Xây dựng mô hình quản lý khai thác khu du lịch Chùa Hương - Pdf 88

LỜINÓIĐẦU
Chùa Hương! hai tiếng ấy dường nhưđã quáđỗi gần gũi mà thiêng liêng với tất
thảy mỗi người Việt Nam, để rồi:
"Chẳng đi thì nhớ thì thương
Ra đi mến cảnh chùa Hương không về"
Nhưng Hương Sơn không chỉ là một chốn non kỳ thuỷ tú, là danh thắng biệt
chiếm "nhất Nam thiên". Mà nơi đây còn là cội nguồn của các tín ngưỡng dân gian,
là cõi tâm linh huyền ảo, một trong những trung tâm lớn nhất của Phật giáo Việt
Nam đương đại. Theo như Phật tích còn lưu lại cho đến nay thìđây là nơi lưu dấu
Đức Quan ThếÂm Bồ Tát ứng thân làm công chúa Diệu Thiện con vua Diệu Trang
Vương đã tẩy bụi trần tại suối Giải Oan rồi tu hành đắc đạo tại Hương Tích Bảo
Động, trở thành bà mẹđộ lượng, bao dung cho mọi sinh linh mà ngày nay linh tượng
của người còn lưu lại ở nơi đây mà dân gian vẫn gọi là Bà Chúa Ba.
Theo những tư liệu lịch sử cho thấy chùa Hương có thểđã ra đời từ thời Lê
Thánh Tông niên hiệu Quang Thuận thứ 8 (1476). Khi đi tuần phú phương Nam ngài
đã nghỉở chốn này và cho đến khi Tĩnh đô vương Trịnh Sâm xa giáđến đây vào năm
Canh Dần (1770) thìông đã khẳng định đây chính là "Nam Thiên đệ nhất động" và
cho tạc vào cửa động dòng chữ này.
Để rồi cùng với tạo hoá, con người đã góp công cho chùa Hương trở thành một
quần thể kiến trúc nguy nga tráng lệ giữa ngàn non mà có "cao chất ngất mấy toà cổ
soái". Nhưng đáng tiếc thay, trải qua bao dâu bể thăng trầm giặc ngoại xâm bao lần
gây binh lửa can qua, xoáđi bao công trình tú lệ. Nhưng không vì thế mà "Hương
Tích" ngớt hương thơm, ngược lại hàng năm chùa Hương vẫn rộng mở thiền môn
đón hàng chục vạn chúng Phật tử hành hương vềđất phật. Tạo ra một lễ hội tôn giáo
lớn và kéo dài bậc nhất ở nước Nam ta và cũng là lễ hội dài hiếm thấy trên thế giới.
Đây chính là cơ hội lớn cho ngành du lịch nước nhà, vì thế từ nhiều năm nay khu
danh thắng di tích Hương Sơn đãđược đưa vào khai thác phục vụ ngành du lịch, là
một trong những địa chỉ quan trọng trên bản đồ du lịch Việt Nam. Tuy nhiên cũng
1
như hầu hết các điểm du lịch khác, nhiều tiềm năng của khu danh thắng Hương sơn
chưa được khai thác hoặc khai thác chưa đúng mức, nhiều giá trị về tín ngưỡng, tâm

biệt với người dân Việt ở mọi miền đất nước. Có thể nói, khu Du lịch thắng cảnh
chùa Hương là một bức tranh “ sơn thuỷ hữu tình” rất đep, rất nên thơ do thiên nhiên
và con người tạo dựng.
Chẳng thế Chùa Hương đãđược thi sĩ Tản Đà phác họa bằng bốn câu thơ :
“ Chùa Hương trời điểm lại trời tô
Một bức tranh tình trải mấy thu
Xuân lại xuân đi không dấu vết
Ai về ai nhớ vẫn thơm tho”
Theo Quy hoạch tổng thể phát triển Việt Nam nói chung và Quy hoạch tổng
3
thể phát triển Du lịch Hà Tây nói riêng thời kì 1995 ( 2010 đã xác định Chùa Hương
làđiểm Du lịch quan trọng cóý nghĩa quốc gia và Quốc tếở khu Du lịch Bắc Bộ. Do
cách Hà Nội không xa và tương đối thuận lợi trong giao thông, chùa Hương là một
trong những điểm du khách quốc tế quan tâm hàng đầu khi đặt chân đến thủđô Hà
Nội.
