ cận
nói chung.
- Mục tiêu cụ thể:
+ Đánh giáđúng tiềm năng của khu Du lịch chùa Hương
+ Nghiên cứu xem xét hiện trạng phát triển chùa Hương (1997 - 2003) đặc biệt
là những mô hình tổ chức quản lý khai thác tài nguyên khu Du lịch chùa Hương, tìm
ra những mặt đãđạt được cần phát huy và những mặt hạn chế tồn tại cần khắc phục.
+ Đề xuất một mô hình quản lý khai thác mới cho khu Du lịch chùa Hương
nhằm khắc phục những hạn chếđến sự phát triển du lịch, phát huy được tiềm năng, lợi
thếđể có thể phát triển đa dạng và bền vững.
4. PHƯƠNGPHÁPNGHIÊNCỨU.
0
41' kinh độĐông. Phía Nam giáp tỉnh Nam Hà, phía Bắc vàĐông thuộc tỉnh
Hà Tây, phía Tây giáp tỉnh Hoà Bình. Khu Du lịch thắng cảnh chùa Hương cách Hà
Nội về phía Tây- Nam khoảng 60km.
1.2. ĐIỀUKIỆNDÂNSỐVÀLỊCHSỬ.
1.2.1. Dân số.
Khu Du lịch Hương Sơn nằm ngay trong khu dân cư bao gồm 4 xã Hương Sơn,
An Tiến, Hùng Tiến, An Phú. Trong đó Hương Sơn là xãđông dân cư nhất với gần
7000 hộ có 32.210 nhân khẩu.Đây là vùng đất nông nghiệp nên nhân dân chủ yếu
sống bằng nghề nông. Khi vào hội nhân dân trong vùng tập chung chủ yếu là phục vụ
khách du lịch. Nhân dân xã Yến Vĩ chủ yếu sống bằng nghề chèo đò còn các xã khác
chủ yếu là bán hàng lưu niệm hoặc gánh hàng thuê cho khách.
1.2.2. Lịch sử chùa Hương.
Theo Phật Thoại thìđây là nơi Đức Quan ThếÂm Bồ Tát tu hành đắc đạo .
8
BồTát đãứng thân làm công chúa Diệu Thiện, con vua Diệu Trang Vương ở nước
Hưng Lâm, tu hành trong 9 năm trong động Hương Tích. Khi đắc đạo rồi Người trở
về chữa bệnh cho cha ,trừ nghịch cho đất nước và phổđộ chúng sinh.
Khi câu chuyện này được truyền bá ra, các thiền sư , cổđức đã chống gậy tích
tới đây, nhàn du mây nước. Kết quả ba vị hoà thượng đời vua Lê Thánh Tông (1442-
1497) đã tìm thấy động Hương Tích và dựng lên thảo am Thiên Trù . Kể từđóđộng
Hương Tích thường được gọi là Chùa Trong, Thiên Trùđược gọi là Chùa Ngoài, rồi
người ta lấy tên chung cả hai chùa và cả khu vực là Chùa Hương, hay “Hương Thiên
Bảo Sái”. Hương Tích có nghĩa là dấu vết thơm tho, ý nói đây từng là nơi tu hành của
Bồ Tát Quan ThếÂm, còn Thiên Trùđọc theo âm Hán Việt nghĩa là Bếp Trời, vì chùa
nằm trong khu vực ứng với một ngôi sao chủ về việcẩm thực. Do đó nói đi trẩy hội
Chùa Hương tức làđi chiêm bái cả khu vực Hương - Thiên của vùng núi Hương Sơn.
Hàng năm có mấy chục vạn lượt người hành hương tới đây để dâng lên đức Phật một
lời nguyện cầu, một nén tâm hương hoặc thả hồn bay bổng hoà quyện với thiên nhiên
quan để tìm hiểu phong tục tập quán của người Việt Nam cũng như tín ngưỡng Phật
Giáo. Đây làđiểm du lịch văn hoá, tham quan, nghiên cứu cóý nghĩa quốc gia và quốc
tế, không chỉđối với Hà Tây mà còn với trung tâm du lịch Hà Nội và phụ cận, vùng
du lịch Bắc Bộ.
1.3.1.2. Địa hình, địa mạo, địa chất.
