LỜI NĨI ĐẦU
Chùa Hương! hai tiếng ấy dường như đã q đỗi gần gũi mà thiêng liêng
với tất thảy mỗi người Việt Nam, để rồi:
"Chẳng đi thì nhớ thì thương
Ra đi mến cảnh chùa Hương khơng về"
Nhưng Hương Sơn khơng chỉ là một chốn non kỳ thuỷ tú, là danh thắng biệt
chiếm "nhất Nam thiên". Mà nơi đây còn là cội nguồn của các tín ngưỡng dân
gian, là cõi tâm linh huyền ảo, một trong những trung tâm lớn nhất của Phật giáo
Việt Nam đương đại. Theo như Phật tích còn lưu lại cho đến nay thì đây là nơi lưu
dấu Đức Quan Thế Âm Bồ Tát ứng thân làm cơng chúa Diệu Thiện con vua Diệu
Trang Vương đã tẩy bụi trần tại suối Giải Oan rồi tu hành đắc đạo tại Hương Tích
Bảo Động, trở thành bà mẹ độ lượng, bao dung cho mọi sinh linh mà ngày nay
linh tượng của người còn lưu lại ở nơi đây mà dân gian vẫn gọi là Bà Chúa Ba.
Theo những tư liệu lịch sử cho thấy chùa Hương có thể đã ra đời từ thời Lê
Thánh Tơng niên hiệu Quang Thuận thứ 8 (1476). Khi đi tuần phú phương Nam
ngài đã nghỉ ở chốn này và cho đến khi Tĩnh đơ vương Trịnh Sâm xa giá đến đây
vào năm Canh Dần (1770) thì ơng đã khẳng định đây chính là "Nam Thiên đệ nhất
động" và cho tạc vào cửa động dòng chữ này.
Để rồi cùng với tạo hố, con người đã góp cơng cho chùa Hương trở thành một
quần thể kiến trúc nguy nga tráng lệ giữa ngàn non mà có "cao chất ngất mấy tồ
cổ sối". Nhưng đáng tiếc thay, trải qua bao dâu bể thăng trầm giặc ngoại xâm bao
lần gây binh lửa can qua, xố đi bao cơng trình tú lệ. Nhưng khơng vì thế mà
"Hương Tích" ngớt hương thơm, ngược lại hàng năm chùa Hương vẫn rộng mở
thiền mơn đón hàng chục vạn chúng Phật tử hành hương về đất phật. Tạo ra một lễ
hội tơn giáo lớn và kéo dài bậc nhất ở nước Nam ta và cũng là lễ hội dài hiếm thấy
trên thế giới. Đây chính là cơ hội lớn cho ngành du lịch nước nhà, vì thế từ nhiều
năm nay khu danh thắng di tích Hương Sơn đã được đưa vào khai thác phục vụ
THƯ VIỆN ĐIỆN TỬ TRỰC TUYẾN
ngành du lịch, là một trong những địa chỉ quan trọng trên bản đồ du lịch Việt Nam.
Tuy nhiên cũng như hầu hết các điểm du lịch khác, nhiều tiềm năng của khu danh
“ Chùa Hương trời điểm lại trời tơ
Một bức tranh tình trải mấy thu
Xn lại xn đi khơng dấu vết
Ai về ai nhớ vẫn thơm tho”
THƯ VIỆN ĐIỆN TỬ TRỰC TUYẾN
Theo Quy hoạch tổng thể phát triển Việt Nam nói chung và Quy hoạch tổng
thể phát triển Du lịch Hà Tây nói riêng thời kì 1995 ( 2010 đã xác định Chùa
Hương là điểm Du lịch quan trọng có ý nghĩa quốc gia và Quốc tế ở khu Du lịch
Bắc Bộ. Do cách Hà Nội khơng xa và tương đối thuận lợi trong giao thơng, chùa
Hương là một trong những điểm du khách quốc tế quan tâm hàng đầu khi đặt chân
đến thủ đơ Hà Nội.