Tuy nhiên, việc khai thác các hoạt động du lịch ở Chùa Hương thực sự vẫn
chưa tương xứng với những tiềm năng to lớn về tài nguyên nhân văn và tự nhiên của
khu vực. Trong những năm gần đây đã xuất hiện nhiều vấn đề cần quan tâm nghiên
cứu một cách nghiêm túc trước những thực trạng đang đặt ra đối với vấn đề phát triển
của khu du lịch. Một trong những vấn đề bức xúc kìm hãm sự phát triển của Chùa
Hương là cho đến nay khu Du lịch thắng cảnh chùa Hương vẫn chưa tìm được mô
hình quản lý phù hợp làm cơ sở cho sự phát triển của khu vực.
Việc xây dựng một mô hình quản lý khai thác tài nguyên khu Du lịch chùa
Hương là một yêu cầu cấp thiết mang ý nghĩa lý luận và thực tiễn cao không chỉđối
với sự phát triển của du lịch Hà Tây mà còn góp phần tích cực cho sự nghiệp phát
triển kinh tế - xã hội của địa phương. Ngoài ra, sự phát triển bền vững của khu Du
lịch thắng cảnh chùa Hương còn đáp ứng được yêu cầu chiến lược, phát triển trung
tâm Du lịch Hà Nội và phụ cận, cũng như của vùng Bắc Bộ và Du lịch cả nước.
Với những lý do trên, được sự giúp đỡ tận tình của TS. Trần Nhạn cùng các
thầy cô giáo khoa Văn hoá du lịch trường ĐH Văn Hoá, ban lãnh đạo, các chuyên

theo từng giai đoạn công việc khác nhau, các phương pháp được sử dụng thích hợp
bao gồm các phương pháp sau: Duy vật lịch sử, duy vật biện chứng, phương pháp thu
nhập số liệu (thứ cấp, sơ cấp), phương pháp khảo sát thực địa, thống kê, phân tích,
tổng hợp.
5. KẾTCẤUCỦAĐỀTÀI.
Ngoài phần mởđầu và kết luận đề tài nghiên được bố cục làm 3 chương:
Chương 1: Khái quát về khu Du lịch chùa Hương.
5
Chương 2: Thực trạng phát triển Du lịch và tổ chức quản lý khai thác tài
nguyên khu Du lịch chùa Hương.
Chương 3: Một số kiến nghị xây dựng mô hình quản lý khai thác tài nguyên
khu Du lịch chùa Hương.
B. PHẦN NỘI DUNG.
CHƯƠNG I.
KHÁIQUÁTVỀKHU DULỊCHCHÙA HƯƠNG.
1.1. VỊTRÍĐỊALÝCỦAKHU DULỊCHCHÙA HƯƠNG.
Khu Du lịch thắng cảnh chùa Hương bao gồm phân giới hành chính của 4 xã
Hương Sơn, An Tiến, Hùng Tiến và An Phú thuộc huyện MỹĐức tỉnh Hà Tây, với
diện tích 5131 ha.
Khu Du lịch chùa Hương nằm trong toạđộđịa lý từ 20
0
29' đến 20
0
24' vĩđộ Bắc
và 105
0
41' kinh độĐông. Phía Nam giáp tỉnh Nam Hà, phía Bắc vàĐông thuộc tỉnh
Hà Tây, phía Tây giáp tỉnh Hoà Bình. Khu Du lịch thắng cảnh chùa Hương cách Hà
Nội về phía Tây- Nam khoảng 60km.
1.2. ĐIỀUKIỆNDÂNSỐVÀLỊCHSỬ.

Năm 1687 hoà thượng Trần Đạo Viên Quang mới chống thiền trượng hoằng
truyền và xiển dương đạo Phật khiến vùng này trở thành nơi linh sơn phúc địa.
Đến đầu năm 1947 chùa Hương đã trải qua 9 đời tổ sư nối tiếp xây dựng và
luôn được sựủng hộ của thiện tín muôn phương và nhân dân sở tại. Ngày 17/02/1947
giặc Pháp đã tàn phá Thiên Trù và Tiên Sơn nhưng sau hoà bình lập lại với sự chỉđạo
của nghành văn hoá và chủ trương đúng đắn của nhà nước, thắng cảnh chùa Hương
không những được khôi phục mà ngày càng được mở rộng và phát triển đến hôm nay.