Khu Du lịch chùa Hương thuộc phần cuối của dẫy núi đá vôi kéo dài từ Lan
Nhi Thăng, cao nguyên Sơn La, cao nguyên Mộc Châu, vùng đá vôi Hoà Bình - Ninh
Bình đến tận bờ biển Nga Sơn - Thanh Hoá, với độ cao từ 1444m (đỉnh Bu Lan Nha
Thăng) giảm xuống 100m - 300m về phía biển đi xuống. Khu vực này tiếp giáp với
châu thổ sông Hồng, đây chính là ranh giới giữa rừng núi, đồng bằng về phía Tây
Nam, đồng bằng sông Hồng. Do vậy, dẫy núi Hương Sơn cũng chỉ là núi thấp, đỉnh
cao nhất là 381m.
Tuy nhiên, do độ chia cắt ngang dày đặc với hệ thống hố rụt, phễu, máng trũng;
những dẫy chuỗi, các hố nhỏ riêng biệt dạng tháp và tháp cụt được liên kết với nhau ở 10
mạng phức tạp, các hệ thống khe dòng chẩy, những mảng rừng nhiệt đới gió mùa xen
kẽđã tạo nên ấn tượng mạnh mẽ về một vùng núi non hùng vĩ, đa dạng cạnh đồng
bằng.
Địa hình, địa mạo của khu du lịch mang đặc điểm của một thời kỳ chấn động
của vỏ trái đất được tạo thành từ thời Triat cách đây xấp xỉ 250 triệu năm. Hiện nay,
do quá trình xâm thực, rửa lũ vẫn đang diễn ra nên khối núi Hương Sơn chính là mẫu
tiêu biểu cho quá trình địa chất, đã vàđang diễn biến.
Mang đặc trưng rất rõ nét của karst nhiệt đới ẩm đa dạng về hình thái trong
các thung lũng đã tạo thành những phong cảnh trông như viện bảo tàng đá tuyệt đẹp.
Khu vực Chùa Hương có ba nhóm dạng địa hình :
+Nhóm dạng địa hình nguồn gốc karst xâm thực tích tụ.
+Nhóm dạng địa hình nguồn gốc karst.
+Nhóm dạng địa hình bãi bồi.
23.3
0
C/năm. Một năm chia làm hai mùa nóng lạnh rõ rệt. Thời kỳ nóng nhất nhiệt
trung bình là 27
0
C . Thời kỳ lạnh nhất có nhiệt độ trung bình 18
0
C. Thời kỳ tháng
3,4,9,10,11 tương đối thích nghi với sức khoẻ con người thuận lợi cho tham quan,
nghỉ dưỡng.
Chếđộ gió nói chung không gây tác động xấu đến sức khoẻ con người, tạo độ
thông thoáng vừa phải tương đối thuận lợi cho các hoạt động tham quan Du lịch, nghỉ
dưỡng.
- Chếđộ bức xạ nắng,mây, mưa tương đối thích nghi với sức khoẻ con người
thuận lợi cho hoạt động tham quan nghỉ dưỡng.
- Lượng mưa trung bình 1800-2000mm /năm với ngày mưa 140-150 ngày/năm
ở ngưỡng thích hợp đến khá thích hợp .Tuy có lượng mưa nhiều nhưng số ngày mưa
không quá cao do vậy ít cản trởđến hoạt động tham quan du lịch ngoài trời.
Với số giờ nắng cao và lượng nhiệt như vậy nên ởđây cây cối có thể ra hoa kết
quả quanh năm.
Các học giảấn Độđãđưa ra các chỉ tiêu khí hậu sinh học đối với con người như
sau :
Bảng 1: Chỉ tiêu khí hậu sinh học đối với con người.
Hạng
Ý nghĩa Nhiệt độ
trung bình
năm (độ C)
pháp phòng chống những khó khăn do khí hậu gây ra như nhiệt độ vào mùa hè cao,
cần có những thiết bị chống nóng trong nhà nghỉ cho khách, hay trồng nhiều cây để
lấy bóng mát và tạo cảnh quan thêm đẹp.
1.3.1.4. Thuỷ văn.
Để phục vụ cho khách du lịch thì nguồn nước đóng vai trò quan trọng. Nguồn
nước ảnh hưởng tới môi trường sống còn lại trong khu vực và phục vụ cho môi
trường sinh hoạt vệ sinh của dân c và khách du lịch.Mạng lới thuỷ văn của huyện
MỹĐức rất phong phú gồm lưu lượng nước của hai con sông lớn: sông Đáy, sông
Thanh Hà và hệ thống suối : suối Yến, suối Long Vân … đều do nguồn nước ngầm
Karst cung cấp tạo ra dòng chảy quanh năm.