Tuy nhiên, việc khai thác các hoạt động du lịch ở Chùa Hương thực sự vẫn
chưa tương xứng với những tiềm năng to lớn về tài ngun nhân văn và tự nhiên
của khu vực. Trong những năm gần đây đã xuất hiện nhiều vấn đề cần quan tâm
nghiên cứu một cách nghiêm túc trước những thực trạng đang đặt ra đối với vấn đề
phát triển của khu du lịch. Một trong những vấn đề bức xúc kìm hãm sự phát triển
của Chùa Hương là cho đến nay khu Du lịch thắng cảnh chùa Hương vẫn chưa tìm
được mơ hình quản lý phù hợp làm cơ sở cho sự phát triển của khu vực.
Việc xây dựng một mơ hình quản lý khai thác tài ngun khu Du lịch chùa
Hương là một u cầu cấp thiết mang ý nghĩa lý luận và thực tiễn cao khơng chỉ
đối với sự phát triển của du lịch Hà Tây mà còn góp phần tích cực cho sự nghiệp
phát triển kinh tế - xã hội của địa phương. Ngồi ra, sự phát triển bền vững của khu
Du lịch thắng cảnh chùa Hương còn đáp ứng được u cầu chiến lược, phát triển
trung tâm Du lịch Hà Nội và phụ cận, cũng như của vùng Bắc Bộ và Du lịch cả
nước.
Với những lý do trên, được sự giúp đỡ tận tình của TS. Trần Nhạn cùng các
thầy cơ giáo khoa Văn hố du lịch trường ĐH Văn Hố, ban lãnh đạo, các chun
viên tại Sở du lịch Hà Tây em đã mạnh dạn chọn vấn đề:
“ Xây dựng mơ hình quản lý khai thác khu du lịch Chùa Hương”
làm đề tài nghiên cứu cho khố luận tốt nghiệp của mình.
thu nhập số liệu (thứ cấp, sơ cấp), phương pháp khảo sát thực địa, thống kê, phân
tích, tổng hợp.
THƯ VIỆN ĐIỆN TỬ TRỰC TUYẾN
5. KT CU CA TI
Ngoi phn m u v kt lun ti nghiờn c b cc lm 3 chng:
Chng 1: Khỏi quỏt v khu Du lch chựa Hng.
Chng 2: Thc trng phỏt trin Du lch v t chc qun lý khai thỏc ti
nguyờn khu Du lch chựa Hng.
Chng 3: Mt s kin ngh xõy dng mụ hỡnh qun lý khai thỏc ti nguyờn
khu Du lch chựa Hng.
B. PHN NI DUNG
CHNG I
KHI QUT V KHU DU LCH CHA HNG
1.1. V TR A Lí CA KHU DU LCH CHA HNG
Khu Du lch thng cnh chựa Hng bao gm phõn gii hnh chớnh ca 4 xó
Hng Sn, An Tin, Hựng Tin v An Phỳ thuc huyn M c tnh H Tõy, vi
din tớch 5131 ha.
Khu Du lch chựa Hng nm trong to a lý t 20
0
29' n 20
0
24' v
Bc v 105
0
41' kinh ụng. Phớa Nam giỏp tnh Nam H, phớa Bc v ụng
thuc tnh H Tõy, phớa Tõy giỏp tnh Ho Bỡnh. Khu Du lch thng cnh chựa
chiều sâu lịch sử và bề dầy truyền thống văn hố đã tơ bồi cho vùng thiên nhiên
hùng vĩ này một bức tranh “kỳ sơn tú thuỷ”. Dãy núi đã bị sự xâm thực lâu đời của
thiên nhiên nên mạch nước kht núi đã tạo thành nhiều hang động với nét đẹp tự
nhiên.
Năm 1687 hồ thượng Trần Đạo Viên Quang mới chống thiền trượng hoằng
truyền và xiển dương đạo Phật khiến vùng này trở thành nơi linh sơn phúc địa.
THƯ VIỆN ĐIỆN TỬ TRỰC TUYẾN
Đến đầu năm 1947 chùa Hương đã trải qua 9 đời tổ sư nối tiếp xây dựng và
ln được sự ủng hộ của thiện tín mn phương và nhân dân sở tại. Ngày
17/02/1947 giặc Pháp đã tàn phá Thiên Trù và Tiên Sơn nhưng sau hồ bình lập lại
với sự chỉ đạo của nghành văn hố và chủ trương đúng đắn của nhà nước, thắng
cảnh chùa Hương khơng những được khơi phục mà ngày càng được mở rộng và
phát triển đến hơm nay.