1.3. TÀINGUYÊN DULỊCHCHÙA HƯƠNG.
7
Toàn bộ khu thắng cảnh là một bức tranh toàn mỹ cả về bố cục lẫn màu sắc,
nội dung vàđường nét. Âm hưởng chính của bức tranh ấy là sự hoà quện của đạo với
đời, của thiên nhiên hoang sơ với bóng dáng con người. Hàng năm Chùa Hương đón
tiếp đông đảo nhân dân ở các mọi miền đất nước, kiều bào ở nước ngoài và khách
quốc tếđến thăm. Trong tâm trí của mỗi người dân Việt Nam, Chùa Hương được coi
là báu vật của quốc gia, một tài sản vô giá của hôm qua, hôm nay và mai sau.
Đây là nơi hội tụ của những giá trị to lớn về tài nguyên du lịch tự nhiên và
nhân văn đã khiến Chùa Hương trở thành điểm du lịch nổi tiếng trong và ngoài nước.
1.3.1. Tài nguyên Du lịch tự nhiên.
1.3.1.1. Vị tríđịa lý.
Vị tríđịa lý của Du lịch chùa Hương có lợi thế hơn hẳn các điểm Du lịch khác.
Từ thủđô Hà Nội hoặc các tỉnh đồng bằng có thể liên hệ thuận tiện với khu Du lịch
bằng đường bộ, đường sông. Ngoài ra, nơi dừng chân của khách quốc tếở khu vực
phía Bắc thường là Hà Nội nên chùa Hương chính làđiểm thu hút khách tới tham
quan để tìm hiểu phong tục tập quán của người Việt Nam cũng như tín ngưỡng Phật
Giáo. Đây làđiểm du lịch văn hoá, tham quan, nghiên cứu cóý nghĩa quốc gia và quốc
tế, không chỉđối với Hà Tây mà còn với trung tâm du lịch Hà Nội và phụ cận, vùng
du lịch Bắc Bộ.
1.3.1.2. Địa hình, địa mạo, địa chất.
Khu Du lịch chùa Hương thuộc phần cuối của dẫy núi đá vôi kéo dài từ Lan
Nhi Thăng, cao nguyên Sơn La, cao nguyên Mộc Châu, vùng đá vôi Hoà Bình - Ninh

thuỷ hữu tình” có lợi thế rất lớn về mức độ hâp dẫn du khách.
1.3.1.3. Khí hậu, thời tiết.
Khí hậu thời tiết luôn là yếu tốảnh hưởng lớn tới khách du lịch. Chính khí hậu
tạo ra từng loại thời tiết vàđịnh ra mùa du lịch. Khu du lịch chùa Hương nằm hoàn
toàn trong vành đai khí hậu nóng, hàng năm có hai lần mặt trời đi qua thiên đỉnh.
Đặc biệt với lễ hội chùa Hương thì thời tiết mùa xuân là quan trọng vì nó trực
9
tiếp tác động tới hoạt động của lễ hội. Thòi tiết mùa xuân với nhiệt độ dễ chịu
16-20
0
C. Mặt trời chuyển dịch lên cao,nắng xuân ấm dịu. Mưa chủ yếu là mưa bay,
mưa bụi, mưa phùn lên một màn trắng hưảo, mong manh trước cổng chùa và trên cả
núi rừng Hương Sơn. Đó là yếu tố thuận lợi cho khách vì khách sẽ cảm thấy bầu
không khí khác lạ, yên tĩnh, tôn nghiêm, linh thiêng và phần nào bớt mệt khi leo núi.
- Tổng nhiệt độđạt từ 8000
0
C – 8500
0
C/năm. Nhiệt độ trung bình năm là
23.3
0
C/năm. Một năm chia làm hai mùa nóng lạnh rõ rệt. Thời kỳ nóng nhất nhiệt
trung bình là 27
0
C . Thời kỳ lạnh nhất có nhiệt độ trung bình 18
0
C. Thời kỳ tháng
3,4,9,10,11 tương đối thích nghi với sức khoẻ con người thuận lợi cho tham quan,
nghỉ dưỡng.