Đặc biệt với dòng suối Yến hiền hoà thơ mộng uốn lượn quanh co chạy dài
3km mất khoảng một giờđi đòđưa du khách đến chùa Thiên Trùđể vào động Hương
Tích. Không chỉđóng vai trò là dòng chảy đón đưa du khách mà suối Yến còn tạo cho
du khách cảm giác lãng mạn, thả hồn trước cảnh “Sơn thuỷ hữu tình “. Chẳng thế mà
Chu Mạnh Trinh đã phải thốt lên khi tới Chùa Hương “ kìa non non, nước nước, mây
mây\ Đệ nhất động hỏi rằng đây có phải”. Đây chính là một yếu tố tăng sức hấp dẫn ở
Chùa Hương. 13
Theo điều tra nghiên cứu của Viện nghiên cứu và phát triển du lịch thì hệ thống
thuỷ văn rất phong phú, với tầng nước ngầm dồi dào sẽ là một điểm mạnh để cung
cấplượng nước đảm bảo cho việc khai thác, phục vụ các nhu cầu du lịch, sinh hoạt
của khách và dân cư.
Bảng 2: Thành phần cán cân nước trong khu vực
P (mm) R(mm) E(mm) α
1900 1083 817 0.57
( Nguồn : Viện nghiên cứu và phát triển du lịch)
P : lượng nước mưa năm E : lượng bốc hơi năm
R : lượng dòng chảy năm α : hệ số dòng chảy
họ. ởđây có 6 ngành thực vật bặc cao đó là ngành lá thông, ngành tháp bút, ngành
thông đất, ngành dương xỉ, ngành hạt trần, ngành hạt kín. Trong rừng có nhiều loại gỗ
quý như : lát hoa, thông. bắch, lim …Có những cây cổ thụ sống lẻ loi như cây sang
(hoa phớt vàng, quả giống quả bồ kết). Tuy nhiên cây ởđây phần lớn là cây thứ sinh
:dẻ, gai, muồng,cây dây leo. Nhiều nhất là cây Quạch. Cũng có nhiều cây làm thuốc
như cây ổ rồng vàng chữa bệnh lành xương, củ khúc chữa bệnh tê thấp, củ sâm làm
thuốc bổ Ngoài ra có một lớp phủ thực vật dày đặc mọc ở các ngọn núi như lan, cỏ
tranh, cỏ vông tạo nên một bức tranh thiên nhiên tạo cảm giác khá hấp dẫn du
khách du lịch. Đặc biệt khi nói đến tài nguyên thực vật không thể không nhắc tới một
số loài cây quý, trong đó có một số loài đang có nguy cơ tuyệt chủng được đưa vào
“Sách Đỏ” của Việt Nam. Rừng núi nơi đây còn cung cấp cho con người những đặc
sản màít ởđâu cóđược như mơ Hương Tích, canh rau sắng, củ mài chùa Hương. Như
vậy khách dến đây không chỉ tham quan ngắm cảnh đẹp mà còn được thưởng thức
những món đặc sản của khu du lịch. Đây không chỉ là yếu tố thu hút một lượng
khách lớn mà còn tăng thêm nguồn thu cho người dân địa phương.
Nhìn chung hệđộng vật trong khu vực không đa dạng vê số lượng loài nhưng
xét về giá trị tài nguyên của động vật lại kháđộc đáo. Nơi đây có những dấu hiệu của
một số loài động vật quý hiếm vàđặc hữu. Qua điều tra sơ bộđã phát hiện thú thuộc
17 họ, 7 bộ; 88 loài chim thuộc 37 họ, 15 bộ và 35 loài bò sát thuộc 16 họ, 3 bộ , 15
riêng về côn trùng đã liệt kêđược 56 loài. Rừng còn có những loại động vật quý hiếm
gà lôi trắng, trăn đất, hoa mai, báo gấm, voọc má trắng, ôrô vảy, kỳđà nước là những
loài được ghi vào sách đỏ của Việt nam và thế giới
1.3.1.6. Đánh giá chung về tài nguyên Du lịch tự nhiên.
- Khu Du lịch chùa Hương thuộc vùng núi Hương Sơn - MỹĐức - Hà Tây và
nằm cách Hà Nội không xa trên trục đường giao thông thuận tiện nên có vị tríđịa lý
thuận lợi cho phát triển Du lịch.