1.3. TÀI NGUN DU LỊCH CHÙA HƯƠNG.
Tồn bộ khu thắng cảnh là một bức tranh tồn mỹ cả về bố cục lẫn màu sắc,
nội dung và đường nét. Âm hưởng chính của bức tranh ấy là sự hồ quện của đạo
với đời, của thiên nhiên hoang sơ với bóng dáng con người. Hàng năm Chùa
Hương đón tiếp đơng đảo nhân dân ở các mọi miền đất nước, kiều bào ở nước
ngồi và khách quốc tế đến thăm. Trong tâm trí của mỗi người dân Việt Nam, Chùa
Hương được coi là báu vật của quốc gia, một tài sản vơ giá của hơm qua, hơm nay
và mai sau.
Đây là nơi hội tụ của những giá trị to lớn về tài ngun du lịch tự nhiên và
nhân văn đã khiến Chùa Hương trở thành điểm du lịch nổi tiếng trong và ngồi
nước.
1.3.1. Tài ngun Du lịch tự nhiên.
1.3.1.1. Vị trí địa lý.
Vị trí địa lý của Du lịch chùa Hương có lợi thế hơn hẳn các điểm Du lịch
khác. Từ thủ đơ Hà Nội hoặc các tỉnh đồng bằng có thể liên hệ thuận tiện với khu
Du lịch bằng đường bộ, đường sơng. Ngồi ra, nơi dừng chân của khách quốc tế ở
khu vực phía Bắc thường là Hà Nội nên chùa Hương chính là điểm thu hút khách
chiều dài từ 20-25m, cao 10-15m.
Hệ thống núi ở đây khơng chỉ đẹp ở chiều cao mà còn đẹp ở chiều dầy,
chiều rộng ở các quần tụ bố cục nhịp nhàng giữa núi với núi và núi với nước.
Những dãy núi ở đây đều có hình dáng độc đáo và có ý nghĩa ở chốn cửa phật như
THƯ VIỆN ĐIỆN TỬ TRỰC TUYẾN
núi mâm xơi với hình ảnh mâm xơi con gà hay núi voi phục mang vẻ đẹp tự nhiên
của tạo hố.
Đánh giá chung về địa hình, địa mạo khu vực Chùa Hương cho thấy đây là
nơi có địa hình núi thấp xâm thực nhưng nằm ngay cạnh đồng bằng, có phong cảnh
“sơn thuỷ hữu tình” có lợi thế rất lớn về mức độ hâp dẫn du khách.
1.3.1.3. Khí hậu, thời tiết.
Khí hậu thời tiết ln là yếu tố ảnh hưởng lớn tới khách du lịch. Chính khí
hậu tạo ra từng loại thời tiết và định ra mùa du lịch. Khu du lịch chùa Hương nằm
hồn tồn trong vành đai khí hậu nóng, hàng năm có hai lần mặt trời đi qua thiên
đỉnh.
Đặc biệt với lễ hội chùa Hương thì thời tiết mùa xn là quan trọng vì nó
trực tiếp tác động tới hoạt động của lễ hội. Thòi tiết mùa xn với nhiệt độ dễ chịu
16-20
0
C. Mặt trời chuyển dịch lên cao,nắng xn ấm dịu. Mưa chủ yếu là mưa bay,
mưa bụi, mưa phùn lên một màn trắng hư ảo, mong manh trước cổng chùa và trên
cả núi rừng Hương Sơn. Đó là yếu tố thuận lợi cho khách vì khách sẽ cảm thấy bầu
khơng khí khác lạ, n tĩnh, tơn nghiêm, linh thiêng và phần nào bớt mệt khi leo
núi.
- Tổng nhiệt độ đạt từ 8000
0
C – 8500
0
C/năm. Nhiệt độ trung bình năm là
23.3
trung bỡnh
thỏng ( C)
Biờn ca t
0
trung bỡnh
( C)
Lng
ma trung
bỡnh nm
(mm)
1 Thớch nghi 8-24 24-27 <6 1250-1902
2 Khỏ thớch nghi 24-27 27-29 6-8 1900-2550
3 Núng 7-29 29-32 8-14 >2550
4 Rt núng 29-32 32-35 14-19 <1250
5 K
o
thớch nghi >32 >35 >19 <650
(Ngun : Vin nghiờn cu v phỏt trin du lch)
Qua bng s liu trờn v tỡnh hỡnh khớ hu khu du lch Chựa Hng ta thy
khớ hu õy thuc vo loi thớch nghi v khỏ thớch nghi, phự hp vi sc kho
con ngi. õy l mt trong nhng yu t hp dn thu hỳt khỏch du lch. Trờn c
s ú khu du lch cn khai thỏc trit khớa cnh ny, mt mt cng cn cú nhng
bin phỏp phũng chng nhng khú khn do khớ hu gõy ra nh nhit vo mựa hố
cao, cn cú nhng thit b chng núng trong nh ngh cho khỏch, hay trng nhiu
cõy ly búng mỏt v to cnh quan thờm p.