Chếđộ gió nói chung không gây tác động xấu đến sức khoẻ con người, tạo độ

4 Rất nóng 29-32 32-35 14-19 <1250
5 K
o
thích nghi >32 >35 >19 <650
(Nguồn : Viện nghiên cứu và phát triển du lịch)
Qua bảng số liệu trên và tình hình khí hậu khu du lịch Chùa Hương ta thấy khí
hậu ởđây thuộc vào loại thích nghi và khá thích nghi, phù hợp với sức khoẻ con
người. Đây là một trong những yếu tố hấp dẫn thu hút khách du lịch. Trên cơ sởđó
khu du lịch cần khai thác triệt để khía cạnh này, một mặt cũng cần có những biện
pháp phòng chống những khó khăn do khí hậu gây ra như nhiệt độ vào mùa hè cao,
cần có những thiết bị chống nóng trong nhà nghỉ cho khách, hay trồng nhiều cây để
lấy bóng mát và tạo cảnh quan thêm đẹp.
1.3.1.4. Thuỷ văn.
Để phục vụ cho khách du lịch thì nguồn nước đóng vai trò quan trọng. Nguồn
nước ảnh hưởng tới môi trường sống còn lại trong khu vực và phục vụ cho môi
trường sinh hoạt vệ sinh của dân c và khách du lịch.Mạng lới thuỷ văn của huyện
MỹĐức rất phong phú gồm lưu lượng nước của hai con sông lớn: sông Đáy, sông
Thanh Hà và hệ thống suối : suối Yến, suối Long Vân … đều do nguồn nước ngầm
Karst cung cấp tạo ra dòng chảy quanh năm.
Đặc biệt với dòng suối Yến hiền hoà thơ mộng uốn lượn quanh co chạy dài
3km mất khoảng một giờđi đòđưa du khách đến chùa Thiên Trùđể vào động Hương
Tích. Không chỉđóng vai trò là dòng chảy đón đưa du khách mà suối Yến còn tạo cho
du khách cảm giác lãng mạn, thả hồn trước cảnh “Sơn thuỷ hữu tình “. Chẳng thế mà
Chu Mạnh Trinh đã phải thốt lên khi tới Chùa Hương “ kìa non non, nước nước, mây
mây\ Đệ nhất động hỏi rằng đây có phải”. Đây chính là một yếu tố tăng sức hấp dẫn ở
Chùa Hương.
Theo điều tra nghiên cứu của Viện nghiên cứu và phát triển du lịch thì hệ thống
thuỷ văn rất phong phú, với tầng nước ngầm dồi dào sẽ là một điểm mạnh để cung
cấplượng nước đảm bảo cho việc khai thác, phục vụ các nhu cầu du lịch, sinh hoạt
của khách và dân cư.

12
Trước hết, khu vực này là nơi giao thoa của ba luồng thực vật : Bẵc - Việt Nam
- Indonêxia, Skim - Malayxia nên hệ thực vật kháđa dạng với đặc trưng cho hệ thực
vật đá vôi ở vùng thấp.
Theo điều tra thống kê sơ bộ thì nơi đây có khoảng 350 loài thảo mộc, thuộc 92
họ. ởđây có 6 ngành thực vật bặc cao đó là ngành lá thông, ngành tháp bút, ngành
thông đất, ngành dương xỉ, ngành hạt trần, ngành hạt kín. Trong rừng có nhiều loại gỗ
quý như : lát hoa, thông. bắch, lim …Có những cây cổ thụ sống lẻ loi như cây sang
(hoa phớt vàng, quả giống quả bồ kết). Tuy nhiên cây ởđây phần lớn là cây thứ
sinh :dẻ, gai, muồng,cây dây leo. Nhiều nhất là cây Quạch. Cũng có nhiều cây làm
thuốc như cây ổ rồng vàng chữa bệnh lành xương, củ khúc chữa bệnh tê thấp, củ sâm
làm thuốc bổ....Ngoài ra có một lớp phủ thực vật dày đặc mọc ở các ngọn núi như lan,
cỏ tranh, cỏ vông....tạo nên một bức tranh thiên nhiên tạo cảm giác khá hấp dẫn du
khách du lịch. Đặc biệt khi nói đến tài nguyên thực vật không thể không nhắc tới một
số loài cây quý, trong đó có một số loài đang có nguy cơ tuyệt chủng được đưa vào
“Sách Đỏ” của Việt Nam. Rừng núi nơi đây còn cung cấp cho con người những đặc
sản màít ởđâu cóđược như mơ Hương Tích, canh rau sắng, củ mài chùa Hương. Như
vậy khách dến đây không chỉ tham quan ngắm cảnh đẹp mà còn được thưởng thức
những món đặc sản của khu du lịch. Đây không chỉ là yếu tố thu hút một lượng
khách lớn mà còn tăng thêm nguồn thu cho người dân địa phương.