Do đặc điểm cấu tạo địa chất nên địa hình ở khu vực kháđa dạng, phong phú,
Hội chùa Hương hàng năm được tổ chức bắt đầu tưừ ngày mùng 6 tháng 2 và
kéo dài đến hết tháng 3 âm lịch. Đây là lễ hội kéo dài nhất và thu hút lượng khách
đông nhất trên toàn quốc. Lễ hội tập chung vào dịp đầu xuân khi công việc còn chưa
bận rộn và mọi người đang còn trong không khí vui xuân của ngày tết. Hội Chùa
Hương có từ xa xưa là nơi hội tụ các sinh hoạt văn hoáđộc đáo như hội bơi thuyền,
leo núi, hát văn Đến với lễ hội du khách cóđược dịp chứng kiến tham dự vào không
khí sinh hoạt của hội làng, cảm nhận được tinh thần hồi âm về quá khứ của tổ tiên của
một làng ven sông kề núi, sẽ thấy hiện ra bóng dáng lịch sử dân dân tộc. Ngoài ra,
quanh năm khu du lịch chùa Hương còn hấp dẫn khách trong và ngoài nước đến để
chiêm ngưỡng và tìm hiểu văn hoá, tập tục tín ngưỡng của dân tộc ta.
1.3.2.2. Các di tích văn hoá.
Tháng 3 năm Canh Dần (1770) trong một chuyến du xuân, Chúa Trịnh Sâm đã
khắc vào đá 5 chữ "Nam thiên đệ nhất động" – Nghĩa làĐộng đẹp nhấ trời Nam -
trước cửa động Hương Tích. Cách đây 2000 năm toàn bộ vùng núi Hương Sơn là
rừng tự nhiên bao phủ. Đó là một nơi luyện võ của nhiều anh hùng hào kiệt nước ta
chống giặc ngoại xâm, cũng từng là con đường tiến quân của Hai Bà Trưng, Đinh
Tiên Hoàng, vua Quang Trung mà hiện nay còn để lại nhiều dấu tích.
Khu Du lịch chùa Hương gắn liền với truyền thuyết về Phật Bà Quan Âm tụ
tại động Hương Tích đã mang lại cho chùa Hương một ý nghĩa tôn giáo to lớn đồng
thời cũng là nơi thể hiện mong ước của người dân Việt nam .
Khu Du lịch chùa Hương là một quần thể các chùa như chùa Giải Oan, chùa 17
Thiên Trù, Chùa Long Vân, Suyết Sơn, đền Trình mỗi ngôi chùa lại có một nét độc
đáo riêng:
Chùa Tiên Sơn : Có 5 pho tượng đá trắng như ngọc, nơi đây thờ bà chúa Ba,
nàng công chúa hiếu hạnh nhân từ, xuất thế tu hành để chuộc tội cho chưa. Người thợ
tạc tượng đã mô tả những nét bình dị vàđôn hậu của nhân gian qua hình ảnh nhân vật
trong tượng.
thời đại đồĐồng. Những di tích khảo cổ học này mới được phát hiện trong thời gian
hơn chục năm trở lại đây, vả lại, nó chủ yếu nằm trên một tuyến chùa thuộc tuyến
Long Vân Đục Khê (còn gọi là chùa Hinh Bồng mới bến Đục Khê hay chùa Hinh
Bồng cũ bến Yến Vĩ) nên cũng mới chỉ một sốít người biết tới và cũng chưa được tổ
chức đểđông đảo khách tới tham quan các di tích khoa học này.
- Hang Sũng Sàm: được khai quật tháng 3 năm 1975 do đoàn khảo cổ khoa sử
trường Đại học Tổng hợp.
- Hang chùa Mới: hang này đã bị cải tạo song trên vách hang còn sót lại lớp
trầm tích sét vôi bở vụn, ởđây đã tìm thấy di tích xương thú, vỏ nhuyễn thể và một
cái chầy nghiền bằng đá.
- Hang Sập Bon: là một di tích dưới mái đá nhỏ thuộc núi Bon là một quả núi
lẻ nằm phía ngoài chùa Long Vân.
- Hang Thanh Sơn: nằm dưới chân núi Thanh Sơn, qua cầu Hội, băng qua
đồng trũng Hội Xá thìđến hang này. Hang này có chứa di tích nhưng đã bị cải tạo
làm chùa. Di tích khảo cổ chỉ còn thấy ở các lớp kết tầng trên vách và lớp vỏốc trên
mặt hang.