1.3.1.4. Thu vn.
THệ VIEN ẹIEN Tệ TRệẽC TUYEN
phc v cho khỏch du lch thỡ ngun nc úng vai trũ quan trng.
Ngun nc nh hng ti mụi trng sng cũn li trong khu vc v phc v cho
dãy “Hạ Long cạn” của hệ thống đồi núi sót nổi lên giữa trung tâm Bắc Bộ. Là
vùng chuyển tiếp giữa hệ thống đồi núi đá vơi từ Tây Bắc qua Hồ Bình, và bên kia
là thềm đồng bằng châu thổ sơng Hồng, nên mặc dù có diện tích khơng lớn (5000
ha) nhưng có sự phân hố mạnh mẽ của địa hình thổ nhưỡng. Điều này đã tạo cho
khu du lịch nhiều danh lam thắng cảnh, đặc biệt là hệ thống hang động trong các
núi đá vơi.
Với tổng diện tích đất của vùng trên 5000 ha bao gồm 2 dãy núi đá vơi
chính, kẹp giữa là thung lũng suối Yến, ngồi ra còn có các đồng bằng và các khu
dân cư. Khu du lịch thuộc vùng núi và rừng núi còn rất thấp do chặt phá rừng bừa
bãi. Đất chưa sử dụng ở Hương Sơn chiếm tới 53%, đất cho nơng nghiệp chiếm
24.5% . Điều này chứng tỏ tài ngun đất ở đây đang được sử dụng một cách lãng
phí.
* Sinh vật
Sinh vật của khu Du lịch chùa Hương có diện tích 5130 hecta là một quần
thể núi rừng, núi đá ngun sinh những thảm thực vật đa dạng phong phú. Rừng
của huyện Mỹ Đức thuộc rừng kín thường xanh, mưa ẩm nhiệt đới. Diện tích rừng
tồn huyện là 694 hecta bao gồm rừng tự nhiên và rừng thường.
Trước hết, khu vực này là nơi giao thoa của ba luồng thực vật : Bẵc - Việt
Nam - Indonêxia, Skim - Malayxia nên hệ thực vật khá đa dạng với đặc trưng cho
hệ thực vật đá vơi ở vùng thấp.
Theo điều tra thống kê sơ bộ thì nơi đây có khoảng 350 lồi thảo mộc, thuộc
92 họ. ở đây có 6 ngành thực vật bặc cao đó là ngành lá thơng, ngành tháp bút,
ngành thơng đất, ngành dương xỉ, ngành hạt trần, ngành hạt kín. Trong rừng có
nhiều loại gỗ q như : lát hoa, thơng. bắch, lim …Có những cây cổ thụ sống lẻ
loi như cây sang (hoa phớt vàng, quả giống quả bồ kết). Tuy nhiên cây ở đây phần
THƯ VIỆN ĐIỆN TỬ TRỰC TUYẾN
ln l cõy th sinh :d, gai, mung,cõy dõy leo. Nhiu nht l cõy Quch. Cng cú
nhiu cõy lm thuc nh cõy rng vng cha bnh lnh xng, c khỳc cha
bnh tờ thp, c sõm lm thuc b....Ngoi ra cú mt lp ph thc vt dy c mc
cỏc ngn nỳi nh lan, c tranh, c vụng....to nờn mt bc tranh thiờn nhiờn to
cơng việc còn chưa nhiều. Nhiều gia đình tới lễ hội trong tâm hồn thanh thản hy
vọng một ngày mai tốt đẹp hơn. Đặc biệt đây là thời điểm vẫn còn dư âm của đầu
năm con người vẫn quyến luyến sức xn tươi đẹp
Như vậy, khu Du lịch chùa Hương là khu vực có tiềm năng tài ngun du
lịch tự nhiên dồi dào nếu được quan tâm thích đáng và việc quản lý khai thác hợp
lý thì chắc chắn nơi đây sẽ là điểm Du lịch hấp dẫn của nước ta và nổi tiếng trên
thế giới.