Nhìn chung hệđộng vật trong khu vực không đa dạng vê số lượng loài nhưng
xét về giá trị tài nguyên của động vật lại kháđộc đáo. Nơi đây có những dấu hiệu của
một số loài động vật quý hiếm vàđặc hữu. Qua điều tra sơ bộđã phát hiện thú thuộc
17 họ, 7 bộ; 88 loài chim thuộc 37 họ, 15 bộ và 35 loài bò sát thuộc 16 họ, 3 bộ ,
riêng về côn trùng đã liệt kêđược 56 loài. Rừng còn có những loại động vật quý hiếm
gà lôi trắng, trăn đất, hoa mai, báo gấm, voọc má trắng, ôrô vảy, kỳđà nước...là những
loài được ghi vào sách đỏ của Việt nam và thế giới
1.3.1.6. Đánh giá chung về tài nguyên Du lịch tự nhiên.
- Khu Du lịch chùa Hương thuộc vùng núi Hương Sơn - MỹĐức - Hà Tây và
13

say mê với cảnh “ hương trời sắc núi , cảnh bụt trời tiên”.
Hội chùa Hương hàng năm được tổ chức bắt đầu tưừ ngày mùng 6 tháng 2 và
kéo dài đến hết tháng 3 âm lịch. Đây là lễ hội kéo dài nhất và thu hút lượng khách
đông nhất trên toàn quốc. Lễ hội tập chung vào dịp đầu xuân khi công việc còn chưa
bận rộn và mọi người đang còn trong không khí vui xuân của ngày tết. Hội Chùa
Hương có từ xa xưa là nơi hội tụ các sinh hoạt văn hoáđộc đáo như hội bơi thuyền,
leo núi, hát văn....Đến với lễ hội du khách cóđược dịp chứng kiến tham dự vào không
khí sinh hoạt của hội làng, cảm nhận được tinh thần hồi âm về quá khứ của tổ tiên của
một làng ven sông kề núi, sẽ thấy hiện ra bóng dáng lịch sử dân dân tộc. Ngoài ra,
quanh năm khu du lịch chùa Hương còn hấp dẫn khách trong và ngoài nước đến để
chiêm ngưỡng và tìm hiểu văn hoá, tập tục tín ngưỡng của dân tộc ta.
1.3.2.2. Các di tích văn hoá.
Tháng 3 năm Canh Dần (1770) trong một chuyến du xuân, Chúa Trịnh Sâm đã
khắc vào đá 5 chữ "Nam thiên đệ nhất động" – Nghĩa làĐộng đẹp nhấ trời Nam
-trước cửa động Hương Tích. Cách đây 2000 năm toàn bộ vùng núi Hương Sơn là
rừng tự nhiên bao phủ. Đó là một nơi luyện võ của nhiều anh hùng hào kiệt nước ta
chống giặc ngoại xâm, cũng từng là con đường tiến quân của Hai Bà Trưng, Đinh
Tiên Hoàng, vua Quang Trung mà hiện nay còn để lại nhiều dấu tích.
Khu Du lịch chùa Hương gắn liền với truyền thuyết về Phật Bà Quan Âm tụ
tại động Hương Tích đã mang lại cho chùa Hương một ý nghĩa tôn giáo to lớn đồng
thời cũng là nơi thể hiện mong ước của người dân Việt nam .
Khu Du lịch chùa Hương là một quần thể các chùa như chùa Giải Oan, chùa
Thiên Trù, Chùa Long Vân, Suyết Sơn, đền Trình... mỗi ngôi chùa lại có một nét độc
đáo riêng:
Chùa Tiên Sơn : Có 5 pho tượng đá trắng như ngọc, nơi đây thờ bà chúa Ba,
nàng công chúa hiếu hạnh nhân từ, xuất thế tu hành để chuộc tội cho chưa. Người thợ
tạc tượng đã mô tả những nét bình dị vàđôn hậu của nhân gian qua hình ảnh nhân vật
15
trong tượng.