- Hang Luộn: từ núi Thanh Sơn, vượt qua núi Cật Trúc sẽ tới thung lũng, băng
qua bên trái lũng sẽ thấy hang Luộn. Đây là một hang to, rộng đã bị cải tạo làm
chùa. Trong chùa có thể thấy vết tích của tầng văn hoá còn lại, có nơi lộ rõ dầy tới
2m. trên nền và vách hang đã thu lượm được nhiều hiện vật đá cuội kiểu Hoà Bình.
Dẫy núi Hương Sơn là vùng cư trú của người xa. Trước kia người ta đã tìm
thấy nhiều hiện vật thời đồđá vàđồđồng. Gần đây dưới sự nghiên cứu của Viện khảo
cổđã phát hiện và khai quật các di tích văn hoáở các hang Sũng Sàm , Sập Bom, động 19
chùa Thanh Sơn, hang Luôn ở chùa Hương Đài. Các di tích khảo cổ thời tiền sơ sửở
một số hang động trên bao gồm một sốđồ vật thuộc nền văn hoá Hoà Bình có niên đại
dưới một vạn năm, với nhiều đồđá cuội ghèđẽo, công cụ mài lưỡi, rìu xương mài
lưỡi, mảnh gốm thô và cả di cốt người tiền sử, họđã hái lượm săn bắn làm nguồn
cho gia đình và bản thân được thanh thản trước cử Phật.
1.4.2. Du lịch tham quan.
Là hoạt động Du lịch nhằm đáp ứng được nhu cầu mong muốn được tìm hiểu
nâng cao nhận thức của con người tại các khu vực khác nhau trong khu du lịch.
- Khu vực 1: Tại các vùng đỉnh núi đá vôi với hệ sinh thái rừng thứ sinh tuy các
cây gỗ lớn đãít nhiều bị chặt phá nhưng sinh cảnh rừng vẫn rất thích hợp phục vụ du
khách có nhu cầu quan sát, tham quan, nghiên cứu sinh cảnh rừng.
- Khu vực 2: Tại các vùng đỉnh núi đá vôi với hệ thống sinh thái cây bụi bỏ
hoang có thể tạo quang cảnh đẹp vừa phục vụ tham quan ngắm cảnh và thưởng thức
những đặc sản của vùng đá vôi như: mơ, mận, Khu du lịch này không chỉ tăng sức
hấp dẫn thu hút khách mà còn đem lại hiệu quả kinh tế cao
- Khu vực 3: Tại các vùng có bề mặt đỉnh khá bằng phẳng cùng lợi thế dáng vẻ
cheo leo và tầm quan sát rộng để ngắm nhìn trời đất bao la ngắm ban mai, hoàng
hôn… cùng hình ảnh các sư gia ngồi thiền nhập đạo ở các bãi đá bằng phẳng để giúp
du khách hiểu biết thêm vềđạo Phật với tiềm thức trở lại với cội nguồn.
- Khu vực 4: Tại các thung lũng karst với rừng thứ sinh phục vụ cho tham
quan, ngắm cảnh, khoa học.
- Khu vực 5: Tại các khu vực có bề mặt nước giúp khách có thểđi tham quan
cảnh quan mặt nước thơ mộng giữa hai sườn núi "sơn thuỷ hữu tình".
1.4.3. Du lịch Thám hiểm.
Với lợi thế chiều cao của các đỉnh núi và sựđa dạng của thảm thực vật bao phủ
có thể phát triển Du lịch leo núi cho các du khách thích cảm giác mạnh, bị chinh phục
bởi dáng vẻ cheo leo, hiểm hóc của các đỉnh núi đá vôi.
1.4.4. Du lịch Nghỉ dưỡng.
Trên các bậc thềm ở chân núi hoang tại các vùng ven hồ - các đảo nổi - đầm 21
nước có thể xây dựng các khu nghỉ dưỡng với các mô hình kiến trúc hoà hợp với du
khách để có thể nghỉ ngơi, thư giãn trong khung cảnh sông núi bao quanh, hoà mình
(Đơn vị tính: nghìn người)
Nội Dung
Năm 1997 Năm 1998 Năm 1999 Năm 2000 Năm 2002
NĐ QT NĐ QT NĐ QT NĐ QT NĐ QT
Chùa
Hương
LK 250,0 6,75 262,0 8,0 387,0 8,0 380,1 22,9 396,3
23,0
% 97.3 2.7 87.8 2.2 98 2 94.4 5.6 94.2 5.8
Hà Tây
LK 373,0 45 388,8 46,0 1.135 55,6 1.148 84,91
1.415
85,0
% 98.8 1.2 94.8 5.2 95.2 4.8 93.1 6.9 94.3 5.7
(Nguồn: Sở Du lịch Hà Tây)
Nhìn vào kết quả trên ta thấy tổng lượng khách đến chùa Hương từ năm 1997 –
2002 có tăng nhưng không đều; Tổng lượng khách đến chùa Hương năm 1999 tăng
mạnh đạt 395.000 lượt khách, tức tăng 125.000 lượt khách tương đương 146%và tăng
đều năm 2000. Năm 2002 lượng khách quốc tế và khách nội địa tăng không đáng kể
so với năm 2000. Tổng lượng khách năm 2002 chỉđạt 419.300 lượt khách tức tăng 23
24
+ Khách đến với mục đích khác: 03%.