1.3.2. Tài ngun Du lịch nhân văn.
Huyện Mỹ Đức là một vùng văn hố đặc sắc với các lễ hội và nếp sống thuần
khiết của nơng thơn Việt Nam đặc biệt là vùng phía Nam huyện Mỹ Đức là một
chiếc nơi văn hố, cội nguồn tâm linh và đạo lý cổ truyền dân tộc. Một vùng đất
Phật trong lành nhiều huyền thoại, tín ngưỡng dân dã.
1.3.2.1. Lễ hội chùa Hương.
Lễ hội chùa Hương là tài ngun nhân văn thu hút du khách khơng kém gì tài
ngun thiên nhiên mà điêù hấp dẫn khách nước ngồi khi đến Việt nam là các lễ
hội. Đến đây họ có thể tìm hiểu về văn hố, tập tục, tín ngưỡng....của dân tộc ta.
Trong dịp hội hàng năm đã có tới 4 - 5 chục vạn lượt người về đây vãn cảnh hành
hương về miền đất Phật. Người chưa đi thì mong mỏi sẽ đi, người đi rồi thì vẫn
muốn đi nữa vì say mê với cảnh “ hương trời sắc núi , cảnh bụt trời tiên”.
Hội chùa Hương hàng năm được tổ chức bắt đầu tưừ ngày mùng 6 tháng 2 và
kéo dài đến hết tháng 3 âm lịch. Đây là lễ hội kéo dài nhất và thu hút lượng khách
đơng nhất trên tồn quốc. Lễ hội tập chung vào dịp đầu xn khi cơng việc còn
chưa bận rộn và mọi người đang còn trong khơng khí vui xn của ngày tết. Hội
THƯ VIỆN ĐIỆN TỬ TRỰC TUYẾN
Chùa Hương có từ xa xưa là nơi hội tụ các sinh hoạt văn hố độc đáo như hội bơi
thuyền, leo núi, hát văn....Đến với lễ hội du khách có được dịp chứng kiến tham dự
vào khơng khí sinh hoạt của hội làng, cảm nhận được tinh thần hồi âm về q khứ
của tổ tiên của một làng ven sơng kề núi, sẽ thấy hiện ra bóng dáng lịch sử dân dân
tộc. Ngồi ra, quanh năm khu du lịch chùa Hương còn hấp dẫn khách trong và
ngồi nước đến để chiêm ngưỡng và tìm hiểu văn hố, tập tục tín ngưỡng của dân
khắc lên trước cửa động : “Nam thiên đệ nhất động”. Khơng chỉ có những vẻ đẹp
của thiên nhiên tạo hố ban cho mà còn có những cơng trình điêu khắc tuyệt đẹp.
Giá trị nhất về mặt điêu khắc ở đây là pho tượng Phật Bà Quan Âm bằng đá xanh
tạc vào thời Tây Sơn vào năm Q Sửu (1873). Khác với ớc lệ có sãn về tượng
phật Bà mặt vàng tai to...mà một phần dựa vào chân dung của bà Chúa Ba một
phần rút từ những nét đẹp của con người nên pho tượng có dáng người thon, mặt
hơi trái xoan, thanh tú đầu đội mũ l (mũ Bồ Tát ) lại búi tóc tạo nét đặc sắc riêng
thu hút khách du lịch. Phật hiện thân trong tín ngưỡng thờ đá, dân quen gọi là Bụt
mọc. Sức mạnh huyền diệu của Phật Pháp đồng nhất với linh hồn thiêng liêng trong
những măng đá, nhũ đá có hình thù kỳ lạ sẽ truyền cho các tín đồ niềm tin,sản sinh
sinh ra năng lượng, tăng thêm sức mạnh cho mỗi người. Chốn cảnh bồng lai lại
xuất hiện khát vọng rất phồn thực của con người cầu mong sự sinh sơi nảy nở ước
muốn đầy đủ. Dưới góc độ văn hố dân gian, chùa Hương mang màu sắc cầu may
(cầu may trong làm ăn, cầu con cái) ....