Chùa Giải Oan với ao trong thiên nhiên chứa nước mạch trong núi chảy ra rất

Bồng cũ bến Yến Vĩ) nên cũng mới chỉ một sốít người biết tới và cũng chưa được tổ
chức đểđông đảo khách tới tham quan các di tích khoa học này.
- Hang Sũng Sàm: được khai quật tháng 3 năm 1975 do đoàn khảo cổ khoa sử
trường Đại học Tổng hợp.
- Hang chùa Mới: hang này đã bị cải tạo song trên vách hang còn sót lại lớp
trầm tích sét vôi bở vụn, ởđây đã tìm thấy di tích xương thú, vỏ nhuyễn thể và một
cái chầy nghiền bằng đá.
- Hang Sập Bon: là một di tích dưới mái đá nhỏ thuộc núi Bon là một quả núi
lẻ nằm phía ngoài chùa Long Vân.
- Hang Thanh Sơn: nằm dưới chân núi Thanh Sơn, qua cầu Hội, băng qua
đồng trũng Hội Xá thìđến hang này. Hang này có chứa di tích nhưng đã bị cải tạo
làm chùa. Di tích khảo cổ chỉ còn thấy ở các lớp kết tầng trên vách và lớp vỏốc trên
mặt hang.
- Hang Luộn: từ núi Thanh Sơn, vượt qua núi Cật Trúc sẽ tới thung lũng, băng
qua bên trái lũng sẽ thấy hang Luộn. Đây là một hang to, rộng đã bị cải tạo làm
chùa. Trong chùa có thể thấy vết tích của tầng văn hoá còn lại, có nơi lộ rõ dầy tới
2m. trên nền và vách hang đã thu lượm được nhiều hiện vật đá cuội kiểu Hoà Bình.
Dẫy núi Hương Sơn là vùng cư trú của người xa. Trước kia người ta đã tìm
thấy nhiều hiện vật thời đồđá vàđồđồng. Gần đây dưới sự nghiên cứu của Viện khảo
cổđã phát hiện và khai quật các di tích văn hoáở các hang Sũng Sàm , Sập Bom, động
chùa Thanh Sơn, hang Luôn ở chùa Hương Đài. Các di tích khảo cổ thời tiền sơ sửở
một số hang động trên bao gồm một sốđồ vật thuộc nền văn hoá Hoà Bình có niên đại
dưới một vạn năm, với nhiều đồđá cuội ghèđẽo, công cụ mài lưỡi, rìu xương mài
lưỡi, mảnh gốm thô và cả di cốt người tiền sử, họđã hái lượm săn bắn làm nguồn
sống chính và cũng là bước dạo đầu của nền nông nghiệp nông sản xuất. Ngoài ra,
17
còn có rất nhiều ngôi chùa mang đầy vẻ huyền bí, cuốn hút người dân Việt Nam, một
dân tộc luôn hướng về cái thiện mong muốn cuộc sống tốt đẹp hơn, có lòng tin và
luôn hướng về cội nguồn.
1.3.2.4. Đánh giá chung về tài nguyên Du lịch nhân văn.

- Khu vực 2: Tại các vùng đỉnh núi đá vôi với hệ thống sinh thái cây bụi bỏ
hoang có thể tạo quang cảnh đẹp vừa phục vụ tham quan ngắm cảnh và thưởng thức
những đặc sản của vùng đá vôi như: mơ, mận,... Khu du lịch này không chỉ tăng sức
hấp dẫn thu hút khách mà còn đem lại hiệu quả kinh tế cao
- Khu vực 3: Tại các vùng có bề mặt đỉnh khá bằng phẳng cùng lợi thế dáng vẻ
cheo leo và tầm quan sát rộng để ngắm nhìn trời đất bao la ngắm ban mai, hoàng
hôn… cùng hình ảnh các sư gia ngồi thiền nhập đạo ở các bãi đá bằng phẳng để giúp
du khách hiểu biết thêm vềđạo Phật với tiềm thức trở lại với cội nguồn.
- Khu vực 4: Tại các thung lũng karst với rừng thứ sinh phục vụ cho tham
quan, ngắm cảnh, khoa học.
- Khu vực 5: Tại các khu vực có bề mặt nước giúp khách có thểđi tham quan
cảnh quan mặt nước thơ mộng giữa hai sườn núi "sơn thuỷ hữu tình".