Theo kết quả khảo sát cho thấy lượng khách đến chùa Hương chiếm tỉ lệ lớn so
với lượng khách đến với Hà Tây. Trong số này hầu hết là những người hành hương
tín ngưỡng, với đủ các thành phần những người già, thương nhân, học sinh, sinh viên
đến cầu tài, cầu lộc, cầu an cho gia đình và bản thân. Trong đó, khách thường đi theo
3 tuyến chính:
+ Động Hương Tích: 100%
+ Chùa Tuyến Sơn: 40%
+ Chùa Long Vân: 35%
- Khách tới chùa Hương chủ yếu là khách trong ngày, một sốít khách ở xa thì
lưu lại qua đêm (2%) chủ yếu nghỉ lại các nhà trọ bình dân.
2.1.2. Doanh thu.
Do lượng khách đến chùa Hương chiếm phần lớn tổng lượng khác đến Hà Tây
nên doanh thu tại khu vực này chiếm một tỉ lệ cao so với tổng doanh thu của toàn
ngành Du lịch tỉnh Hà Tây.
Bảng 4 : Tình hình doanh thu của chùa Hương năm 1998-2001.
Nội dung VND 1997 1998 1999 2000 2002
2002 So với
2000 (%)
Tổng Doanh thu
Triệu 65.000
72000 82000
83723
259 266 207 207 230 116.9 25
So với DT dl toà
n
tỉnh
% 5.6 5.9 5.6 6.1 5.9
(Nguồn: Sở Du lịch Hà Tây)
Nhận xét: Tổng doanh thu của khu du lịch chùa Hương tăng mạnh vào năm
1999 đạt 82.000 triệu đồng, tăng 16.7% so với năm 1998 nhưng đến năm 2002 chỉđạt
80.251triệu đồng, giảm 4.2% so với năm 2000. Doanh thu khu vực nhà nước hiện nay
vẫn chiếm tỷ lệ nhỏ trong tổng doanh thu, chỉ chiếm khoảng 41.1% nhưng có xu
hướng tăng lên. Đến năm 2002 tỷ lệ doanh thu của các doanh nghiệp chiếm 42.3% do
các doanh nghiệp nhà nước về cơ bản đãđược sắp xếp lại, đổi mới quản lý, nâng cao
sức cạnh tranh.
Cơ cấu chi tiêu của khách có sự chênh lệch quá lớn. Trung bình một khách
quốc tế có mức chi tiêu là 700.000 đồng và khách nội địa khoảng 250.000 đồng trong
đó tiền vé vàđò là 25.000 đồng, tiền lưu trú qua đêm không đáng kể còn lại là việc chi
cho nhu cầu ăn uống, mua sắm. Mức chi tiêu như vậy so với tiềm năng du lịch vẫn
còn thấy và không được phân bốđồng đều.
Tuy có sự tăng trưởng về khách và doanh thu và mức tiêu thụ bình quân của
khách có tỷ lệ cao hơn so với các điểm du lịch khác, nhưng vẫn còn thấp và còn chưa
tương xứng với khu du lịch vì: khách tham quan trong ngày, ít lưu trú lại qua đêm và
thường có thói quen mang theo thức ăn trong các chuyến đi, ít sử dụng dịch vụ tại
điểm du lịch dẫn đến mức chi tiêu của khách còn thấp. Sở dĩ có hiện tượng như vậy vì
giá cảđồăn uống và các dịch vụ tại các điểm du lịch còn ở mức cao vượt quá khả năng
chi trả của người khách. Điều kiện ăn uống còn chưa đảm bảo, không phù hợp với
khẩu vị của khách. Điều này làm cho doanh thu của doanh nghiệp mất đi một phần
đáng kể từ dịch vụ cho thuê phòng, dịch vụăn uống và các dịch vụ khác vừa gây mất