1.3.2.3. Các di tích khảo cổ.
Các di tích khảo cổ học tiền sử và sơ sử ở Chùa Hương bao gồm một số di
tích thuộc văn hố Hồ Bình cách đây trên dưới một vạn năm và một số địa điểm
thuộc thời đại đồ Đồng. Những di tích khảo cổ học này mới được phát hiện trong
thời gian hơn chục năm trở lại đây, vả lại, nó chủ yếu nằm trên một tuyến chùa
thuộc tuyến Long Vân Đục Khê (còn gọi là chùa Hinh Bồng mới bến Đục Khê hay
THƯ VIỆN ĐIỆN TỬ TRỰC TUYẾN
chùa Hinh Bồng cũ bến Yến Vĩ) nên cũng mới chỉ một số ít người biết tới và cũng
chưa được tổ chức để đơng đảo khách tới tham quan các di tích khoa học này.
- Hang Sũng Sàm: được khai quật tháng 3 năm 1975 do đồn khảo cổ khoa
sử trường Đại học Tổng hợp.
- Hang chùa Mới: hang này đã bị cải tạo song trên vách hang còn sót lại lớp
trầm tích sét vơi bở vụn, ở đây đã tìm thấy di tích xương thú, vỏ nhuyễn thể và
một cái chầy nghiền bằng đá.
- Hang Sập Bon: là một di tích dưới mái đá nhỏ thuộc núi Bon là một quả
núi lẻ nằm phía ngồi chùa Long Vân.
1.4. CÁC LOẠI HÌNH DU LỊCH Ở KHU DU LỊCH CHÙA HƯƠNG.
Khu Du lịch chùa Hương là nơi hội tụ những giá trị to lớn về tài ngun Du
lịch thiên nhiên và nhân văn vơ cùng hấp dẫn với khách du lịch. Tuy nhiên, tài
ngun Du lịch dồi dào đó còn chưa được khai thác để có hiệu quả cao. Từ trước
tới nay, ngồi Du lịch lễ hội là loại hình Du lịch tham quan đã được áp dụng những
chủ yếu là tham quan các di tích văn hố, chùa, đình gắn liền với truyền thuyết Phật
giáo của vùng này mà chưa khai thác được những thế mạnh sẵn có mà thiên nhiên
ưu đãi bằng cách phát triển đa dạng các loại hình du lịch, các tuyến du lịch phong
phú và hấp dẫn. Dựa vào các tài ngun Du lịch của khu vực, kết hợp với việc bảo
vệ mơi trường, cảnh quan và coi trọng giá trị tinh thần (ý nghĩa tâm linh của khu
vực), có thể xây dựng những loại hình du lịch với các mục đích sau:
1.4.1. Du lịch lễ hội.
Trong hình thức này mục đích chủ yếu đi sâu vào thực hành tơn giáo, tín
ngưỡng của đạo Phật. Khách đi lễ hội phần lớn để cầu tài, cầu lộc, cầu tự, sám hối
cho gia đình và bản thân được thanh thản trước cử Phật.
1.4.2. Du lịch tham quan.
Là hoạt động Du lịch nhằm đáp ứng được nhu cầu mong muốn được tìm hiểu
nâng cao nhận thức của con người tại các khu vực khác nhau trong khu du lịch.
THƯ VIỆN ĐIỆN TỬ TRỰC TUYẾN
- Khu vc 1: Ti cỏc vựng nh nỳi ỏ vụi vi h sinh thỏi rng th sinh tuy
cỏc cõy g ln ó ớt nhiu b cht phỏ nhng sinh cnh rng vn rt thớch hp phc
v du khỏch cú nhu cu quan sỏt, tham quan, nghiờn cu sinh cnh rng.
- Khu vc 2: Ti cỏc vựng nh nỳi ỏ vụi vi h thng sinh thỏi cõy bi b
hoang cú th to quang cnh p va phc v tham quan ngm cnh v thng
thc nhng c sn ca vựng ỏ vụi nh: m, mn,... Khu du lch ny khụng ch
tng sc hp dn thu hỳt khỏch m cũn em li hiu qu kinh t cao
- Khu vc 3: Ti cỏc vựng cú b mt nh khỏ bng phng cựng li th dỏng
v cheo leo v tm quan sỏt rng ngm nhỡn tri t bao la ngm ban mai, hong
hụn cựng hỡnh nh cỏc s gia ngi thin nhp o cỏc bói ỏ bng phng
giỳp du khỏch hiu bit thờm v o Pht vi tim thc tr li vi ci ngun.