1.4.3. Du lịch Thám hiểm.
Với lợi thế chiều cao của các đỉnh núi và sựđa dạng của thảm thực vật bao phủ
có thể phát triển Du lịch leo núi cho các du khách thích cảm giác mạnh, bị chinh phục
bởi dáng vẻ cheo leo, hiểm hóc của các đỉnh núi đá vôi.
1.4.4. Du lịch Nghỉ dưỡng.
Trên các bậc thềm ở chân núi hoang tại các vùng ven hồ - các đảo nổi - đầm
nước có thể xây dựng các khu nghỉ dưỡng với các mô hình kiến trúc hoà hợp với du
khách để có thể nghỉ ngơi, thư giãn trong khung cảnh sông núi bao quanh, hoà mình
với thiên nhiên.
1.4.5. Du lịch Thể thao.
Đây là khu vực cóđịa hình đa dạng và phong phú nên có thể phát triển các loại
19
hình thể thao thích hợp để phục vụ nhu cầu ngày càng cao của du khách như leo núi,
chạy trong rừng, đi dã ngoại, cỡi ngựa…
1.4.6. Du lịch Vui chơi, giải trí.
Tại các khu vực tập trung đông dân, du khách như khu dân cư, bến xe, điểm
phục vụ có thể phát triển các loại hình vui chơi giải tríđể thu hút khác sau khi đi vãn
cảnh chùa, tuy nhiên cần lưu ýđây là vấn đề tôn nghiêm mang nội dung ý nghĩa tâm

2002 có tăng nhưng không đều; Tổng lượng khách đến chùa Hương năm 1999 tăng
mạnh đạt 395.000 lượt khách, tức tăng 125.000 lượt khách tương đương 146%và tăng
đều năm 2000. Năm 2002 lượng khách quốc tế và khách nội địa tăng không đáng kể
so với năm 2000. Tổng lượng khách năm 2002 chỉđạt 419.300 lượt khách tức tăng
16.300 lượt khách, tương đương tăng 4.1% so với năm 2000.
Lượng khách nội địa tăng mạnh vào năm 1999 nhưng các năm tiếp theo lại có
21
xu hướng giảm dần. Đến năm 2002 khách nội địa chỉđạt 396.300 lượt khách giảm
15.200 lượt khách tương đương tăng 4% so với năm 2000.
Lượng khách quốc tếđến chùa Hương tăng mạnh vào năm 2000 đạt 22.900 lượt
khách đạt 5.6%, tổng số khách tăng14.900 lượt khách tức đạt 286%. Đó là con
sốđáng phấn khởi nhưng đến năm 2002 số lượng khách quốc tế chỉđạt 23.000 lượt
khách tức chỉ tăng 0.4% so với năm 2000 chỉ chiếm 5.8% tổng số khách đến chùa
Hương và so với lượng khách quốc tếđến Hà Tây đạt 20%.Tỷ lệ khách quốc tế so với
tổng số khách tại khu vực Chùa Hương vẫn còn thấp hơn so với cả tỉnh rất nhiều vào
những năm 1998, 1999 (3-2.8%). Đó chưa phải là con sốđáng mừng vì lượng khách
quốc tế chưa chiếm tỷ lệ không cao do hạ tầng cơ sở vật chất phục vụ còn kém chưa
đạt tiêu chuẩn và những nhu cầu của khách.
2.1.1.2. Luồng khách
- Khách du lịch trong nước tới chùa Hương bao gồm: khu vực phía Bắc và các
tỉnh khác trong cả nước. Trong đó lượng khách đến đông nhất từ Hà Nội khoảng 43%
là nguồn khách chủ yếu đến Chùa Hương, Hà Tây đứng thứ hai với lượng khách
khoảng 17%, khách đến từ Hải Phòng 14,2%, Nam Định, Thanh Hoá 12%, còn lại là
từ các tỉnh khác trong cả nước. Sự chênh lệch trong cơ cấu khách đến chùa Hương là
rất lớn điều đó thể hiện sự phát triển tự phát của thị trường khách đến thiếu sựđịnh
hướng và quy hoạch cụ thể. đặc biệt là sự yếu kém trong công tác tuyên truyền quảng
bá tới các khu vực thị trường khác đặc biệt là thị trường từ các tỉnh phía Nam. Khách
đến chùa Hương hiện nay vẫn chủ yếu gói gọn trong phạm vi các tỉnh liền kề có hệ
thống giao thông thuận tiện và thuận lợi cho việc đi về trong ngày.
Khách đến chùa Hương với nhiều mục đích khác nhau nhưng mục đích cao

Triệu 37310 42430 46371 44723 55569 119.7
Chi tiêu TB/ 1
khách.
Nghìn 259 266 207 207 230 116.9
So với DT dl toàn
tỉnh
% 5.6 5.9 5.6 6.1 5.9
(Nguồn: Sở Du lịch Hà Tây)
Nhận xét: Tổng doanh thu của khu du lịch chùa Hương tăng mạnh vào năm
23
1999 đạt 82.000 triệu đồng, tăng 16.7% so với năm 1998 nhưng đến năm 2002 chỉđạt
80.251triệu đồng, giảm 4.2% so với năm 2000. Doanh thu khu vực nhà nước hiện nay
vẫn chiếm tỷ lệ nhỏ trong tổng doanh thu, chỉ chiếm khoảng 41.1% nhưng có xu
hướng tăng lên. Đến năm 2002 tỷ lệ doanh thu của các doanh nghiệp chiếm 42.3% do
các doanh nghiệp nhà nước về cơ bản đãđược sắp xếp lại, đổi mới quản lý, nâng cao
sức cạnh tranh.
Cơ cấu chi tiêu của khách có sự chênh lệch quá lớn. Trung bình một khách
quốc tế có mức chi tiêu là 700.000 đồng và khách nội địa khoảng 250.000 đồng trong
đó tiền vé vàđò là 25.000 đồng, tiền lưu trú qua đêm không đáng kể còn lại là việc chi
cho nhu cầu ăn uống, mua sắm. Mức chi tiêu như vậy so với tiềm năng du lịch vẫn
còn thấy và không được phân bốđồng đều.
Tuy có sự tăng trưởng về khách và doanh thu và mức tiêu thụ bình quân của
khách có tỷ lệ cao hơn so với các điểm du lịch khác, nhưng vẫn còn thấp và còn chưa
tương xứng với khu du lịch vì: khách tham quan trong ngày, ít lưu trú lại qua đêm và
thường có thói quen mang theo thức ăn trong các chuyến đi, ít sử dụng dịch vụ tại
điểm du lịch dẫn đến mức chi tiêu của khách còn thấp. Sở dĩ có hiện tượng như vậy
vì giá cảđồăn uống và các dịch vụ tại các điểm du lịch còn ở mức cao vượt quá khả
năng chi trả của người khách. Điều kiện ăn uống còn chưa đảm bảo, không phù hợp
với khẩu vị của khách. Điều này làm cho doanh thu của doanh nghiệp mất đi một
phần đáng kể từ dịch vụ cho thuê phòng, dịch vụăn uống và các dịch vụ khác vừa gây

% 8.6 8.9 9.4 8,7 9.0 100% 101%
(Nguồn: Sở Du lịch Hà Tây)
Nhận xét:
Nhìn vào bảng ta thấy số nộp ngân sách của chùa Hương từ năm 1998-2000
tăng nhanh nhưng đến năm 2002 thì tình hình nộp ngân sách giảm chỉđạt 4,23
tỷđồng; giảm 8% so với năm 2000 và giảm 9.9 % so với kế hoạch năm 2002.
Mặc dù tình hình nộp ngân sách Du lịch của toàn tỉnh là tăng. Đây là tình trạng đáng
lo ngại đối với hoạt động Du lịch tại khu vực chùa Hương. Do đó, toàn ngành Du lịch
tỉnh Hà Tây đặc biệt là huyện MỹĐức cần có biện pháp đầu tư, quản lý phát triển du
lịch để thu hút khách, tăng tổng doanh thu để tăng nhanh nguồn thu ngân sách của
khu vực và toàn ngành nói chung và tỉnh nói riêng. Ngoài ra chính biện pháp quản lý
còn lỏng lẻo, nhiều cán bộ chỉ vì lợi ích trước mắt đã giúp những hộ kinh doanh chốn
thuế. Nhiều cán bộ làm ở bộ phận gác cổng đã cấu kết với những người làm nghề môi
25

Trích đoạn Tình hình nộp ngân sách của chùa Hương trong một số năm Cơ sở phục vụ lưu trú. Cơ sở phục vụ dịch vụăn uống. Nguồn nhân lực. Y tế, bảo hiểm.
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status