2.1. THỰC TRẠNG PHÁT TRIỂN Ở KHU DU LỊCH CHÙA HƯƠNG
2.1.1. Khách du lịch
2.1.1.1. Lượng khách
- Hàng năm cứ vào mùa hội có tới bốn- năm chục vạn người về đây vãng
cảnh. Khách du lịch tới chùa Hương bao gồm khách Quốc tế và khách nội địa với
mục đích chung là tham dự lễ hội, hành hương, tham quan thắng cảnh chùa Hương.
Lượng khách đến Chùa Hương theo thời gian không ngừng tăng lên điều đó khẳng
định vị thế của khu vực Chùa Hương trên bản đồ du lịch Hà Tây nói riêng và Du
lịch cả nước nói chung.
Bảng 3 : Lượng khách tới chùa Hương từ 1998-2002
(Đơn vị tính: nghìn người)
Nội Dung
Năm 1997 Năm 1998 Năm 1999 Năm 2000 Năm 2002
NĐ QT NĐ QT NĐ QT NĐ QT NĐ QT
Chùa
Hương
LK 250,0 6,75 262,0 8,0 387,0 8,0 380,1 22,9 396,3 23,0
% 97.3 2.7 87.8 2.2 98 2 94.4 5.6 94.2 5.8
Hà Tây
LK 373,0 45 388,8 46,0 1.135 55,6 1.148 84,91 1.415 85,0
% 98.8 1.2 94.8 5.2 95.2 4.8 93.1 6.9 94.3 5.7
(Nguồn: Sở Du lịch Hà Tây)
Nhìn vào kết quả trên ta thấy tổng lượng khách đến chùa Hương từ năm
1997 – 2002 có tăng nhưng không đều; Tổng lượng khách đến chùa Hương năm
1999 tăng mạnh đạt 395.000 lượt khách, tức tăng 125.000 lượt khách tương đương
146%và tăng đều năm 2000. Năm 2002 lượng khách quốc tế và khách nội địa tăng
không đáng kể so với năm 2000. Tổng lượng khách năm 2002 chỉ đạt 419.300 lượt
THÖ VIEÄN ÑIEÄN TÖÛ TRÖÏC TUYEÁN
+ Khỏch n vi mc ớch tớn ngng hon ton: 78%.
+ Khỏch n vi mc ớch tham quan du lch: 19%.
+ Khỏch n vi mc ớch khỏc: 03%.
Theo kt qu kho sỏt cho thy lng khỏch n chựa Hng chim t l ln
so vi lng khỏch n vi H Tõy. Trong s ny hu ht l nhng ngi hnh
hng tớn ngng, vi cỏc thnh phn nhng ngi gi, thng nhõn, hc sinh,
sinh viờn n cu ti, cu lc, cu an cho gia ỡnh v bn thõn. Trong ú, khỏch
thng i theo 3 tuyn chớnh:
+ ng Hng Tớch: 100%
+ Chựa Tuyn Sn: 40%
+ Chựa Long Võn: 35%
- Khỏch ti chựa Hng ch yu l khỏch trong ngy, mt s ớt khỏch xa
thỡ lu li qua ờm (2%) ch yu ngh li cỏc nh tr bỡnh dõn.
2.1.2. Doanh thu.
Do lng khỏch n chựa Hng chim phn ln tng lng khỏc n H
Tõy nờn doanh thu ti khu vc ny chim mt t l cao so vi tng doanh thu ca
ton ngnh Du lch tnh H Tõy.
Bng 4 : Tỡnh hỡnh doanh thu ca chựa Hng nm 1998-2001.
Ni dung VND 1997 1998 1999 2000 2002
2002 So vi
2000 (%)
Tng Doanh thu
Triu 65.000 72000 82000 83723 96439 115
Doanh thu t
DNNN
Triu 27690 29570 35629 39000 40870 109
THệ VIEN ẹIEN Tệ TRệẽC TUYEN
nghip mt i mt phn ỏng k t dch v cho thuờ phũng, dch v n ung v cỏc
THệ VIEN ẹIEN Tệ TRệẽC TUYEN